Thực trạng và giải pháp phát triển TTCK Việt Nam hiện nay - Pdf 25

Lời mở đầu
Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức Thương
Mại Thế Giới trong năm qua đã đưa ra cơ hội lớn cho Việt Nam, đặt ra yêu
cầu và thách thức mới ,đòi hỏi chúng ta phải thúc đẩy phát triển kinh tế với
tốc độ và hiệu quả cao hơn nữa. Muốn vậy chúng ta phải từng bước xây
dựng và phát triển đồng bộ các loại thị trường trong đó có thị trường vốn mà
nổi bật là thị trường chứng khoán.
Xuất phát những chức năng, vai trò quan trọng của thị trường chứng
khoán trong việc góp phần phát triển kinh tế thì việc phát triển thị trường
chứng khoán ở Việt Nam hiện nay là thực sự cần thiết, có thể nói là nhu cầu
thiết yếu. Giúp chúng ta hội nhập nhanh và tiến kịp với trình độ của các
nước trên thế giới.
Xuất phát từ thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay, với
những thành tựu đã đạt được trong 6 năm ra đời và phát triển, cùng với
những hạn chế yếu kém còn tồn tại. Tôi chọn đề tài để nghiên cứu và hiểu rõ
hơn về thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay, phân tích
những cái chúng ta đã làm được, nhưng cái còn chưa làm được. Từ đó đề ra
những giải pháp góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam hiện
nay.
Đề án gồm 3 chương:
-Chương 1: Các vấn đề cơ bản về chứng khoán
-Chương 2: Khái quát về thị trường chứng khoán
-Chương 3: Thực trạng và giải pháp phát triển TTCK Việt Nam hiện nay

Chương I: Các vấn đề cơ bản về chứng khoán
I) Khái niệm và đặc điểm
Chứng khoán là nhân tố cơ bản hình thành nên tài chính chứnh khoán , là
một loại hàng hoá đặc biệt là công cụ huy động vốn từ nơi thừa vốn sang nơi
thiếu vốn ,từ người cung vốn đến người cầu vốn.
“ Chứng khoán là những giấy tờ có giá có khả năng chuyển nhượng xác
định số vốn đầu tư (tư bản đầu tư) ,xác nhận quyền sở hữu của quyền đòi nợ

trái phiếu thanh toán băng đô la.Khi đô la giảm giá so với đồng tiền VNĐ thì
đồng tiền nhận được ít hơn tại thời điểm thanh toán và ngược lại.
Rủi ro không có tính hệ thống là loại rủi ro chỉ tác động đến một tài sản
hoặc một nhóm nhỏ các tài sản.Loại rủi ro này thường liên quan đến điều
kiện và khả năng hoàn trả nợ của nhà phát hành.Mọi chứng khoán(trừ chứng
khoán chính phủ)đều chịu ảnh hưởng của khả năng này.
Các nhà đầu tư thường quan tâm tới việc xem xét đánh giá các rủi ro
liên quan,trên cơ sở đề ra các quyết định trong việc lựa chọn năm giữ hay
bán chứng khoán.Điều này phản ánh mối quan hệ giữa lợi tức và rủi ro hay
sự cân bằng về lợi tức.Muốn có lợi nhuận phải chấp nhận rủi ro.Lợi nhuận
cao rủi ro ngầm chứa càng lớn.Ngược lại tiềm tàng càng lớn lợi nhuận kỳ
vọng đòi hỏi phải càng cao.
Thứ ba : Tính sinh lợi :Chứng khoán là một loại tài sản mà khi sở hữu
nó nhà đầu tư mong muốn nhận được một thu nhập lớn hơn trong tương
lai.Thu nhập này được đảm bảo bằng lợi tức được phân chia hàng năm và
việc tăng giá chứng khoán trên thị trường.
Người mua thường chấp nhận một mức sinh lời thấp để đổi lấy tính
thanh khoản cao.Tính rủi ro và tính thanh khoản có quan hệ ngược chiều
nhau.Một chứng khoán càng có nhiều rủi ro càng ít tính thanh khoản và do
đó mức lời trả cho chứng khoán đó sẽ cao,đó thường là chứng khoán dài
hạn.Ngược lại các trái phiếu kho bạc ngắn hạn có tính thanh khoản cao,ít rủi
ro hơn và do đó mức sinh lời cũng thấp.
II). Phân loại chứng khoán:
Tuỳ theo cách chọn tiêu chí người tacó thể phân loại chứng khoán ra
thành nhiều loại khác nhau. Tuy nhiên chúng ta có thể chia chứng khoán
theo ba tiêu chí chủ yếu, đó là theo tính chất của chứng khoán , theo khẳ
năng chuyển nhượng và theo khả năng thu nhập.
Cách phân chia này tạo điều kiện cho người đầu tư nhận biết đễ dàng
các loại chứng khoán đang lưu thông và giúp họ lựa chọn cách thức đâu tư
phù hợp

