1
CHÍNH PHỦ
ĐỀ ÁN
ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH, SÁCH GIÁO KHOA
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
MỤC LỤC
NỘI DUNG TRANG
MỞ ĐẦU 4
Phần thứ nhất: MỤC TIÊU ĐỀ ÁN 5
Phần thứ hai: PHẠM VI ĐỀ ÁN 6
Phần thứ ba: NỘI DUNG ĐỀ ÁN 6
I. CƠ SỞ XÁC ĐỊNH NGUYÊN TẮC VÀ NỘI DUNG ĐỔI MỚI
CHƯƠNG TRÌNH, SÁCH GIÁO KHOA
6
1. Kết quả tổng kết đánh giá việc thực hiện đổi mới chương trình
theo Nghị quyết 40 và những bất cập của chương trình hiện hành
so với Nghị quyết 29
6
2. Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng, phát triển và quản lý phát triển
chương trình; biên soạn và sử dụng sách giáo khoa, tài liệu dạy học
16
II. NGUYÊN TẮC ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH, SÁCH GIÁO KHOA 18
III. NỘI DUNG ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH, SÁCH GIÁO KHOA 19
1. Đổi mới mục tiêu cơ bản của giáo dục từ tập trung vào trang bị
kiến thức, kỹ năng sang phát triển phẩm chất và năng lực người
học, đảm bảo hài hoà giữa “dạy chữ”, “dạy người” và định hướng
nghề nghiệp
19
2. Nội dung chương trình phải đảm bảo chuẩn hoá, hiện đại hoá, hội
nhập quốc tế; đảm bảo tính hoàn chỉnh, linh hoạt, liên thông
3. Dự toán kinh phí 32
VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ ÁN 33
1. Lộ trình thực hiện 33
2. Trách nhiệm của các bộ, ngành và các cơ quan 34
Phụ lục 1: Dự thảo NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA CHƯƠNG TRÌNH
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỔNG THỂ
37
Phụ lục 2: Dự thảo CHUẨN ĐẦU RA VỀ PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC
CHUNG CỦA CÁC CẤP HỌC
58
Phụ lục 3: Dự thảo NỘI DUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO 72
Phụ lục 4: DANH MỤC CÁC ĐỀ ÁN TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH
HÀNH ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN
NGHỊ QUYẾT 29 (BAN HÀNH KÈM THEO NGHỊ QUYẾT 44)
75
Phụ lục 5: DỰ TOÁN KINH PHÍ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN 78
3
MỞ ĐẦU
Chương trình giáo dục phổ thông (sau đây viết tắt là chương trình) và
sách giáo khoa hiện hành được xây dựng, biên soạn theo Nghị quyết số
40/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội khoá X về đổi mới
chương trình giáo dục phổ thông (sau đây viết tắt là Nghị quyết 40) và đã được
thực hiện trên phạm vi toàn quốc từ năm học 2002 - 2003 đến nay (năm 2014).
Chương trình, sách giáo khoa hiện hành có một bước tiến rõ rệt so với
chương trình, sách giáo khoa trước đó; góp phần từng bước đổi mới sự nghiệp
giáo dục; đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn vừa qua.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, chương trình, sách giáo khoa hiện
hành vẫn còn những hạn chế và bộc lộ nhiều bất cập trước những đòi hỏi mới của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa
học - công nghệ và xu thế đổi mới nhanh chóng chương trình giáo dục phổ thông
Phần thứ ba: Nội dung Đề án
I. Cơ sở xác định nguyên tắc và nội dung đổi mới chương trình, sách giáo khoa
II. Nguyên tắc đổi mới chương trình, sách giáo khoa
III. Nội dung đổi mới chương trình, sách giáo khoa
IV. Nhiệm vụ, giải pháp
V. Khái toán kinh phí thực hiện Đề án
VI. Tổ chức thực hiện Đề án
Kèm theo Đề án có các phụ lục:
- Phụ lục 1: Dự thảo Những nội dung chính của chương trình giáo dục
phổ thông tổng thể
- Phụ lục 2: Dự thảo Chuẩn đầu ra về phẩm chất và năng lực chung của các
cấp học
- Phụ lục 3: Dự thảo Nội dung về hoạt động trải nghiệm sáng tạo
- Phụ lục 4: Danh mục các Đề án triển khai chương trình hành động của Chính
phủ triển khai thực hiện Nghị quyết 29 (ban hành hành kèm theo Nghị quyết 44).
