Đấu thầu trong mua bán quốc tế, thực trạng và giải pháp phát triển tại Việt Nam - Pdf 23

Lời mở đầu
Từ khi thực hiện quá trình chuyển đổi nền kinh tế theo chủ trơng đổi mới do Đại
hội Đảng lần VI đề ra, Đảng và Nhà nớc ta đã không ngừng đổi mới toàn diện cơ chế
quản lý để làm cho cơ chế đó thích ứng điều kiện của nền kinh tế vận hành theo cơ chế
thị trờng. Cùng với sự chuyển đổi đó nhiều hình thức kinh doanh mới xuất hiện, trong đó
hình thức đấu thầu quốc tế đã đợc áp dụng để dần dần thay thế cho phơng thức chỉ định
thầu không còn phù hợp với cơ chế thị trờng cũng nh thông lệ quốc tế.
Hiện tại Việt Nam là một nớc đang phát triển. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc và hội nhập quốc tế là mơ ớc của toàn dân. Trong bối cảnh đó thì đấu
thầu cạnh tranh là một phơng pháp quan trọng trong việc tiếp thu nguồn lực bên ngoài
phục vụ cho phát triển kinh tế đất nớc. Đây là một lĩnh vực mới mẻ đối với Việt Nam và
còn có nhiều điểm cần học hỏi và hoàn thiện để công tác đấu thầu quốc tế thực sự phát
huy hết vai trò của mình trong việc lựa chọn nguồn lực bên ngoài phù hợp nhất cho sự
phát triển của đất nớc.
Xuất phát từ vai trò quan trọng công tác đấu thầu ở ở Việt Nam hiện nay nên sau
một thời gian nghiên cứu vấn đề đấu thầu tại Việt Nam em đã quyết định chọn đề tài:
Đấu thầu trong mua bán quốc tế, thực trạng và giải pháp phát triển tại Việt Nam là
đề tài nghiên cứu của mình. Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận tốt nghiệp đợc
chia làm 3 chơng:
- Chơng I: Đấu thầu quốc tế một phơng pháp mua sắm có hiệu quả
- Chơng II: Thực tiễn tổ chức và quản lý hoặt động đấu thầu quốc tế tại Việt Nam
- Chơng III: Xu hớng và các giải pháp nhằm hoàn thiện kỹ thuật tổ chức và quản lý
đấu thầu quốc tế ở Việt Nam trong thời gian tới.
Em xin trân thành cảm ơn thầy giáo Phạm Duy Liên - Phó chủ nhiệm khoa ngời
đã hớng dẫn chỉ bảo em cặn kẽ trong suốt quá trình làm khoá luận, sự dạy dỗ đào tạo
của các thày cô giáo trong khoa kinh tế ngoại thơng tr ờng đại học Ngoại thơng hơn 3
năm qua đã cung cấp nhiều kiến thức bổ ích cho em khi nghiên cứu và trình bày nội
dung khoá luận tốt nghiệp.
1
Ch ơng I
Đấu thầu quốc tế một phơng thức

I.2 Một số khái niệm cơ bản về đấu thầu
2
Trên thế giới có nhiều cách định nghĩa đấu thầu khác nhau chúng ta có thể
hiểu đấu thầu nh sau:
Đấu thầu quốc tế là một phơng thức giao dịch đặc biệt trong đó ngời mua (ngời
gọi thầu) công bố trớc các điều kiện mua hàng để ngời bán ( ngời dự thầu)báo
giá cả và các điều kiện trả tiền, sau đó nguời mua sẽ chọn mua của ngời báo giá
rẻ nhất và điều kiện tín dụng phù hợp hơn cả với những điều kiện mà ngời mua
đã nêu.
Theo Quy chế Đấu thầu đợc ban hành kèm theo Nghị định số 88/ NĐ- CP ngày
01-9-1999 của Chính phủ thì đấu thầu đợc định nghĩa nh sau:
Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời
thầu.
Đấu thầu là một phạm trù gắn liền với nền kinh tế hàng hoá, không có sản xuất,
không có trao đổi hàng hoá thì không có đấu thầu. Đấu thầu thực chất là một
hình thức để ngời mua chọn mua một loại hàng hoá nào đó thoả mãn các tiêu
chuẩn về kỹ thuật đợc đặt ra và với mức giá có thể chấp nhận đợc, trong điều
kiện có một ngời mua nhng lại có rất nhiều ngời bán.
Đấu thầu trong nớc là cuộc đấu thầu chỉ có nhà thầu trong nớc tham dự
Đấu thầu quốc tế là cuộc đấu thầu có các nhà thầu trong nớc và ngoài nớc
tham dự
1.3 Phân loại đấu thầu
Có nhiều cách thức phân loại đấu thầu khác nhau tuỳ theo vào các tiêu thức đã
định. Sau đây là sự phân loại đấu thầu theo một số tiêu thức chính:
Căn cứ vào tính chất và nội dung của gói thầu
* Đấu thầu xây lắp:
Đây là hình thức đấu thầu đợc áp dụng phổ biến nhất tại Việt Nam, đợc áp
dụng trong ngành xây dựng cơ bản mà nội dung của gói thầu xây dựng bao gồm
việc tổ chức xây dựng các công trình hạng mục công trình và lắp đặt các trang
thiết bị.

