PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Khái quát về lý luận:
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XI đã khẳng định: “Phát triển Giáo dục và Đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang
bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Chuyển
phát triển Giáo dục và Đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất
lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng”.
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường Tiểu học có tầm quan trọng đặc
biệt, góp phần không nhỏ trong công tác nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
trong trường Tiểu học. Mặt khác, kết quả học sinh giỏi là một tiêu chí để đánh
giá sự phát triển của một trường Tiểu học. Thành tích học sinh giỏi khẳng định
uy tín của nhà trường. Chính vì vậy, việc bồi dưỡng học sinh giỏi cần được thực
hiện thường xuyên, có hệ thống - một công việc khó khăn và lâu dài, đòi hỏi sự
đầu tư công sức, trí tuệ của cả thầy và trò.
Về mặt thực tiễn:
Nâng cao chất lượng giáo dục đại trà trong đó bồi dưỡng học sinh giỏi là
việc làm thường xuyên góp phần không nhỏ nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện cho học sinh. Chính vì vậy, việc chỉ đạo, bồi dưỡng để nâng cao cả về số
lượng và chất lượng học giỏi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của trường
Tiểu học xã Mường Cang.
Nhiều năm nay, nhà trường luôn luôn duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục đại
trà; số lượng học sinh tham gia các kì thi học sinh giỏi tăng và đạt được thành
tích đáng kể.
Tuy nhiên chất lượng học sinh đạt giải trong các kỳ thi còn khiêm tốn. Làm
thế nào để tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục,
tập trung phát triển trí tuệ nhằm nâng cao chất lượng học sinh giỏi? Đó chính là
câu hỏi đặt ra đối với đội ngũ thầy, cô giáo làm công tác giáo dục nói chung và
giáo viên giảng dạy trực tiếp nói riêng. Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi
chọn nghiên cứu đề tài: “Một số kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi môn
2
PHẦN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Chương 1
Cơ sở lý luận về kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi môn toán lớp 4
1. Một số khái niệm, mục đích, mục tiêu về công tác bồi dưỡng học
sinh giỏi.
1.1. Một số thuật ngữ sử dụng trong nghiên cứu.
Kinh nghiệm: Những điều hiểu biết đúc rút được nhờ quá trình tiếp xúc
với thực tế, trải nghiệm.
Bồi dưỡng: Quá trình trang bị thêm kiến thức, kỹ năng nhằm mục đích
nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể.
Bồi dưỡng học sinh giỏi: Chủ động tạo ra môi trường và những điều kiện
thích hợp cho người học phát huy cao độ nội lực của mình, đi đôi với việc tiếp
nhận một cách thông minh, hiệu quả ngoại lực (người thầy có vai trò quan trọng
hàng đầu trong môi trường có tính ngoại lực) mà cốt lõi là giúp cho người học về
phương pháp, biết cách học, cách nghiên cứu, cách tư duy, cách tự đánh giá, tận
dụng phương tiện hiện đại nhất để tìm kiếm, thu thập và xử lý thông tin trong quá
trình học tập.
Năng lực: Những đặc điểm tâm lý cá biệt ở mỗi con người, tạo thành điều
kiện quy định tốc độ, chiều sâu của việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để đáp
ứng yêu cầu và hoàn thành xuất sắc một hoạt động nhất định.
Tài năng: (trình độ cao của năng lực): Một tổ hợp các năng lực tạo tiền đề
thuận lợi cho con người sáng tạo, thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao. Tài năng
được rèn luyện, hình thành trong quá trình hoạt động của con người. Người có
năng khiếu được phát hiện, bồi dưỡng kịp thời thì có nhiều cơ hội trở thành tài năng.
Năng khiếu: Là “mầm mống” của tài năng, là tín hiệu của tài năng trong
tương lai. Năng khiếu không được tạo ra mà chỉ được tìm ra, phát hiện thấy ở trẻ
em. Năng khiếu có liên quan tới một số yếu tố bên trong dựa trên những tư chất
bẩm sinh - di truyền thể hiện ở các tố chất sinh lý, thần kinh trội tương hợp với
năng khiếu có ở một người.
và hình thoi; bước đầu tạo lập mối liên hệ giữa một số hình hình học đã học qua
các hoạt động thực hành đo, vẽ, giải quyết một số vấn đề liên quan đến các yếu tố
hình học.