- Phụ lục 5: Dự toán kinh phí thực hiện Đề án
Phần thứ nhất
MỤC TIÊU ĐỀ ÁN
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, Nghị quyết 29 và
Nghị quyết 75; triển khai Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện
Nghị quyết 29 ban hành kèm theo Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09 tháng 6
năm 2014 của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 44) và Chiến lược phát
triển giáo dục 2011 - 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày
13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ (sau đây gọi tắt là Chiến lược
phát triển giáo dục 2011 - 2020).
Ban hành chương trình và sách giáo khoa mới đáp ứng yêu cầu tập trung
phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân; phát hiện
và bồi dưỡng năng khiếu; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng
giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực
thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn; phát triển khả năng sáng tạo, tự
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (năm 2013); đánh giá kết quả thực
hiện chương trình thông qua thực hiện nhiệm vụ năm học hằng năm của các sở
giáo dục và đào tạo…
Thực hiện Nghị quyết 75, sau nhiều hội thảo chuyên đề về các nội dung
cụ thể khác nhau, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức hội nghị tổng kết đánh giá
việc thực hiện đổi mới chương trình theo yêu cầu của Nghị quyết 40, khẳng định
những kết quả và thành công; rút ra những bài học kinh nghiệm, đồng thời chỉ ra
những bất cập của chương trình, sách giáo khoa hiện hành so với yêu cầu của
Nghị quyết 29 làm cơ sở xác định nguyên tắc và nội dung đổi mới chương trình,
sách giáo khoa giai đoạn sau năm 2015.
6
Sau đây là tóm tắt kết quả tổng kết đánh giá việc thực hiện đổi mới chương
trình theo yêu cầu Nghị quyết 40, những bất cập của chương trình hiện hành so
với yêu cầu của Nghị quyết 29 và những bài học kinh nghiệm được rút ra.
1.1. Những kết quả đạt được so với yêu cầu của Nghị quyết 40
a) Chương trình, sách giáo khoa hiện hành cơ bản đã được đổi mới theo
tinh thần Nghị quyết 40, đáp ứng được yêu cầu về mục tiêu giáo dục, chuẩn kiến
thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức
tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn
học, lớp học, cấp học giáo dục phổ thông được quy định trong Luật Giáo dục năm
2005. Chương trình đã kế thừa và phát huy được những ưu điểm cơ bản của các
chương trình trước, phù hợp với xu hướng quốc tế về phát triển chương trình.
b) Chương trình đã chú ý giáo dục toàn diện các mặt đạo đức, trí tuệ, thể
chất, thẩm mỹ, các kỹ năng cơ bản của học sinh.
Chương trình các môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi cấp học đã xây
dựng được chuẩn kiến thức, kỹ năng làm căn cứ để biên soạn sách giáo khoa,
quản lý dạy học, đánh giá kết quả giáo dục; về cơ bản chuẩn kiến thức và kỹ
năng phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh.
Nhìn chung, nội dung giáo dục đảm bảo tính khoa học, cơ bản, hiện đại và
tiếp cận với trình độ các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới; đã chú ý
trình, sách giáo khoa.
- Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ; đời
sống nhân dân được cải thiện và hội nhập quốc tế đã tạo môi trường thuận lợi
cho việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa.
- Truyền thống hiếu học của dân tộc được phát huy mạnh mẽ, thể hiện
trong từng gia đình, từng dòng họ, từng địa phương, từng cộng đồng dân cư đã
góp phần không nhỏ vào việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa.
- Trong quá trình thực hiện đổi mới chương trình đã tổ chức nhiều đợt
đánh giá chất lượng và hiệu quả thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa;
kịp thời triển khai nhiều giải pháp để khắc phục hạn chế của chương trình, sách
giáo khoa, đồng thời phát triển chương trình và hoàn thiện sách giáo khoa.
1.2. Những hạn chế so với yêu cầu của Nghị quyết 40
a) Chương trình chưa đáp ứng được yêu cầu mới về hình thành và phát
triển năng lực của học sinh. Mục tiêu phát triển năng lực cá nhân nêu trong Luật
Giáo dục chưa được cụ thể hoá trong chương trình hiện hành; chương trình các
môn học chỉ xây dựng chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ mà chưa
xây dựng chuẩn đầu ra về phẩm chất và năng lực của học sinh; chưa đảm bảo sự
cân đối giữa “dạy chữ” và “dạy người”.