* Đấu thầu tuyển chọn đối tác đầu t :
Thc hiện đấu thầu khi có từ hai nhà đầu t trở lên cùng muốn tham gia dự án hoặc
Thủ tớng Chính phủ yêu cầu.
Căn cứ vào cách thức mở thầu
Có thể chia đấu thầu thành ba loại:
* Đấu thầu một túi hồ sơ :
Là phơng thức mà nhà thầu nộp hồ sơ mời thầu trong một túi hồ sơ. Đề xuất về
tài chính và đề xuất kỹ thuật bỏ chung vào một túi hồ. Phơng thức này đợc áp
dụng cho đấu thầu mua sắm hàng hoá và xây lắp.
4
* Đấu thầu hai túi hồ sơ:
Là phơng thức mà nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật và đề xuất tài chính nằm
trong hai túi hồ sơ riêng biệt trong cùng một thời điểm. Túi hồ sơ đề xuất kỹ
thuật sẽ đợc xem xét trớc để đánh giá. Phơng thức này chỉ đợc áp dụng đối với
đấu thầu tuyển chọn t vấn.
* Đấu thầu hai giai đoạn :
Giai đoạn 1 : Các nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu sơ bộ để đề xuất về kỹ thuật và
phơng án tài chính ( Cha có giá) để bên mời thầu xem xét và thảo luận cụ thể
với từng nhà thầu nhằm thống nhất về yêu cầu và tiêu chuẩn kỹ thuật để nhà
thầu chuẩn bị và nộp hồ sơ mời thầu chính thức của mình.
Giai đoạn 2 : Bên mời thầu mời các nhà thầu tham gia trong giai đoạn 1 nộp
hồ sơ mời thầu chính thức với đề xuất kỹ thuật đã đợc bổ sung hoàn chỉnh trên
cùng một mặt bằng kỹ thuật và đề xuất chi tiết về tài chính với đầy đủ nội
dung về tiến độ thực hiện, điều kiện hợp đồng, giá dự thầu.
Phơng pháp này thờng đợc áp dụng cho các trờng hợp nh : đấu thầu mua sắm
hoặc xây lắp có giá trị từ 500 tỷ trở lên; Các gói thầu mua sắm hàng hoá có
tính chất lựa chọn công nghệ thiết bị toàn bộ, phức tạp về công nghệ về kỹ
thuật hoặc gói thầu xây lắp đặc biệt phức tạp; dự án thực hiện chìa khoá trao
tay.
Căn cứ vào hình thức lựa chọn nhà thầu

- Gói thầu t vấn lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và khả thi của dự ácn đầu
t.
Trong trờng hợp chỉ định thầu cần phải xác định rõ 3 nội dung nh lý do chỉ định
thầu, kinh nghiệm và năng lực về mặt kỹ thuật, tài chính của nhà thầu đợc đề
nghị phê duyệt, và giá trị và khối lợng đã đợc ngời có quyền phê duyệt làm căn
cứ cho chỉ định thầu.
1.4 Các qui trình đấu tiêu biểu trên thế giới
Trên cơ sở đợc chủ dự án sẽ tiến hành triển khai thực hiện cho từng gói thầu theo
hình lựa chọn các nhà thầu xác định. Quy trình đấu thầu gồm bẩy giai đoạn, hiện tại
WB, ADB và Việt Nam đều áp dụng quy trình này. Có thể mô tả khái quát những
công việc mà nhà thầu và Bên mời thầu phải thực hiện trong suốt quá trình thực
hiện công tác đấu thầu thông qua sơ đồ sau:
6
Trình tự đấu thầu cho một gói thầu

Chuaaa
Chuẩn bị đấu thầu
Lập hồ sơ mời thầu
Thông báo mời thầu
Sơ tuyển
Tổ chức đấu thầu
Phát hành HSMT
Lập tổ chuyên gia xét thầu
Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chi
tiết
Xét thầu
Đánh giá sơ bộ
Đánh giá chi tiết
Báo cáo kết quả đánh giá
Thẩm định và phê