trả gốc và lãi cho người sở hữu . Thời gian đáo hạn cua trái phiếu thông
thường là dài hạn. Nếu thời gian đáo hạncủa một trái phiếu càng dài thì mức
độ biến động của trái phiếu càng lớn.
1.3 Chứng khoán phái sinh :
Chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính có nguồn gốc từ
chứng khoán và có quan hệ chặt chẽ vói chứng khoán gốc.
Các chứng khoán phái sinh được hình thành do nhu cầu giao dịch
của người mua và người bán phát triển phụ thuộc vào mức độ phát triển của
thị trường chứng khoán . Có thể phân loại chứng khoán phái sinh thành các
loại như sau :

a)Quyền mua trước:
Quyền mua trước hay còn gọi là đặc quyền mua là một quyền ưu đãi
đươc gắn vói một cổ phiếu đang đươc lưu hành , do công ty phát hành ra cổ
phiếu đó để huy động thêm vốn cổ phần , quyền mua trước cho phép người
sở hữu những những cổ phần đang lưu hành đươc mua nhất định một số cổ
phiếu trong đợt phát hành mới của công ty , tại một mức giá xác dịnh thấp
hơn mức chào ra công chúng trong một thời hạn nhất định.Các quyền này
cũng được chuyển nhượng giữa các cổ đông có quyền thụ hưởng quyền và
các nhà đầu tư khác.Thông thường quyền mua trước có thời hạn ngắn là chủ
yếu (từ 2-4tuần) và việc phát hành quyền được quy định trong điều lệ tổ
chức của công ty.
Mức giá đăng kí trong tất cả các dạng quyền mua trước thấp hơn mức
giá hiện hành cua cổ phiếu vào thời điểm phát hành.
Giá trị của quyền mua trước được xác định:
M= (P-F)/(N+1)
trong đó : P là thị giá cổ phiếu, F :là giá ưu đãi của chứng quyền, N :là
định mức số cổ phiếu cũ để mua một cổ phiếu mới
Trong trường hợp các cổ đông không muốn thực hiện quyền họ có thể
bán chúng trên thị trường trong thời gian quyền chưa hết hạn.Giá quyền phụ

c)Hợp đồng kì hạn:
là thoả thuận giữa các bên về việc mua hoặc bán những hàng hoá nhất định
trong tương lai .Hợp đồng trao đổi không kì hạn trên thị trường không được
định giá hàng ngày. Giá trong hợp đồng kì hạn là giá giao hàng ngày, tại thời
điểm kí hợp đồng giá chuyển giao được chọn để giá trị của hai bên mua bán
là bằng không điều này có nghĩa là không có chi phí trong hợp đồng mua
bán kì hạn.Hợp đồng kì hạn được nhà đầu tư sử dụng để tiến hành đầu cơ và
bảo hộ.
d) Hợp đồng tương lai: Là hợp đồng mà trong đó một người bán cam kết
giao một số hàng hoá nào đó ( CK) và người mua sẽ trả tiền khi nhận hàng
hoá do (CK), vớ một giá nhất định vào một ngày nhất định trong tương lai
được xác định trước ở hiện tại tại thời điểm kí kết hợp đồng .Để tránh mọi
thiệt hại khi hợp đồng không được tôn trọng, cả hai bên đều được yêu cầu
khí quỹ vào lúc khí hợp đồng
Các hợp đồng tương lai có thể đựoc thực hiện thông qua giao hàng hoặc bù
đắp .Tuy nhiên số các hợp đồng trong tương lai được thực hiện rất ít, còn
hầu hết chúng được bù đắp trước tháng giao hàng .Cho dù có hợp đồng ,
nhưng việc giao hàng không nhất thiết phải được thực hiên. Các thành viên
tham gia thị trường này không phải giao hoặc nhận hàng trừ khi họ có khả
năng hoặc mong muốn được điều đó.Ngưòi chủ mỗi hợp đồng dù là người
mua hay là người bán đều có quyền bù đắp hợp đồng.
e) Quyền chọn : Là một kiểu hợp đồng giữa hai bên mà trong đó một bên
cho bên kia được quyền mua hoặc bán một loại hàng hoá cụ thể hoặc một
lượng chứng khoán nào đó với một giá xác định trong một thời hạn nhất
định. Một hợp đồng quyền chọn bất kì đều bao gồm bốn đặc điểm cơ bản:
loại quyền, tên hàng hoá cơ sở và khối lượng được mua hoặc bán theo
quyền, ngày đáo hạn, giá thực thi .Có bốn đối tượng tham gia trên thị trường
quyền chọn: ngưòi mua quyền mua, người bán quyền mua ,người mua quyền
bán, ngưòi bán quyền bán.
Người mua được xem là nhà đầu tư có vị thế dài hạn và người bán ở vị thế