b) Trong một số môn học có những nội dung chưa đảm bảo tính hiện đại,
cơ bản, còn nặng tính hàn lâm, quá tải, chưa thiết thực với học sinh; việc tổ chức
các hoạt động giáo dục chưa được coi trọng; quan điểm tích hợp chưa được quán
triệt đầy đủ và chủ yếu chỉ mới thực hiện ở chương trình Tiểu học; chưa thực sự
đảm bảo tính liên thông giữa giáo dục phổ thông với giáo dục nghề nghiệp và
giáo dục đại học để thực hiện mục tiêu phân luồng sau trung học cơ sở và sau
trung học phổ thông.
c) Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, đánh giá kết quả
giáo dục mới chỉ là bước đầu. Phương pháp dạy học chủ yếu vẫn là truyền đạt một
chiều, học sinh thụ động ghi nhớ máy móc; thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo
dục còn lạc hậu.
d) Một số cuốn sách giáo khoa chưa cân đối giữa yêu cầu khoa học và yêu
thu hút những người giỏi làm nghề sư phạm.
- Những tác động khách quan làm tăng thêm những yếu kém bất cập của
giáo dục. Mặt trái của kinh tế thị trường đã có nhiều tác động tiêu cực đến giáo
dục. Nhu cầu học tập của nhân dân và đòi hỏi nâng cao chất lượng giáo dục
ngày càng cao trong khi khả năng đáp ứng của ngành giáo dục và trình độ phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước còn hạn chế. Trong xã hội, tâm lý khoa cử,
sính bằng cấp, bệnh thành tích vẫn chi phối việc dạy, học và thi.
1.3. Bài học kinh nghiệm của Việt Nam về đổi mới chương trình, sách
giáo khoa
a) Phải thường xuyên quán triệt nguyên tắc, quan điểm chỉ đạo của Đảng
và Nhà nước; tuân thủ Luật Giáo dục; tiếp thu những thành tựu của chương trình
9
trước đó và cập nhật kinh nghiệm của thế giới trong quá trình xây dựng và triển
khai chương trình.
Những điểm thành công, tiến bộ của chương trình hiện hành đều thể hiện
rõ chương trình đã quán triệt tinh thần đổi mới được nêu trong các nghị quyết
của Đảng, Nhà nước, Quốc hội; kế thừa, phát huy những ưu điểm của chương
trình trước đó và tiếp thu có chọn lọc chương trình của một số nước có nền giáo
dục tiên tiến trên thế giới. Tinh thần này được thể hiện một cách thường xuyên,
liên tục nhằm cập nhật và đáp ứng được những biến đổi nhanh chóng của đời
sống kinh tế - xã hội.
Ví dụ: Chương trình khi xây dựng đã tuân thủ Luật Giáo dục năm 1998.
Nội dung của Luật Giáo dục năm 1998 chưa quy định đầy đủ các thành tố của
chương trình. Cập nhật thành tựu của thế giới, quá trình xây dựng chương trình
từ năm 2000 theo Nghị quyết 40 đã đề xuất và hiện thực hoá khái niệm chương
trình bao gồm các thành tố của quá trình giáo dục: mục tiêu giáo dục; chuẩn kiến
thức, kỹ năng; nội dung giáo dục; phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục;
đánh giá kết quả giáo dục. Những thay đổi này là cơ sở để hoàn chỉnh quy định
về chương trình trong Luật Giáo dục năm 2005 và quán triệt, thể hiện đầy đủ
trong chương trình giáo dục phổ thông ban hành năm 2006.
khó khăn, thách thức đó cần phải kiên quyết thực hiện theo phương hướng đã đề
ra với lộ trình và các giải pháp phù hợp, có trọng tâm, trọng điểm trong từng
thời kỳ.
Ví dụ: Một trong những yêu cầu xây dựng và triển khai chương trình là
phải quán triệt tinh thần tích hợp và phân hoá. Đây là một vấn đề khó, cần phải
vượt qua những thách thức về trình độ của những người biên soạn chương trình,
sách giáo khoa; tâm lý chưa sẵn sàng và sự chuẩn bị chưa đầy đủ năng lực của
giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục… Chương trình hiện hành chưa vượt qua
được những thách thức đó, đặc biệt là ở trung học cơ sở và trung học phổ thông.