- Đấu thầu rộng rãi/sơ tuyển
- Báo phổ thông hàng ngày, 3 kỳ liên tục
(3) Sơ tuyển
- Phạm vi : Gói hàng hoá từ 300 tỷ đồng trở lên, gói
xây lắp từ 200 tỷ đồng trở lên
- Các bớc sơ tuyển gồm : lập hồ sơ mời thầu, lập tiêu
chuẩn đánh giá, tiếp nhận và đánh giá hồ sơ mời
thầu, trình duyệt kết quả đấu thầu, thông báo kết
quả đấu thầu.
Hoàn thiện hợp đồng
Chi tiết hoá
Các xem xét khác
Ký hợp đồng
8
B ớc 2 : Tổ chức đấu thầu
(1) Lập tổ
chuyên gia
- Thành phần tổ
- Tiêu chuẩn
- Nhiệm vụ
Bên mời thầu đề xuất, ngời có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm
quyền chấp thuận, sau đó bên mời thầu ra quyết định thành lập.
(2) Phát hành
hồ sơ mời thầu
- Cung cấp miễn phí hồ sơ mời thầu hoặc bán hồ sơ mời thầu
không quá 500,000 VNĐ
(3) Giải đáp
thắc mắc
- Thông qua hội nghị
- Trả lời bằng văn bản

- Căn cứ pháp lý
- Quy trình đấu thầu
- Kết quả đấu thầu ( kinh nghiệm năng lực, khả
năng đáp ứng của nhà thầu, giá đề nghị trúng thầu)
- Thẩm định không phải là đánh giá lại Hồ sơ mời
thầu
2. Cơ quan và thời
- Bộ KHĐT thẩm định ( tối đa là 30 ngày)
9
gian thẩm định
- Đơn vị giúp việc liên quan ( Tối đa là 20 ngày)
- Đối với gói thầu quy mô nhỏ ( tối đa là 7 ngày)
3. Phê duyệt Ngời có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền.
B ớc 5 : Công bố trúng thầu
(1) Điều kiện
- Có quyết định của ngời có thẩm quyền hoặc cấp
có thẩm quyền.
- Có hay không có nhà thầu trúng thầu
(2) Nội dung
- Tên nhà thầu trúng thầu
- Giá trúng thầu
- Loại hợp đồng
B ớc 6 . Hoàn thiện hợp đồng
(1) Thời gian Không quá 30 ngày kể từ khi có thông báo trúng thầu
(2) Nội dung
- Giải quyết các nội dung tồn tại
- Chi tiết hoá các chi phí
- Nghiên cứu sáng kiến, giải pháp tối u do nhà thầu
đề xuất
(3) Nguyên tắc

nguồn lực này hiệu quả tiết kiệm đúng mục đích là điều kiện tiên quyết và
một trong những biện pháp đó là thực hiện đấu thầu minh bạch công khai.
Hầu hết các nớc đề có qui định chi tiết về đấu thầu khi sử dụng nguồn tiền
công quĩ. Một số nớc nh Mỹ, Anh, Sovenia v.v. còn có cơ quan mua sắm
quốc gia độc lập chịu trách nhiệm ban hành văn bản pháp qui về mua sắm
công và giám sát hoạt động mua sắm công của các cơ quan và doanh nghiệp
nhà nớc. Việc qui chế đấu thầu rõ ràng minh bạch cơ quan giám sát độc lập
là những yếu tố quan trọng trong việc giúp một số nớc đảm bảo tiết kiệm
trong việc mua sắm công.
Tại Việt Nam chúng ta có nhiều văn bản pháp qui thể chế hoá hoạt động mua
sắm công trong các doanh nghiệp và cơ quan nhà nớc. Hoạt động đấu thầu
cũng đã đợc sử dụng rộng rãi và bớc đầu có kết quả nhất định. Theo báo cáo
của Bộ KHĐT và Diễn đàn doanh Nghiệp ngày 28/3/2003 việc áp dụng đấu
thầu cạnh tranh rộng rãi bắt đầu từ năm 1996 đã cho thấy mức tiết kiệm đáng
kể vốn đầu t công cộng. Năm 1999 đã tiết kiệm tới 14% so với dự toán trớc
thầu. Mỗi năm chúng ta mua sắm theo qui chế đấu thầu (từ các nguồn vốn
khoảng 3 tỷ USD) nghĩa là tiết kiệm ở khâu đấu thầu vào khoảng trên dới
300 triệu USD /năm.
Đấu thầu còn mang lại cho Nhà nớc những đầu t mới về công nghệ, trang
thiết bị máy móc hiện đại phục vụ thiết thực cho quá trình công nghiệp hoá
hiện đại hoá. Đấu thầu minh bạch tạo điều kiện cho các nhà thầu cạnh tranh
lành mạnh và đa ra những phơng án công nghệ thiết bị các điều kiện thơng
mại và tài chính cạnh tranh nhất để chủ đầu t lựa chọn. Qua đó chủ đầu t (tr-
ờng hợp mua sắm công chủ đầu t chính là các cơ quan/doanh nghiệp nhà n-
ớc) có thể chọn đợc phơng án và điều kiện hợp lý nhất. Tránh hiện tợng ép
giá do các nhà thầu phải cạnh tranh để bán hàng, cung cấp dịch vụ. Tại Việt
11
Nam mặc dù còn có nhiều công trình còn có vấn đề, nhng tác dụng của đấu
thầu trong việc lựa chọn máy móc thiết bị phục vụ cho quá trình công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nớc là không thể phủ nhận. Công trình nh nhà máy xi