+ Giới thiệu một số bài toán có lời văn (như: Tìm số trung bình cộng, tìm
hai số khi biết tổng và hiệu, tổng và tỉ số, hiệu và tỉ số của hai số đó; tìm phân số
của một số) và tiếp tục rèn luyện phát triển các năng lực giải quyết các vấn đề,
khả năng diễn đạt, thông qua giải các bài toán có lời văn.
1.3. Các văn bản chỉ đạo:
Công văn số 565/PGDĐT-KTQLCLGD ngày 17 tháng 9 năm 2013 của
Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Than Uyên về việc hướng dẫn thực hiện
nhiệm vụ Khảo thí và Quản lí chất lượng giáo dục, công tác kiểm định chất lượng
năm học 2013-2014.
Quyết định số 52/2006/QĐ-BGDĐT ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế thi chọn học sinh giỏi.
4
Chương 2
Thực trạng của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn toán lớp 4 ở trường
Tiểu học xã Mường Cang, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu
2. Những thuận lợi, khó khăn và thực trạng của việc bồi dưỡng học
sinh giỏi môn toán lớp 4 ở trường Tiểu học xã Mường Cang, huyện Than
Uyên, tỉnh Lai Châu.
2.1. Thực trạng chung:
Từ nhiều năm nay, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi được nhà trường quan
tâm; Ban giám hiệu, giáo viên bồi dưỡng xây dựng kế hoạch, lựa chọn nội dung
bồi dưỡng học sinh giỏi dựa trên kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học của
Phòng giáo dục - Đào tạo huyện Than Uyên.
Ban giám hiệu thường xuyên dự giờ, kiểm tra, trao đổi góp ý giúp giáo
viên linh hoạt, tự tin hơn trong việc lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức
tổ chức tiết học.
Nhà trường lựa chọn giáo viên dạy giỏi, nhiệt tình, giàu kinh nghiệm để
lực học tập, một số em chưa chăm học nên kết quả học tập chưa cao.
Đối với phụ huynh: Một số ít phụ huynh học sinh chưa thực sự quan tâm
đến việc học tập của con em mình, khi nhà trường chọn vào đội tuyển lại chưa quan
tâm cho đi bồi dưỡng.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị: Chưa có phòng học riêng dành cho việc bồi
dưỡng học sinh giỏi; thiết bị dạy học phục vụ cho môn toán còn thiếu.
2.3. Nguyên nhân của thực trạng:
Công tác quản lí, chỉ đạo: Trong quy chế chi tiêu nội bộ chưa có nguồn
kinh phí chi cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nên chưa động viên khích lệ
giáo viên, học sinh kịp thời.
Giáo viên: Việc phát hiện và tuyển chọn học sinh có năng khiếu, có tài
năng còn chưa chính xác và triệt để, giáo viên chưa thường xuyên, liên tục hệ
thống hóa các kiến thức cơ bản, trọng tâm sau mỗi dạng toán, Hiện nay trên trị
trường có rất nhiều tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi của các nhà xuất bản, trong
quá trình bồi dưỡng, giáo viên khó lựa chọn được tài liệu chung và chuẩn để bồi dưỡng.
Học sinh: Đa số học sinh là người dân tộc thiểu số, điều kiện kinh tế gia
đình còn khó khăn, học sinh ít được tiếp xúc với phương tiện công nghệ thông tin
hiện đại dẫn đến khả năng phát triển ngôn ngữ, tư duy, các thủ thuật giải toán,
cách ghi nhớ các công thức toán học có phần còn hạn chế.
Phụ huynh: Một số phụ huynh chưa nhận thức đúng tầm quan trọng về
công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, kinh tế gia đình còn khó khăn nên ít quan tâm,
đầu tư đến việc mua sắm tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi cho con em mình.