Nguyên nhân là do tư tưởng cầu toàn, muốn có thời gian để chuẩn bị về đội ngũ
và cơ sở vật chất của giáo dục phổ thông trong cả nước mà chưa đưa ra được
một lộ trình mang tính khả thi, đến nay vẫn chưa chuẩn bị được những điều kiện
đó. Tuy nhiên, trong những năm gần đây đã tiến hành thực nghiệm việc vận
dụng quan điểm tích hợp vào xây dựng và triển khai chương trình ở trung học cơ
sở như: thực nghiệm chương trình của mô hình trường học mới, xây dựng và
triển khai dạy học các chủ đề liên môn, nghiên cứu khoa học của học sinh theo
định hướng tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết những vấn
đề đặt ra trong thực tiễn; tổ chức nhiều “sân chơi” trí tuệ đáp ứng nhu cầu và
năng khiếu riêng của các học sinh khác nhau Các hoạt động thực nghiệm này
đã thành công và ngày càng được nhân rộng trong toàn quốc, là kinh nghiệm
cho việc tăng cường dạy học kết hợp tích hợp và phân hoá vì mục tiêu phát triển
phẩm chất và năng lực học sinh.
d) Phải luôn hướng tới mục tiêu giáo dục phổ thông bằng việc tôn trọng
và giải quyết hài hoà giữa tính phổ biến và tính đặc thù của chương trình giáo
dục, của các địa phương, cơ sở giáo dục.
Một trong những hạn chế cơ bản của chương trình hiện hành là chưa giải
quyết hài hoà giữa yêu cầu và điều kiện chung của toàn quốc với yêu cầu và
điều kiện riêng của mỗi địa phương, nhà trường; giữa mục tiêu chung của
chương trình mà mỗi môn học, hoạt động giáo dục phải tuân thủ với đặc thù
riêng về mục tiêu, phương pháp dạy học của chương trình từng môn học, hoạt
vận động “Kỷ cương, tình thương, trách nhiệm” ); tăng cường mối quan hệ
giữa nhà trường, gia đình, xã hội thông qua việc xây dựng và phát triển mô hình
trường học mới (VNEN) và trường phổ thông chất lượng cao, vừa đáp ứng nhu
cầu dịch vụ giáo dục cao của nhân dân, vừa tạo được cơ chế thu hút sự đóng góp
về trí tuệ, công sức, vốn đầu tư cho giáo dục của các lực lượng xã hội.
1.4. Những bất cập của chương trình, sách giáo khoa hiện hành so với
yêu cầu của Nghị quyết 29
a) Chương trình mới chú trọng việc truyền thụ kiến thức, chưa chú trọng
phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh
Nghị quyết 29 yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông nhằm
phát triển phẩm chất và năng lực người học, hài hoà đức, trí, thể, mỹ; dạy người,
dạy chữ và định hướng nghề nghiệp.
12
Chương trình hiện hành chưa xác định chuẩn đầu ra về phẩm chất và năng
lực học sinh; chương trình của từng môn học, hoạt động giáo dục chỉ xác định
mục tiêu cần đạt về kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ đối với học sinh.
Điều đó cũng thể hiện trong việc thiết kế nội dung, áp dụng hình thức và phương
pháp giáo dục, đánh giá chất lượng giáo dục.
b) Trong thiết kế chương trình, chưa xây dựng thành hai giai đoạn: giai
đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp
Nghị quyết 29 đề ra mục tiêu cụ thể của giáo dục phổ thông là bảo đảm
cho học sinh có trình độ trung học cơ sở có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng
yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải định
hướng nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng.
Muốn thực hiện được mục tiêu này thì nội dung giáo dục phổ thông phải được
xây dựng theo hướng tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hoá dần ở các lớp
học trên; giảm số môn học bắt buộc; tăng số môn học, chuyên đề học tập và hoạt
động trải nghiệm sáng tạo.
Trong chương trình, sách giáo khoa hiện hành, quan điểm tích hợp và
phân hoá chưa được coi trọng; việc tích hợp nội dung giáo dục vừa thiếu, vừa
chúng vẫn được thiết kế tương tự như các bộ môn văn hoá khác.
d) Việc thi, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục còn phiến diện, lạc hậu,
chưa hướng tới mục tiêu phát triển hài hoà phẩm chất và năng lực của học sinh
Nghị quyết 29 yêu cầu đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi,
kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục theo hướng coi trọng phát triển năng lực
học sinh. Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục cần từng bước theo các
tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công
nhận. Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối
kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh
giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội. Đổi mới phương
thức thi và công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông theo hướng giảm áp lực và
tốn kém cho xã hội mà vẫn bảo đảm độ tin cậy, trung thực, đánh giá đúng năng
lực học sinh, làm cơ sở cho việc tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp và giáo dục
đại học. Thực hiện đánh giá chất lượng giáo dục ở cấp độ quốc gia, địa phương
và đánh giá theo chương trình quốc tế để làm căn cứ đề xuất chính sách, giải
pháp cải thiện chất lượng giáo dục.