thầu nh TCT Xây Dựng Trờng Sơn, TCT xây dựng Hà Nội, LILAMA,
VINACONEX đều đã trởng thành và thờng xuyên có tên trong danh sách
trúng thầu kể cả các dự án lớn do WB, ADB hay JBIC tài trợ.
12
3/ Tính chất của hoạt động đấu thầu mua sắm hàng hoá :
3.1 Tính bình đẳng :
Tính bình đẳng đợc thể hiện ở chỗ mọi nhà thầu đều đợc đối xử một cách
công bằng để tạo đợc một môi trờng cạnh tranh hoàn hảo nhất. Mọi nhà thầu
đều đợc bên mời thầu cung cấp những thông tin liên quan một cách đầy đủ
nhất và giống nhất, họ đều chịu một cơ chế thẩm định và một thang điểm
thống nhất, mọi hình thức móc ngoặc, thiên vị đều vi phạm nguyên tắc đấu
thầu.
Chỉ khi nào đấu thầu thoả mãn tính bình đẳng thì nhà thầu mới có đợc
một môi trờng cạnh tranh thực sự và mới đem lại lợi ích thực sự cho chủ đầu
t cũng nh các nhà thầu.
3.2- Tính nhất quán :
Trong đấu thầu mọi quyết định đa ra đều không thể sửa đổi đợc sau khi đã
hết hạn nộp hồ sơ dự thầu, các đề xuất của nhà thầu sẽ đợc niêm phong giữ
kín cho đến ngày mở thầu. Nộp thầu và mở thầu là những thời điểm quan
trọng rất dễ bị lạm dụng trong quá trình đấu thầu mua sắm. Do vậy những
vấn đề này phải đợc công khai và nhà thầu phải đợc mời hoặc đợc phép tham
dự buổi thầu.
Trong quá trình đánh giá, bên mời thầu có thể yêu cầu nhà thầu làm rõ
một số nội dung cơ bản của hồ sơ dự thầu, đặc biệt là giá dự thầu.
3.3- Tính bảo mật :
Để đạt đợc sự cạnh tranh bình đẳng, tất cả các đề xuất về tài chính, về kỹ
thuật của nhà thầu đều đợc giữ bí mật tuyệt đối, không ai trong hội đồng xét
thầu đợc phép lấy hoặc sao chép hồ sơ dự thầu sau khi đã đến tay chủ đầu t
3.4- Tính có thể tiếp cận đợc :
Bên mời thầu có tinh thần thiện chí, luôn tạo điều kiện cho các nhà thầu

