Nghiệp vụ thị trường mở - Thực trạng và giải pháp phát triển ở Việt Nam - Pdf 38

Tiểu luận Tài chính - Tiền tệ
K 46 – Anh 4 – TCQT B 1

LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển kinh tế nước ta hiện nay, các chính sách tiền tệ
của NHTW đóng vai trò rất quan trọng. Trong đó nghiệp vụ thị trường mở là quan
trọng nhất, bởi vì những nghiệp vụ này là yếu tố quyết định nhất với những thay
đổi trong cơ sở tiền tệ và là nguồn chính gây nên những biến động trong cung ứng
tiền tệ. Tuy nhiên hiện nay còn tồn tại các vấn đề về số lượng, chủng loại hàng
hoá, sức hấp dẫn của nghiệp vụ thị trường mở…do nghiệp vụ này còn quá mới mẻ
ở Việt Nam và chưa thu hút được sự quan tâm của mọi người. Do đó tìm hiểu về
nghiệp vụ thị trường mở là một việc rất cần thiết, mang đến một hiểu biết đầy đủ
tạo cơ sở để có thể đánh giá và đưa ra những giải pháp cho hoạt động thực tế của
chúng ta. Đồng thời trên cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm của các nước có thị trường
tài chính phát triển sẽ có nhiều bài học được rút ra giúp chúng ta có cái nhìn thực tế
về vấn đề này và có hướng đi riêng của mình. Chính vì những lý do trên, chúng em
đã chọn đề tài : “ Nghiệp vụ thị trường mở - Thực trạng và giải pháp phát triển ở
Việt Nam”.
Đề tài gồm có 2 chương :
- Chương I : Lý luận về nghiệp vụ thị trường mở
- Chương II : Thực trạng và giải pháp phát triển nghiệp vụ thị trường mở ở
Việt Nam
Đề tài nghiên cứu trên đây là một lĩnh vực rộng lớn và phức tạp nhưng thời
gian nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn còn nhiều hạn chế nên chuyên đề này
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận đuợc sự góp ý của
các thầy cô giáo để đề tài được hoàn thiện hơn.

Tiểu luận Tài chính - Tiền tệ
K 46 – Anh 4 – TCQT B 2
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ
THỊ TRƯỜNG MỞ

2. Tác động qua lãi suất
Hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường mở của NHTW có ảnh
hưởng gián tiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua hai con đường :
- Thứ nhất : Khi dự trữ của các ngân hàng bị ảnh hưởng, nó có tác động
đến cung cầu vốn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, làm lãi suất trên
thị trường này thay đổi. Sự thay đổi của mức lãi suất ngắn hạn này, thông
qua dự đoán của thị trường và các hoạt động kinh doanh chênh lệch lãi
suất, sẽ truyền tác động của nó đến các mức lãi suất trung và dài hạn trên
thị trường tài chính.
- Thứ hai : Việc mua bán chứng khoán sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan
hệ cung cầu về loại chứng khoán đó trên thị trường và giá cả của nó. Nói
một cách khác, tỷ lệ sinh lời của những chứng khoán này cũng thay đổi,
điều đó tác động đến sự thay đổi của lãi suất thị trường, nếu đó là loại
chứng khoán chiếm tỷ trọng lớn trong giao dịch trên thị trường tài chính.

III Cơ chế hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở
1. Các nghiệp vụ thị trường mở
Trong Nghiệp vụ thị trường mở phải có sự tham gia của NHTW bởi vì nếu
không có sự tham gia của NHTW thì khối lượng tiền tệ nói chung sẽ không thay
đổi. Một NHTW bản chứng khoán cho NHTM khác xét trong toàn cục chỉ là sự
Tiểu luận Tài chính - Tiền tệ
K 46 – Anh 4 – TCQT B 4
dịch chuyển chứng khoán và di chuyển ngược lại của một phần dự trữ dư thừa từ
NHTM này sang NHTM khác đang thiếu vốn mà thôi
Có hai loại nghiệp vụ thị trường mở :
- Nghiệp vụ thị trường mở năng động là nghiệp vụ thị trường mở trong đó
NHTW chủ động tiến hành nghiệp vụ nhằm tác động tới khối lượng tiền
trong lưu thông theo hướng mà ngân hàng thấy cần thiết. Chẳng hạn,
NHTW thấy tổng lượng tiền cung ứng và lưu thông không đủ để kích
thích nền kinh tế phát triển nên quyết định thực hiện nghiệp vụ thị trường


1.2 Các giao dịch có hoàn lại
Phương pháp này chủ yếu được sử dụng trong mục đích giao dịch tạm thời là
các hợp đồng mua lại. Khi đó NHTW thực hiện một giao dịch mua chứng khoán từ
đối tác trên thị trường và thỏa thuận bán lại cho đối tác đó vào một ngày xác định
trong tương lai ( hoặc ngược lại).
Thông thường hợp đồng mua lại được sử dụng trong khoảng thời gian rất
ngắn, thường là qua đêm với thời gian là 1 ngày, tuy nhiên cũng có khi thời hạn
hợp đồng mua lại dài hơn, với thời gian lớn hơn 1 ngày được gọi là Repos có thời
hạn.Với loại Repos mở, thời hạn không được xác định trước mà được 2 bên thỏa
thuận lại vào mỗi ngày. Giao dịch theo hợp đồng Repos thực chất là khoản cho vay
có đảm bảo bằng cách chứng khoán có tính thị trường cao.
Cũng giống như giao dịch không hoàn lại, trong giao dịch mua lại, điều kiện
của giấy tờ có giá do NHTW quy định với mục đích hạn chế tối đa các rủi ro và
đáp ứng được mục tiêu giao dịch.
Các giao dịch có hoàn lại được sử dụng chủ yếu trong nghiệp vụ thị trường
mở bởi các lý do sau:
Tiểu luận Tài chính - Tiền tệ
K 46 – Anh 4 – TCQT B 6
- Đây là công cụ có hiệu quả nhất để bù đắp hoặc triết tiêu những ảnh
hưởng không dự tính trước đến dự trữ của các ngân hàng .
- Chi phí giao dịch của một hợp đồng mua lại rẻ hơn so với các hợp đồng
mua đứt bán đoạn.
- Thích hợp trong trường hợp các định hướng chính sách tiền tệ không
hoàn hảo dẫn đến việc sử dụng các giải pháp khắc phục.
- Làm giảm thời gian thông báo, do đó mà giảm bớt biến động của thị
trường trước các quyết định hàng ngày của NHTW .