Nhìn chung, chưa triển khai đúng và đầy đủ về nội hàm và ý nghĩa của
hoạt động đánh giá chất lượng giáo dục. Thực trạng thi, kiểm tra và đánh giá kết
quả giáo dục về cơ bản chưa đạt được các yêu cầu nêu trên của Nghị quyết 29.
Theo tinh thần mới thì việc kiểm tra, đánh giá phải diễn ra thường xuyên, trong
suốt quá trình giáo dục, không chỉ đánh giá kết quả giáo dục mà điều quan trọng
là cần xác định kiểm tra, đánh giá cũng chính là phương pháp giáo dục, góp
phần làm nên kết quả giáo dục. Việc thi, kiểm tra và đánh giá hiện nay chỉ chú
trọng yêu cầu ghi nhớ kiến thức, chưa coi trọng vận dụng kiến thức, kỹ năng để
giải quyết các vấn đề thực tiễn; nặng về đo lường định kỳ kết quả học tập (thông
qua cho điểm), chưa coi trọng nhận xét của giáo viên để đánh giá sự tiến bộ và
khuyến khích học sinh vươn lên; chưa hướng dẫn học sinh tự đánh giá để kịp
thời điều chỉnh hoạt động dạy và học. Việc phối hợp giữa đánh giá của người
dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia
đình và của xã hội còn hạn chế; phương thức thi tốt nghiệp trung học phổ thông
đời của mọi người; chương trình giáo dục và sách giáo khoa phải phù hợp với
các vùng miền khác nhau của cả nước.
Thực trạng tổ chức thực hiện chương trình, sử dụng sách giáo khoa hiện
nay còn nhiều bất cập so với tinh thần đổi mới này. Luật Giáo dục quy định: Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình; duyệt và quyết định
chọn sách giáo khoa để sử dụng chính thức, ổn định, thống nhất trong giảng dạy,
học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông. Trên thực tế, cả nước chỉ có một bộ sách
giáo khoa. Điều này dẫn đến chưa huy động được sự sáng tạo phong phú của các
tổ chức, cá nhân vào việc viết các sách giáo khoa khác nhau như ở hầu hết các
nước hiện nay; sách giáo khoa không phù hợp với điều kiện cụ thể của một số
vùng, miền; hạn chế tính năng động, sáng tạo của giáo viên và học sinh. Nhà
trường, giáo viên, học sinh chưa có kinh nghiệm và thói quen lựa chọn, sử dụng
các sách giáo khoa khác nhau. Việc biên soạn sách giáo viên và sách bài tập
tương ứng với sách giáo khoa như hiện nay sẽ không phù hợp và không cần thiết
khi có nhiều sách giáo khoa khác nhau được biên soạn.
15
g) Khoa học giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục
Nghị quyết 29 yêu cầu quan tâm nghiên cứu khoa học giáo dục và khoa
học quản lý, tập trung đầu tư nâng cao năng lực, chất lượng, hiệu quả hoạt động
của cơ quan nghiên cứu khoa học giáo dục quốc gia.
Thực trạng nghiên cứu về phát triển chương trình giáo dục chưa đáp ứng
yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục theo tinh thần trên. Nhìn chung, tư duy
về giáo dục nói chung và về phát triển chương trình giáo dục nói riêng chậm đổi
mới, thiếu tính chuyên nghiệp, đồng bộ, kịp thời; hiệu quả đầu tư nghiên cứu
phát triển chương trình, sách giáo khoa chưa cao, các đề tài nghiên cứu và ứng
dụng các kết quả nghiên cứu chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, sách
giáo khoa. Cả nước chưa có đội ngũ chuyên nghiệp nghiên cứu và xây dựng
chương trình, sách giáo khoa.
2. Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng, phát triển và quản lý phát triển
chương trình; biên soạn và sử dụng sách giáo khoa, tài liệu dạy học
cấp trung học phổ thông với hình thức dạy học tự chọn theo tín chỉ khá phổ biến.
- Chương trình cấp tiểu học và chương trình cấp trung học cơ sở thường
quy định các môn học bắt buộc, đồng thời có một số hoạt động, chuyên đề tự
chọn. Ở cấp trung học phổ thông, đa số các nước phân luồng thành các loại hình
trường trung học nghề, trung học phổ thông kỹ thuật, trung học phổ thông nhằm
đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng, xu hướng nghề nghiệp của từng học sinh.