vực.
Việc tuân thủ các nguyên tắc nói trên và nỗ lực nghiêm túc của mỗi bên
đã thúc đẩy sự hợp tác giữa các bên nhằm vào mục tiêu đáp ứng tốt nhất các
yêu cầu về chất lợng, tiến độ tài chính của dự án và do đó đảm bảo đợc các
lợi ích chính đáng cho cả bên mời thầu và nhà thầu góp phần tiết kiệm các
nguồn lực xã hội.
Bên cạnh những nguyên tắc do FIDIC quy định WB và ADB cũng có
một số nguyên tắc sau đây đối với dự án tài trợ của mình. Theo Ngân Hàng
Pháp triển Châu á (ADB) thì đấu thầu quốc tế phải : Có nguồn gốc rõ ràng,
đạt tính kinh tế và hiệu quả, các bên tham gai phải có cơ hội đầy đủ, công
bằng và bình đẳng.
Theo Ngân hàng Thế giới (WB) thì đấu thầu quốc tế phải có gói thầu
thích hợp, thông báo sớm không phân biệt đối xử, có thể tiếp cận đợc, trung
14
lập , đủ thủ tục, bí mật, kiên định, khác quan, không có đàm phán trớc khi
trao hợp đồng.
III. Những khó khăn tồn tại trong đấu thầu quốc tế
Đấu thầu quốc tế đã trải qua quá trình phát triển lâu dài và với xu hớng hội
nhập và toàn cầu hoá hoạt động mua sắm quốc tế nói chung và đấu thầu quốc
tế nói riêng sẽ ngày càng trở nên quan trọng. Tuy nhiên một tồn tại lớn nhất
trong hoạt động đấu thầu quốc tế cần khắc phục đó là tệ tham nhũng trong
đấu thầu. Việc tham nhũng không chỉ xảy ra tại những nớc đang phát triển
mà ở cả những nớc phát triển với mức độ ngày càng tinh vi khó phát hiện.
Với hàng tỷ USD mua sắm hàng năm tệ tham nhũng gây thiệt hại to lớn cho
các công ty, chính phủ và ngời dân.
Tham nhũng có nhiều dạng khác nhau, dễ hình dung nhất là việc một
nhà thầu có thể chuyển tiền cho các cá nhân tham gia vào việc ra quyết định
thắng thầu, bỏ tiền vào tài khoản bí mật tại nớc ngoài, tặng cổ phiếu công ty
hoặc cấp học bổng cho ngời thân quen v.v. Tuy nhiên việc thanh toán trực
tiếp giữa nhà thầu và chủ đầu t chỉ là một trong nhiều hình thức tham nhũng.

1996 đối với các nớc tham gia ký kết và thờng đợc gọi là qui chế mua sắm
của WTO.
Để khắc phục nạn tham nhũng trong đấu thầu quốc tế, OECD khuyên khích
các nớc áp dụng Luật chống tham nhũng qui định việc hối lộ các quan chức
chính phủ trong hay ngoài nớc đều là tội phạm hình sự và bị trừng trị nghiêm
minh. Tuy nhiên, việc chống tham nhũng trong đấu thầu không chỉ cần có
các qui định mua sắm tốt mà cần sự phối hợp giữa các bên, cần có cơ chế
giám sát và kiểm toán hiệu quả, một hệ thống toà án trung thực. Các cán bộ
mua sắm cần đợc đào tạo, trả thù lao tơng xứng và không bị ảnh hởng từ các
thế lực chính trị. Ngoài việc hoàn thiện về luật pháp, cải cách hành chính và
t pháp, một xu hớng chung trên thế giới để giảm tham nhũng trong mua sắm
là việc đảm bảo công khai minh bạch trong hoạt động đấu thầu, tạo điều kiện
thực sự để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.
16
Ch ơng II
Thực tế tổ chức và quản lý hoặt động đấu thầu
quốc tế tại Việt Nam
I- Vai trò đấu thầu quốc tế đối với nền kinh tế Việt
Nam
Là một nớc đang phát triển đang tiến hành công cuộc hiện đại và công
nghiệp, Việt Nam có nhu cầu nhập khẩu rất lớn máy móc thiết bị và công nghệ
của nớc ngoài, các dịch vụ t vấn và nguồn tài chính ngoài nớc. Chiến lợc phát
triển của Việt Nam nêu rõ Việt Nam tận dụng tối đa nguồn lực ngoài nớc cho
phát triển. Đấu thầu quốc tế có thể là một cách để Việt Nam có thể lựa chọn
cho mình những máy móc thiết bị, công nghệ, dịch vụ t vấn phù hợp với chi phí
hợp lý qua sự cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà thầu quốc tế.
Trong bối cảnh Việt Nam khi khu vực nhà nớc chiếm tỷ trọng rất lớn
trong nền kinh tế quốc dân và trong những ngành kinh tế trọng điểm, thì vai trò
của đấu thầu quốc tế là đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo nguồn lực của
quốc gia đợc sử dụng hiệu quả, minh bạch. Việc này không chỉ giúp hạn chế