1.3 Phát hành chứng chỉ nợ của NHTW
NHTW các nước thường sử dụng việc phát hành các chứng chỉ nợ của

phủ mà nó sở hữu đã đến hạn bằng cách chứng khoán Chính phủ mới phát hành.
Nếu giá trị các chứng khoán của Chính phủ đến hạn lớn hơn giá trị chứng khoán
Chính phủ mới thay thế thì dự trữ của hệ thống ngân hàng tăng lên và ngược lại dữ
trữ của hệ thống ngân hàng giảm xuống khi giá trị các chứng khoán mới thay thế
lớn hơn lượng chứng khoán đến hạn.

2.Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở.
2.1 Tín phiếu kho bạc(TB)
Tín phiếu kho bạc là giấy nhận nợ do chính phủ phát hành để bù đắp thiếu
hụt tạm thời trong năm tài chính. Thời hạn của tín phiếu thông thường là dưới 12
tháng. Đây là công cụ chủ yếu của Nghiệp vụ thị trường mở của hầu hết NHTW
các nước vì:
- Tín phiếu kho bạc có tính thanh khoản cao.
- Được phát hành định kỳ với khối lượng lớn và vì thế có thể thoả mãn nhu
cầu can thiệp của NHTW với liều lượng khác nhau.
Tiểu luận Tài chính - Tiền tệ
K 46 – Anh 4 – TCQT B 8
Bộ tài chính là người có vai trò quan trọng trong việc xác định khối lượng
phát hành, thanh toán lãi và gốc của tín phiếu. Tín phiếu kho bạc được phát hành
hàng tuần để chi trả các khoản nợ ngắn hạn của chính phủ.
Vì vậy, khối lượng tín phiếu này thay đổi tuỳ theo nhu cầu vay mượn của
chính phủ và sự hạn chế tốc độ tăng trưởng của các nhà chức trách tiền tệ.

2.2 Chứng chỉ tiền gửi. (CD).
Chứng chỉ tiền gửi là giấy nhận nợ của Ngân hàng hay các định chế tài chính
phi ngân hàng, xác nhận món tiền đã được gửi vào ngân hàng trong một thời gian
nhất định với một mức lãi suất định trước. Thời hạn của chứng chỉ tiền gửi thường
là ngắn hạn. Sự ra đời của chứng chỉ tiền gửi đánh dấu sự thay đổi căn bản trong cơ
chế quản lý ngân hàng: Chuyển từ quản lý tài sản nợ sang quản lý tài sản có vì nó
cung cấp một hình thức huy động vốn chủ động cho ngân hàng thay vì phải phụ

Đây là những món vay ngắn hạn, trong đó tín phiếu kho bạc được sử dụng
làm vật đảm bảo cho tài sản có mà người cho vay nhận được nếu người đi vay
không thanh toán nợ.

3.Hình thức giao dịch:
Các giao dịch trên thị trường mở có thể thực hiện thông qua phương thức đấu
thầu hoặc giao dịch song phương.

3.1. Đấu thầu
Việc mua hoặc bán các loại giấy tờ có giá giữa NHTW với các NHTM được
thực hiện thông qua phương thức đấu thầu khối lượng hoặc đấu thầu lãi suất.
Giá của giấy tờ có giá hoặc lãi suất giao dịch trên thị trường mở là yếu tố
quan trọng ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suất trên thị trường nói chung. Vì vậy, lãi
Tiểu luận Tài chính - Tiền tệ
K 46 – Anh 4 – TCQT B 10
suất cũng là một mục tiêu mà NHTW cần quan tâm khi quyết định phương thức
đấu thầu trên nghiệp vụ thị trường mở . Đấu thầu lãi suất hay đấu thầu khối lượng
trên nghiệp vụ này tuỳ thuộc vào mục tiêu của NHTW . Để có thể can thiệp trực
tiếp vào lãi suất thì thực hiện đấu thầu khối lượng, ở đó lãi suất cố định do NHTW
chỉ đạo. Khi mục tiêu của chính sách tiền tệ nghiêng về giác độ bơm hoặc rút tiền
ra theo một khối lượng mong muốn thì thực hiện đấu thầu lãi suất ở đó lãi suất
được thả nổi theo cung cầu thị trường, còn lãi suất trúng thầu sẽ được xác định tại
điểm đạt được khối lượng cần bơm hoặc rút tiền khỏi lưu thông. Lãi suất chỉ đạo
đối với đấu thầu khối lượng hoặc lãi suất trúng thầu đối với đấu thầu lãi suất là cơ
sở để tính giá của giấy tờ có giá.

3.1.1. Đấu thầu khối lượng:
NHTW công bố mức lãi suất và khối lượng các loại giấy tờ có giá cần mua
hoặc bán. Các ngân hàng dự thầu khối lượng các loại giấy tờ có giá đó theo mức lãi
suất niêm yết trước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status