Chương trình dành cho loại hình trường trung học phổ thông thường có hai hình
thức tổ chức dạy học phân hoá là phân ban và tự chọn. Hiện nay, đa số các nước
tổ chức dạy học phân hoá theo hình thức tự chọn.
c) Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo
dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng chuyển từ hoạt động truyền
thụ kiến thức sang chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập linh hoạt,
đa dạng; thông qua đó học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức, hình thành
phương pháp học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, biết vận dụng sáng
tạo kiến thức, hình thành năng lực tư duy phản biện…
- Kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục không chỉ nhằm đánh giá về
kiến thức mà phải đánh giá đúng năng lực người học; đánh giá phải giúp hướng
dẫn, điều chỉnh cách dạy, cách học ngay trong quá trình giáo dục; đánh giá
bằng nhiều hình thức, kết hợp đánh giá quá trình với đánh giá định kỳ; sử dụng
kết quả đánh giá một cách hợp lý. Ngoài đánh giá năng lực của từng cá nhân
người học còn có đánh giá chất lượng giáo dục trên diện rộng (chất lượng giáo
dục của địa phương hay của quốc gia) để kiến nghị các chính sách, giải pháp
phát triển giáo dục.
d) Cách thức tổ chức thực nghiệm chương trình được tiến hành theo hướng
ngày càng đơn giản, gọn nhẹ, ngay trong quá trình xây dựng chương trình. Nhà
nước công bố chương trình (ban hành lần 1), các trường thực hiện và phản hồi
đánh giá, đề xuất điều chỉnh chương trình. Căn cứ vào kết quả triển khai chương
trình, tổng hợp các ý kiến phản hồi, nhà nước tổ chức chỉnh sửa, hoàn thiện, công
bố các phiên bản mới của chương trình (nếu cần).
tương đồng với Việt Nam.
4. Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo hướng tinh giản, hiện
đại, thiết thực để phát triển phẩm chất và năng lực người học; chú trọng giáo dục
lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống; nâng cao năng lực ngoại ngữ, tin học;
rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; phát triển khả năng sáng
tạo, ý thức tự học. Chú trọng và tăng cường các hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
5. Đảm bảo tiếp nối, liên thông giữa chương trình cấp học, lớp học, giữa
các môn học, hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
6. Khuyến khích cá nhân, tổ chức tham gia biên soạn sách giáo khoa (sách
in và sách điện tử) trên cơ sở chương trình giáo dục phổ thông đã được Bộ Giáo
dục và Đào tạo phê duyệt, sử dụng thống nhất trong toàn quốc.
18
III. NỘI DUNG ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH, SÁCH GIÁO KHOA
1. Đổi mới mục tiêu cơ bản của giáo dục từ tập trung vào trang bị
kiến thức, kỹ năng sang phát triển phẩm chất và năng lực người học, đảm
bảo hài hoà giữa “dạy chữ”, “dạy người” và định hướng nghề nghiệp
a) Thực hiện đổi mới chương trình và sách giáo khoa theo định hướng
phát triển phẩm chất và năng lực học sinh. Chương trình phải hướng tới phát
triển các năng lực chung và các năng lực chuyên biệt liên quan đến từng lĩnh vực
giáo dục/môn học/hoạt động trải nghiệm sáng tạo mà mọi học sinh đều cần có
trong cuộc sống, đồng thời tạo điều kiện phát triển tốt nhất tiềm năng của mỗi
học sinh. Xác định các mức độ khác nhau của mỗi năng lực tương thích với từng
cấp học và từng lĩnh vực giáo dục/môn học/hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
b) Tạo điều kiện để học sinh được phát triển hài hoà cả thể chất và tinh
thần. Thực hiện giáo dục toàn diện: đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, các kỹ
năng cơ bản; rèn luyện, phát triển các phẩm chất, năng lực cần thiết và định
hướng nghề nghiệp. Đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống
cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, kỹ
năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội.
c) Mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực của chương trình mới được
cơ bản, đảm bảo vừa hội nhập quốc tế, vừa gắn với thực tiễn Việt Nam trong giai
đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đề cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh. Cải tiến nội dung giáo dục đạo đức, giáo dục công dân theo hướng coi
trọng các giá trị cơ bản, cốt lõi và nhân văn của đạo lý dân tộc và tinh hoa văn
hoá nhân loại; giáo dục thể chất và giáo dục thẩm mỹ nhằm phát triển hài hoà
thể chất và tinh thần, phát huy năng khiếu và hứng thú riêng của từng học sinh.