thầu cho sân vận động quốc gia, một số công trình chậm so với tiến độ dẫn đến
lãng phí v.v Tóm lại, đấu thầu quốc tế có vai trò quan trọng đối với nền kinh
tế Việt Nam đặc biệt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tận dụng
nguồn lực bên ngoài phục vụ cho phát triển kinh tế đất nớc. Đồng thời đấu thầu
minh bạch, công bằng giúp Việt Nam sử hiệu quả nguồn lực hạn hẹp của quốc
gia và hội nhập quốc tế. Công tác đấu thầu bớc đầu đã phát huy hiệu quả đối
với nền kinh tế đất nớc, tuy nhiên đây là một lĩnh vực chúng ta còn có rất nhiều
điểm cần hoàn thiện.
II - Hoặt động đấu thầu quốc tế tại Việt Nam trong
những năm qua
1- Sự phát triển và những thành tựu đạt đợc trong đấu thầu quốc tế
tại Việt Nam
1.1- Một hệ thống văn bản pháp lý về công tác đấu thầu đã hình thành.
Việt Nam đã ban hành những quy chế riêng về quản lý xây dựng cơ bản
và chi tiêu thờng xuyên. Bắt nguồn từ quy chế do một bộ ban hành ( Bộ xây
dựng) quy định thực hiện cho 1 lĩnh vực ( xây lắp) vào năm 1990, đến nay quy
chế đấu thầu do Chính phủ ban hành và bao trùm 3 lĩnh vực không chỉ xây lắp
mà còn cả cung cấp hàng hoá và tuyển chọn t vấn.
Một số nội dung tích cực của quy chế đấu thầu hiện hành là:
Đối tợng áp dụng : qui chế đấu thầu đã đợc áp dụng rộng rãi đối với các
dự án đầu t mà quy chế quản lý đầu t và xây dựng quy định phải thực
hiện đấu thầu. Các dự án mà tổ chức kinh tế nhà nớc tham gia t 30% trở
lên, các dự án sử dụng nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế hoặc của n-
ớc ngoài thực hiện theo điều ớc ký kết giữa hai bên. Quy định này còn
áp dụng với với việc mua sắm đồ dùng, vật t trang thiết bị phơng tiện
làm việc của cơ quan nhà nớc đoàn thể, doanh nghiệp nhà nớc, lực lợng
vũ trang.
Hình thức lựa chọn nhà thầu phong phú : gồm 7 hình thức cụ thể là Đấu
thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, Chỉ định thầu, chào hàng cạnh tranh,
mua sắm trực tiếp, tự thực hiện và mua sắm đặc biệt

mà nhờ đấu thầu mới giải ngân đợc. Mặc dù thời gian còn ngắn và hiểu biết về
đấu thầu cạnh tranh còn hạn chế nhng những kinh nghiệm đã học đợc về thủ
tục và quy trình mua sắm hiện đại đợc áp dụng rộng rãi trong các dự án ODA.
Mức giải ngân ODA tăng từ khoảng 40 triệu USD năm 1993 đến hơn 1,6 tỷ
USD trong năm 2000. Các năm sau 2001, 2002 đều đạt mức tiết kiệm bình
19
quân khoảng 10% - 12% tức là khoảng từ 100 đến 300 triệu USD so với dự
toán chính thức trớc khi đấu thầu.
Nhà thầu đợc lựa chọn qua đấu thầu, đợc đánh giá qua yêu cầu về năng
lực, kinh nghiệm, các yêu cầu cụ thể của hồ sơ mời thầu và dựa trên cơ sở tiêu
chí đánh giá nên đảm bảo năng lực thực hiện dự án. Thêm vào đó hợp đồng đợc
ký giữa hai bên đã tránh đợc phát sinh tuỳ ý, công trình hoàn thành đúng tiến
độ do trách nhiệm của hai bên đợc xác định rõ ràng. Có thể thấy minh hoạ một
số công trình qua đấu thầu đợc hoàn thành tốt : Cầu Mỹ Thuận, Đờng 5, Đờng
Hà Nội Lạng Sơn, Hà Nội Vinh, TP HCM Nha Trang, Các nhà máy
điện Phú Mỹ 2-1, 2-1 mở rộng, Phú Mỹ 1.
1.4- Năng lực đấu thầu của Việt Nam ngày càng đợc nâng cao, việc đấu thầu
đợc phân cấp và chuyên sâu
Khuôn khổ quản lý nguồn lực cho đấu thầu không ngừng phát triển tại
Việt Nam đã thừa nhận các chính sách và thông lệ đấu thầu mua sắm công tốt
là một trong những yếu tố cơ bản bảo đảm quản lý tốt. Một số lớn cán bộ đã
tham dự những khoá đào tạo ngắn hạn về đấu thầu mua sắm, trong đó có nhiều
khoá đợc sự hỗ trợ tích cực của Bộ KHĐT, Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát
triển Châu á. Nhờ những khoá đào tạo này và đặc biệt là những kinh nghiệm
quý báu mà các cán bộ đấu thầu các cấp và cộng đồng các nhà thầu trong nớc
có đợc thông qua hoặt động đấu thầu thực tế của họ trong các dự án phát triển,
năng lực đấu thầu của Việt Nam đợc tăng cờng đáng kể. Văn phòng xét thầu
của bộ KHĐT đã và đang là cơ quan đi đầu trong việc thúc đẩy những cải cách
này.
Việc phân cấp trong đấu thầu cũng ngày càng đợc chuyên sâu. Nhiều nội