3.1) Chứng khoán có thu nhập cố định
Chứng khoán có thu nhập cố định là loại chứng khoán có quyền yêu cầu thu
nhập cố định không phụ thuộc vào kêt quả hoạt động của nhà phát hành. Nó
có thể là chứng khoán vô danh hoặc chứng khoán đích danh, có thể là tín
phiếu , trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi.
Theo đối tượng phát hành, chứng khoán có thu nhập cố định bao gồm những
loại chủ yếu sau: Trái phiếu nhà nước , Trái phiếu địa phương , Trái phiếu
công nghiệp (trái phiếu công ty) ,Trái phiếu ngân hàng và Tín phiếu quỹ tiết
kiệm ,Tín phiếu kho bạc.
3.2) Chứng khoán có thu nhập biến đổi
Cổ phiếu thường đại diện cho loại chứng khoán có thu nhập biến đổi. Thu
nhập do việc sở hữu cổ phiếu mang lại gọi là cổ tức (hay lợi tức cổ phần ),
nó biến động theo kêt quả kinh doanh của công ty. Hình thức khác của loại
chứng khoán này là phiếu tham gia hay chứng chỉ đầu tư. Loại này khác với
cổ phiếu thông thường ở chỗ, nó không được quyền tham gia giám sát hoạt
động của côngty.Khi phát hành chứng chỉ đầu tư, công ty có thể huy động
vốn vô thời hạn, không chịu rủi ro về chi trả lợi tức cố định như cổ phiếu ưu
đãi hay trái phiếu, song không bị pha loãng quyền kiểm soát của các cổ đông
3.3) Chứng khoán hỗn hợp
Hình thức hỗn hợp của chứng khoán vừa mang tính chất của chứng khoán có
thu nhập cố định, vừa mang tính chất của chứng khoán có thu nhập biến đổi.
Việc phát hành loại cứng khoán này nhằm để thích ứng với nhu cầu đặc biệt
của thị trườngvốn. Chứng khoán hỗn hợp có những loại chủ yếu sau : Trái
phiếu công ty có khả năng chuyển đổi ; Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu ;
Trái phiếu có thu nhập bổ sung
III.Phát hành chứng khoán
1. Khái niệm về phát hành chứng khoán
Việc chào bán lần đầu tiên chứng khoán mới gọi là phát hành chứng khoán.
Nếu đợt phát hành dẫn đến việc đưa một loại chứng khoán của một tổ chức
lần đầu tiên ra công chúng thì gọi là phát hành lần đầu ra công chúng. Nếu

phẩm , phát hành cho các đối tác…
-Phát hành cho cán bộ công nhân viên chức của công ty.
b.Phát hành chứng khoán ra công chúng
Phát hành chứng khoán ra công chúng là việc phát hành trong đó chứng
khoán có thể chuyển nhượng được bán rộng rãi ra công chúng cho một số
lượng lớn người đầu tư nhất định (trong đó phải dành một tỷ lệ cho các nhà
đầu tư nhỏ) và khối lượng phát hành phải đạt một mức nhất định.
Việc phát hành chứng khoán ra công chúng phải được cơ quan quản lý
Nhà nước về chứng khoán cấp giấy phép hoặc chấp thuận. Sau khi phát hành
trên thị trường sơ cấp chứng khoán sẽ được giao dịch tại sở giao dịch chứng
khoán khi đã đáp ứng được các quy định về niêm yết chứng khoán của
SGDCK. Tổ chức phát hành chứng khoán ra công chúng phải thực hiện một
chế độ báo cáo, công bố thông tin công khai và chịu sự quản lý, giám sát
riêng theo quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng
khoán
Việc phát hành ra công chúng được phân biệt bằng hai hình thức: phát
hành cổ phiếu ra công chúng và phát hành trái phiếu ra công chúng.
Trường hợp phát hành cổ phiếu ra công chúng được thực hiện một
trong hai phương thức sau:
- Phát hành lần đầu ra công chúng (IPO):là việc phát hành trong đó cổ
phiếu của công ty lần đầu tiên được bán rộng rãi cho công chúng đầu tư. Nếu
cổ phần được bán lần đầu cho công chúng nhằm tăng vốn thì đó là IPO sơ
cấp , còn khi cổ phần được bán lần đầu từ số cổ phần hiện hữu thì đó là IPO
thứ cấp
-Chào bán sơ cấp (phân phối sơ cấp) :là đợt phát hành cổ phiếu bổ sung
của công ty cho rộng rãi các công chúng đầu tư.
Trường hợp phát hành trái phiếu ra công chúng, việc phát hành được
thực hiện bằng một phương thức duy nhất , đó là chào bán sơ cấp.
2.3.Ý nghĩa cơ bản của việc phân biệt giữa phát hành riêng lẻ và phát
hành ra công chúng