Dạy học ngoại ngữ, tin học theo hướng đáp ứng nhu cầu sử dụng trực tiếp của
người học.
d) Chương trình được xây dựng theo một chỉnh thể, nhất quán từ lớp 1 đến
lớp 12, từ cấp học đến các môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Chương
trình được thiết kế thành hai giai đoạn: Giai đoạn giáo dục cơ bản (gồm chương
trình cấp tiểu học và chương trình cấp trung học cơ sở) và giai đoạn giáo dục
định hướng nghề nghiệp (chương trình cấp trung học phổ thông).
đ) Nội dung giáo dục được thiết kế theo hướng tăng cường tích hợp ở giai
đoạn giáo dục cơ bản, phân hoá rõ dần từ cấp tiểu học đến cấp trung học cơ sở
và sâu hơn ở cấp trung học phổ thông.
- Tích hợp cao những lĩnh vực/môn học ở tiểu học và trung học cơ sở để
giảm tải, giảm tính hàn lâm, giảm số lượng môn học bằng cách lồng ghép những
nội dung gần nhau của nhiều môn học vào cùng một lĩnh vực hoặc bổ sung, phát
triển môn học tích hợp đã có trong chương trình hiện hành tạo thành môn học
mới. Nội dung các môn học tích hợp được thiết kế theo hướng vẫn giữ các nội
dung chính của các môn học nhưng lựa chọn, lồng ghép, sắp xếp và bố trí các
chủ đề/đề tài gần nhau của các môn học này để chúng bổ sung, làm sáng tỏ cho
nhau trong quá trình dạy và học; hình thành các chủ đề dạy học liên môn. Ở cả
ba cấp học đều thực hiện tích hợp trong nội bộ môn học, trong đó tích hợp cả
các chủ đề liên quan đến thực tiễn đời sống.
- Phân hoá mạnh ở trung học phổ thông hoàn toàn bằng tự chọn theo định
hướng: Kết thúc cấp trung học cơ sở là học sinh đã hoàn thành giáo dục cơ bản;
lên trung học phổ thông thực hiện phân hóa mạnh gắn với định hướng nghề
nghiệp. Học sinh chỉ học ít môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, còn lại tự
c) Tăng cường hiệu quả của các phương tiện dạy học, đặc biệt là công
nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ đổi mới việc lựa chọn và thiết kế nội
dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Tạo điều kiện cho học sinh
được học tập qua các nguồn học liệu đa dạng, phong phú trong xã hội, nhất là
qua Internet Từ đó phát triển năng lực tự học và chuẩn bị tâm thế cho học tập
suốt đời.
4. Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá
chất lượng giáo dục theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh
a) Thi, kiểm tra, đánh giá có vai trò kép: tạo động lực, điều chỉnh hoạt
động dạy, hoạt động học, hoạt động quản lý giáo dục và xác nhận sự tiến bộ và
thành tích học tập theo chuẩn đầu ra được quy định trong chương trình giáo dục.
Vì vậy, đánh giá chất lượng giáo dục phải phản ánh mức độ đạt chuẩn chương
trình (của cấp học, môn học); phải cung cấp thông tin đúng, khách quan, kịp thời
21
cho việc điều chỉnh hoạt động dạy, hướng dẫn hoạt động học nhằm nâng cao dần
năng lực học sinh.
b) Thực hiện đa dạng phương pháp đánh giá như quan sát, vấn đáp, kiểm
tra trên giấy, trình bày báo cáo, dự án học tập Phối hợp sử dụng kết quả đánh
giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người
dạy với tự đánh giá của học sinh; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia
đình và của xã hội. Đổi mới phương thức thi và công nhận tốt nghiệp trung học
phổ thông theo hướng gọn nhẹ, giảm áp lực và tốn kém cho xã hội mà vẫn bảo
đảm độ tin cậy, trung thực, đánh giá đúng năng lực học sinh, làm cơ sở cho việc
tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.
c) Ngoài việc đánh giá năng lực của các cá nhân học sinh, bổ sung thêm
các hình thức đánh giá chất lượng giáo dục ở cấp quốc gia, cấp địa phương và
tham gia các kỳ đánh giá của quốc tế để làm căn cứ đề xuất chính sách, giải pháp
cải thiện chất lượng giáo dục phổ thông.
5. Quản lý quá trình xây dựng và thực hiện chương trình đảm bảo
tính khả thi, linh hoạt, phù hợp địa phương và đối tượng học sinh
điều kiện của mình. Dựa trên chương trình do cấp trên quy định, nhà trường và giáo
viên được quyền tự chủ, sáng tạo về nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh
giá chất lượng giáo dục; các cơ quan quản lý giáo dục địa phương (sở/phòng giáo
dục và đào tạo, phòng giáo dục và đào tạo) hướng dẫn, giám sát, các nhà trường
quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục hàng năm của nhà trường.