Qua điều tra thực tiễn, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi trong những năm
qua như sau:
6
THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG HỌC SINH GIỎI CÁC NĂM
Năm học
Số học sinh
tham gia bồi
dưỡng
Phát hiện, tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi; Tuyển chọn giáo viên giỏi;
Huy động cộng đồng tham gia công tác bồi dưỡng học sinh giỏi; Tổ chức đánh
giá và khen thưởng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
Cách thực hiện:
a. Quán triệt việc nhận thức tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng
7
học sinh giỏi ở Tiểu học:
Đây là một biện pháp đầu tiên vô cùng quan trọng. Nó quyết định việc tổ
chức bồi dưỡng môn Toán cho học sinh giỏi đi đúng hướng và có hiệu quả. Tất
cả giáo viên cần được học tập và quán triệt để thông suốt chủ trương chính sách
của Đảng và Nhà nước về công tác bồi dưỡng nhân tài.
Đồng thời tuyên truyền tăng sự hiểu biết của các bậc phụ huynh học sinh
về công tác bồi dưỡng nhân tài thông qua các buổi sinh hoạt chính trị, họp Hội
đồng giáo dục, họp phụ huynh học sinh vào dịp khai giảng năm học mới, sơ kết,
tổng kết năm học.
b. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi:
Việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi là khâu hết sức quan
trọng, là kim chỉ nam để hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi đi đúng hướng theo
chương trình. Kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi có thể xây dựng kế hoạch trung
hạn hoặc xây dựng kế hoạch ngắn hạn (theo năm học ở từng khối lớp; theo
chương trình học, thời điểm tổ chức thi ). Trong kế hoạch cần thể hiện rõ một số
vấn đề như:
- Thời gian thực hiện:
+ Tháng 8: Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi.
+ Tháng 9: Khảo sát, thành lập đội tuyển học sinh giỏi. Tổ chức họp phụ
huynh có con em trong đội tuyển.
+ Tháng 10 đến tháng 2: Tổ chức bồi dưỡng. Khảo sát chất lượng học
sinh giỏi vào ngày 20 hàng tháng. Dự giờ, kiểm tra, rút kinh nghiệm giúp đỡ giáo
viên về phương pháp bồi dưỡng
+ Tháng 3: Tổ chức thi học sinh giỏi cấp trường, lựa chọn học sinh tham
Tham mưu với các cấp chính quyền địa phương về việc hỗ trợ và huy động các
nguồn lực tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân về công tác giáo dục.
e. Tổ chức đánh giá và khen thưởng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi:
Với học sinh: Những học sinh có thành tích cao trong đợt thi học sinh giỏi
các cấp, nhà trường tổ chức tuyên dương và trao phần thưởng xứng đáng với
thành tích đạt được vào dịp tổng kết năm học. Việc này khích lệ rất lớn tới phong
trào học tập trong nhà trường, tạo niềm tin, niềm tự hào của các bậc phụ huynh.
Với giáo viên: Những giáo viên có thành tích cao trong các Hội thi giáo
viên dạy giỏi, trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, nhà trường tổ chức động
viên, tuyên dương khen thưởng vào dịp tổng kết hội thi, tổng kết năm học Đây
là công việc cần thiết nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua “Dạy tốt - học tốt”
trong tập thể sư phạm nhà trường.
3.1.2. Biện pháp 2: Đối với giáo viên.
Mục tiêu: Phát hiện, lựa chọn đúng đối tượng học sinh; lựa chọn tài liệu,
xác định nội dung cơ bản, điển hình để bồi dưỡng; cách thực hiện bồi dưỡng theo
từng mạnh kiến thức.
Nội dung: Phát hiện học sinh có năng khiếu, lựa chọn đối tượng để bồi
dưỡng tài năng; tổ chức các hoạt động dạy - học; lựa chọn tài liệu, nội dung và
cách thức hướng dẫn học sinh học một số dạng bài điển hình; tổ chức trò chơi
“Hòm thư toán học”:
Cách thực hiện:
3.1.2.1. Phát hiện học sinh có năng khiếu, lựa chọn đối tượng bồi dưỡng.
Giáo viên là người trực tiếp phát hiện thông qua các giờ dạy chính khóa,
9
ngoại khóa; tham gia ra đề, tổ chức kiểm tra, lựa chọn đối tượng học sinh theo kế
hoạch chỉ đạo của nhà trường.