Ngoài các văn bản pháp qui chính về đấu thầu, vì lý do lịch sử, Luật Thơng mại
năm 1997 cũng có một phần về đấu thầu. Nội dung này có vẻ dựa vào qui chế
đấu thầu 1996 (nghị định 43CP - đã đợc thay thế bằng nghị định 88/1999/NĐ-
CP). Vì Luật Thơng mại cũng cũng qui định các phơng pháp đấu thầu và thủ
tục sơ tuyển, nên rõ ràng trùng lặp với dự thảo Pháp lệnh đấu thầu. Thứ bậc về
thẩm quyền Luật là trên pháp lệnh. Vì vậy có lẽ là những qui định tại Luật Th-
ơng mại sẽ không thể bị thay đổi bởi quy định của Pháp lệnh mới.
Một văn bản pháp luật nữa có liên quan đến đấu thầu là quyết định
1037/2000/QD-BLDTBXH của Bộ Lao động Thơng binh và Xã hội ban hành
vào tháng 10 năm 2000 về lơng của t vấn và ngời Việt Nam làm việc trong các
hợp đồng với doanh nghiệp nớc ngoài. Quyết định này không phù hợp với hớng
dẫn mua sắm của Ngân hàng thế giới, vì vậy không áp dụng cho các dự án
dùng vốn của Ngân hàng thế giới.
Thứ hai là các quy định hiện hành trong đấu thầu quốc tế không nêu rõ
ràng là phơng pháp đấu thầu cạnh tranh rộng rãi phải đợc xem xét trớc tiên khi
lựa chọn phơng pháp mua sắm. Các ngỡng giá trị gói thầu hàng hoá, xây lắp và
t vấn đợc phép áp dụng chỉ định thầu mà không cần giải trình xin phép là quá
cao. Quy chế 88/1999/NĐ-CP không cho phép chia nhỏ dự án để tránh đấu
thầu. Tuy nhiên qui định thờng bị vi phạm. Sơ tuyển là bắt buộc đối với hàng
hoá nếu trị giá tính trên 300 tỷ đồng và đối công trình nếu giá trị ớc tính trên
21
200 tỷ đồng. Đối với công trình gói thầu nhỏ hơn, nghị định 88 quy định sử
dụng một thủ tục đặc biệt cho công trình và hàng hoá có trị giá tới 2 tỷ đồng.
Phơng pháp mua sắm có thể là đấu thầu cạnh tranh rộng rãi hoặc đấu thầu hạn
chế tuỳ quyết định của chủ đầu t. Các nhà thầu thuộc tỉnh hoặc thành phố
của bên mời thầu mới đợc tham gia. Nếu số ngời tham dự ít hơn 3, thì mới mời
thêm các nhà thầu bên ngoài tỉnh hoặc thành phố. Các nhà thầu của địa phơng
sẽ đợc hởng u đãi nếu hồ sơ dự thầu bên ngoài tỉnh hoặc thành phố. Các nhà
thầu địa phơng sẽ đợc hởng u đãi nếu hồ sơ dự thầu của họ ngang với nhà thầu
các tỉnh khác. Chính phủ còn đi xa hơn nữa theo hớng này- có lẽ là do yêu cầu