6. Thực hiện chủ trương một chương trình nhiều sách giáo khoa
Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn, thẩm định và ban hành chương
trình giáo dục phổ thông để sử dụng thống nhất trong toàn quốc.
Công khai các yêu cầu, tiêu chí đánh giá sách giáo khoa để làm căn cứ
cho việc biên soạn, thẩm định, phê duyệt và sử dụng sách giáo khoa. Tất cả sách
giáo khoa phải được Bộ Giáo dục và Đào tạo thẩm định và phê duyệt trước khi
sử dụng trong các cơ sở giáo dục phổ thông; có thể có nhiều sách giáo khoa
được phát hành sau khi thẩm định. Các nhà trường lựa chọn sách giáo khoa phù
hợp với điều kiện của mình trong số sách giáo khoa đã được Bộ Giáo dục và
Đào tạo thẩm định, phê duyệt.
Đa dạng hoá các tài liệu dạy học; giáo viên và học sinh có thể vận dụng tư
liệu từ nhiều nguồn khác nhau, nhiều cách tiếp cận, học tập khác nhau để đạt
được mục tiêu và chuẩn của chương trình. Phát triển các loại tài liệu hướng dẫn,
hỗ trợ dạy và học phù hợp với từng loại đối tượng, đáp ứng sự đa dạng vùng
miền; đặc biệt chú trọng các tài liệu hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số và học sinh
sống ở các vùng có điều kinh kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, biên giới, hải
đảo, học sinh khuyết tật.
Tổ chức nghiên cứu mô hình sách giáo khoa điện tử để từng bước biên
soạn, thử nghiệm và sử dụng ở những nơi có đủ điều kiện.
IV. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
Trên cơ sở mục tiêu, phạm vi, nguyên tắc và nội dung đổi mới chương
trình, sách giáo khoa, Đề án có các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:
1. Chuẩn bị điều kiện để xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo
khoa mới
1.1. Tiếp tục tổng kết kinh nghiệm của Việt Nam và tiếp tục nghiên cứu,
bảo đảm quyền tự chủ của nhà trường, phát huy tính sáng tạo của giáo viên và ban
giám hiệu các trường trong quá trình tổ chức thực hiện chương trình giáo dục;
- Triển khai thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực”, tạo cơ chế xã hội hoá để đẩy mạnh các hoạt động giáo
dục toàn diện, nhất là giáo dục đạo đức, nghệ thuật, thể thao, rèn luyện kỹ năng
của học sinh;
- Triển khai thí điểm thông qua giáo dục di sản nhằm đổi mới hình thức tổ
chức dạy học, tăng cường hoạt động trải nghiệm của học sinh;
- Đổi mới quy định việc bồi dưỡng thường xuyên giáo viên phổ thông
theo yêu cầu chung, đồng thời đáp ứng nhu cầu của từng cá nhân giáo viên, ứng
dụng công nghệ thông tin nhằm phát triển năng lực tự học, tự bồi dưỡng của
giáo viên.
Thực tiễn đổi mới giáo dục của các nhà trường phổ thông thông qua các
hoạt động trên cho thấy đội ngũ giáo viên có khả năng thích ứng, tiếp thu kiến
thức, kỹ năng mới để dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh.
24
1.2. Pháp chế hoá các hoạt động tổ chức, chỉ đạo và giám sát, đánh giá
việc thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa
a) Thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia Đổi mới chương trình, sách giáo khoa
và các Ban Chỉ đạo Đổi mới chương trình, sách giáo khoa cấp tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương; thành lập ở cấp quốc gia: Ban Những vấn chung về
chương trình, sách giáo khoa; Ban Xây dựng chương trình tổng thể; các ban xây
dựng chương trình môn học (trong đó mỗi ban đều có tổng chủ biên chương
trình từ lớp 1 đến lớp 12); các Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình, sách
giáo khoa; ban hành Quy định về tiêu chí lựa chọn các thành viên, chức năng và
nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và hoạt động của các tổ chức được thành lập.
b) Xây dựng một số văn bản quy phạm pháp luật:
- Quy định về Tiêu chí đánh giá chương trình và quy trình biên soạn,
chỉnh sửa/phát triển chương trình.
- Quy định về Những vấn đề chung, cấu trúc và Tiêu chí đánh giá sách