nêu trên, ví dụ: doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công ích, hạ tầng cơ
sở có thể được miễn giảm điều kiện về hiệu quả sản xuất kinh doanh.
ở Việt Nam, theo qui định của Nghị định 48/1998/-NĐ-CP về chứng khoán
và thị trường chứng khoán và Thông tư 01/1998/TT-UBCK hướng dẫn Nghị
định 48/1998/-NĐ-CP, tổ chức phát hành phát hành cổ phiếu lần đầu ra công
chúng phải đáp ứng được các điều kiện sau:
- Mức vốn điều lệ tối thiểu là 10 tỷ đồng Việt Nam;
- Hoạt động kinh doanh có lãi trong 2 năm liên tục gần nhất;
- Thành viên Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc) có kinh
nghiệm quản lý kinh doanh.
- Có phương án khả thi về việc sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành cổ
phiếu.
- Tối thiểu 20% vốn cổ phần của tổ chức phát hành phải được bán cho trên
100 người đầu tư ngoài tổ chức phát hành; trường hợp vốn cổ phần của tổ
chức phát hành từ 100 tỷ đồng trở lên thì tỷ lệ tối thiểu này là 15% vốn cổ
phần của tổ chức phát hành.
- Cổ đông sáng lập phải nắm giữ ít nhất 20% vốn cổ phần của tổ chức phát
hành và phải nắm giữ mức này tối thiểu 3 năm kể từ ngày kết thúc đợt phát
hành.
- Trường hợp cổ phiếu phát hành có tổng giá trị theo mệnh giá vượt 10 tỷ
đồng thì phải có tổ chức bảo lãnh phát hành.
3.2.Quy trình phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng
Thông thường việc phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng được thực
hiện theo các bước sau:
- Tổ chức đại hội cổ đông để xin ý kiến chấp thuận của đại hội cổ đông về
việc phát hành chứng khoán ra công chúng, đồng thời thống nhất mục đích
huy động vốn; số lượng vốn cần huy động; chủng loại và số lượng chứng
khoán dự định phát hành; cơ cấu vốn phát hành dự tính phân phối cho các
đối tượng: Hội đồng quản trị, cổ động hiện tại, người lao động trong doanh
nghiệp, người bên ngoài doanh nghiệp, người nước ngoài…

toán và tổ chức tư vấn của công ty.
- Chính thức thành lập tổ hợp bảo lãnh phát hành và ký hợp đồng bảo lãnh
phát hành với tổ chức phát hành.
- Công ty kiểm toán xác nhận các báo cáo tài chính trong hồ sơ xin phép
phát hành.
- Tổ chức phát hành nộp hồ sơ lên Uỷ ban chứng khoán. Thông thường tổ
chức phát hành sẽ được trả lời về việc cấp hay từ chối cấp giấy phép trong
một thời hạn nhất định kể từ ngày nộp hồ sơ xin phép phát hành đầy đủ và
hợp lệ. Trong thời gian chờ Uỷ ban chứng khoán Nhà nước xem xét hồ sơ, tổ
chức phát hành có thể sử dụng nội dung trong bản cáo bạch sơ bộ để thăm
dò thị trường.
- Sau khi được cấp phép phát hành, tổ chức phát hành phải ra thông báo phát
hành trên các phương tiện thông tin đại chúng, đồng thời công bố ra công
chúng bản cáo bạch chính thức và việc thực hiện việc phân phối chứng
khoán trong một thời gian nhất định kể từ khi được cấp giấy phép. Thời hạn
phân phối được qui định khác nhau đối với mỗi nước. ở Việt nam, theo qui
định tại Nghị định 48/Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán
thì thời hạn này là 90 ngày, trong trường hợp xét thấy hợp lý và cần thiết, Uỷ
ban chứng khoán nhà nước có thể gia hạn thêm.
- Tiến hành đăng ký, lưu giữ, chuyển giao và thanh toán chứng khoán sau
khi kết thúc đợt phân phối chứng khoán.
- Sau khi hoàn thành việc phân phối chứng khoán, tổ chức phát hành cùng
với tổ chức bảo lãnh phát hành phải báo cáo kết quả đợt phát hành cho Uỷ
ban chứng khoán và tiến hành đăng ký vốn với cơ quan có thẩm quyền.
- Trường hợp tổ chức phát hành có đủ điều kiện niêm yết thì có thể làm đơn
xin niêm yết gửi lên Uỷ ban chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán nơi
công ty niêm yết.
3.3.Bảo lãnh phát hành
a. Khái niệm:
Bảo lãnh phát hành là quá trình một công ty chứng khoán giúp tổ chức phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status