quốc tế. Tuy nhiên, đối với các gói thầu không lớn, hầu hết các cơ quan địa ph-
ơng thờng chỉ đăng thông báo mời thầu trên báo địa phơng mình, mà các tờ
báo địa phơng nào thờng chỉ lu hành trong phạm vi địa phơng ấy. Nguyên nhân
của tình trạng này có thể bao gồm việc thiếu một yêu cầu rõ ràng trong quy chế
88/1999/NĐ-CP rằng phải quảng cáo trên một tờ báo đợc lu hành trên phạm vi
toàn quốc, đăng trên báo địa phơng thì tiện và rẻ hơn, hoặc ý đồ chỉ hạn chế
đấu thầu trong số các nhà thầu địa phơng mình hoặc vài tỉnh xung quanh.
Điều thứ 5 cần phải đề cập tới chính là thiếu quy định phù hợp về tính hợp lệ
của nhà thầu và về mâu thuẫn về lợi ích hơn nữa có quá nhiều qui luật và qui
định không nhất quán với nhau về vấn đề hợp đồng.
Đây cũng là điều dễ hiểu bởi vì kể cả nhng ngời thực hiện Quy chế đấu thầu,
những ngời tham gia soạn thảo các quy định thuộc dự thảo đấu thầu và qui chế
đấu thầu đều còn mới mẻ với công việc này. Hơn nữa sự thay đổi của đất nớc,
của nền kinh tế, của cơ chế chính sách đòi hỏi phải có sự hoàn thiện để đảm
bảo sự đồng bộ của quy chế đấu thầu.
2.2- Các thủ tục và thông lệ đấu thầu.
Chúng ta cha có một số đầu mối thông tin duy nhất và có thẩm quyền về
tất cả các thông báo mời thầu và quyết định trao hợp đồng cũng nh các vấn đề
khác liên quan đến đấu thầu nh danh sách nhà thầu không đợc phép thực hiện
hợp đồng hoặc liên quan tới gian lận hoặc tham nhũng.Việc lạm dụng tràn lan
các phơng thức đấu thầu kém cạnh tranh nh đấu thầu hạn chế và chỉ định thầu.
Điều này đã tạo điều kiện cho thông đồng và tham nhũng
Các cơ quan quản lý ở tất cả các cấp tham gia không đầy đủ hoặc can
thiệp quá mức vào quá trình đấu thầu mua sắm. Hệ thống đánh giá theo điểm
mang tính chủ quan bởi vì phơng pháp này đợc quy định trong quy chế đấu
thầu hiện hành ( Nghị định 88/1999/ND-CP ) hình nh là do một số cơ quan chủ
chốt chịu trách nhiệm soạn thảo quy chế đấu thầu nh Bộ Kế hoặch và Đầu t, Bộ
Xây dựng và các cơ quan khác đã quen với phơng pháp chấm điểm. Đối với
hàng hoá và công trình xây lắp có giá trị dự toán hơn 2 tỷ đồng/ hợp đồng
(USD 130.000), quy trình xét thầu cơ bản bao gồm 3 bớc. Bớc đầu tiên là đánh

Về phơng diện này chúng ta thiếu một cơ quan độc lập chụi trách nhiệm
về xây dựng và giám sát các chính sách mua sắm đấu thầu. Một cơ quan với
tôn chỉ mục đích rõ ràng và cán bộ đủ trình độ là chìa khoá để tạo ra một hệ
thống đấu thầu mua sắm công có hiệu lực. Một cơ quan ở cấp quốc gia với một
khuôn khổ phù hợp không chỉ đa ra trọng tâm của chính sách đấu thầu mua
sắm mà còn bảo đảm cho việc tuân thủ của những chính sách đó nữa. Về khía
cạnh này, việc thực thi chính sách nên đợc hiểu theo nghĩa rộng nhất có thể -
nó bao gồm cả việc thiết kế và thực hiện một hệ thống khiếu nại độc lập, t vấn
cho cơ quan đấu thầu về cách hiểu và áp dụng Pháp lệnh và nghị định về đấu
thầu mua sắm, quản lý hệ thống kỷ luật và xử phạt hành chính, giám sát v.v
Thực thi có hiệu lực thậm chí còn trở nên quan trọng hơn trong quá trình phân
cấp ở Việt Nam. Tầm quan trọng của việc áp dụng hệ thống này một cách công
24
bằng và minh bạch sẽ đợc tiếp tục củng cố bằng việc tăng số lợng các gói thầu
đợc xem xét
Chất lợng công tác chuẩn bị, phục vụ cho việc đấu thầu còn có những
bất cập nh báo cáo nghiên cứu kỹ thuật, thiết kế, dự toán hoặc tổng dự toán, kế
hoặch đấu thầu, Hồ sơ mời thầu, tiêu chí đấu thầu
2.4 Nguồn nhân lực và năng lực đấu thầu
Hiện tại trong công tác đấu thầu Việt Nam thiếu nghiêm trọng cán bộ có
trình độ chuyên môn về đấu thầu nh năng lực bên mời thầu, năng lực tổ chuyên
gia của cấp có thẩm quyền, năng lực của các công ty t vấn đối với công tác đấu
thầu ở cấp trung ơng và đặc biệt là địa phơng. Đội ngũ nhân viên đấu thầu mua
sắm hởng lơng theo cơ cấu lơng của Chính phủ, cơ cấu này quy định mức lơng
bổng của công chức và là một trong những cơ cấu lơng thấp nhất trên thế giới.
Việc thiếu nghiêm trọng các cán bộ có năng lực đợc cảm nhận ở mọi cấp.
Trong khi dấu hiệu cho thấy rằng các cán bộ đấu thầu mẫn cán và trung thực,
thì lại không có một bộ luật về nguyên tắc xử thế riêng và họ phải tuân theo
một loạt các bộ luật về đạo đức cho tất cả các công chức nh là pháp lệnh công
chức, pháp lệnh chống tham nhũng và pháp lệnh chống lãng phí nguồn lực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status