Những căn cứ để lựa chọn đội tuyển:
+ Lựa chọn đối tượng học sinh thông qua quan sát hoạt động học tập trong
các tiết dạy:
Giáo viên chú ý lựa chọn qua việc học sinh trả lời câu hỏi, việc phát hiện
viên đưa ra đáp án hoặc đáp số (tùy thuộc từng bài) rồi giao nhiệm vụ cho học
sinh tự kiểm tra lẫn nhau; học sinh chữa bài bằng cách nêu miệng hoặc trình bày
10
trên bảng lớp, bảng nhóm
* Hoạt động 2: Ôn tập, mở rộng kiến thức đang học.
Giáo viên hướng dẫn học sinh ôn tập, củng cố các kiến thức cơ bản có liên
quan đến đến nội dung bài tập cần ôn trong tiết học.
Các nội dung kiến thức cơ bản học ở buổi một được mở rộng và nâng cao dần.
Những bài cung cấp kiến thức mới, giáo viên lấy ví dụ và ra bài tập mang
tính chất vui chơi để gây hứng thú học tập cho học sinh, đồng thời giúp các em
ghi nhớ được tốt hơn.
Giáo viên đưa ra các bài tập cho học sinh phải luôn theo hướng “mở”, có
như vậy mới phát huy và làm phong phú sự sáng tạo của học sinh.
Đối với các tiết luyện tập, giáo viên hướng dẫn học sinh tự tìm ra cách
làm, không nên làm thay học sinh. Khi chữa bài tập, giáo viên chữa bài một cách
chi tiết, cụ thể. Chú ý chữa những lỗi sai sót về cách trình bày, câu lời giải, đáp
số cho học sinh kịp thời.
* Hoạt động 3: Hệ thống hóa một số kiến thức cần bồi dưỡng:
Giáo viên đưa ra hệ thống bài tập nâng cao từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức
tạp; hướng dẫn, giúp đỡ các em tổng hợp các dạng bài, các phương pháp giải.
Để các em nắm vững kiến thức, mở rộng được nhiều dạng bài tập, mỗi
dạng bài phải luyện tập nhiều lần, đưa ra nhiều cách giải.
Giáo viên đầu tư nhiều thời gian, tham khảo nhiều tài liệu để đúc rút và cô
đọng nội dung chương trình bồi dưỡng, phù hợp với đối tượng học sinh và thời
gian ôn luyện.
Chọn lọc những phương pháp giải dễ hiểu nhất để hướng dẫn học sinh.
Không nên máy móc theo các sách giải; vận dụng và đổi mới phương pháp dạy
học, tạo cho học sinh có cách học mới, không gò bó, không áp đặt, tôn trọng và
khích lệ những cách giải hay, sáng tạo mà học sinh đưa ra.
* Hoạt động 4: Tổng kết và giao nhiệm vụ học tập.
Ví dụ: Bài 152 - trang 52 (Toán nâng cao Lớp 4).
Tính tổng của dãy số sau: 5 + 10 + 15 + 20 + + 295 + 300
Bài giải
Tổng gồm các số chia hết cho 5 trong phạm vi 300. Cứ 5 số tự nhiên liên
tiếp thì lại có một số chia hết cho 5, mà từ 1 đến 300 có 300 số tự nhiên liên tiếp
nên số các số hạng của dẫy số là:
300 : 5 = 60 (số hạng)
Ta lại có: 5 + 300 = 305; 10 + 295 = 305; 15 + 290 = 305;
Sắp xếp các cặp số từ hai đầu dãy số vào, ta được các cặp số đề có tổng là
305 và số cặp số là:
60 : 2 = 30 (cặp số)
Tổng các số trong dãy số là:
305 × 30 = 9150
Đáp số: 9150.
* Tính nhanh:
- Tài liệu bồi dưỡng: Toán bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 4; Toán nâng cao
lớp 4; 10 chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 4, 5; các bài tập về phân số và tỉ
số ở lớp 4 - 5.
- Hướng dẫn học sinh thực hiện một số kiểu bài điển hình:
+ Tính nhanh với số tự nhiên: Tính nhanh giá trị của biểu thức, tính nhanh
các tổng của dãy số,
+ Tính nhanh với phân số.
Cả hai kiểu bài này, chúng ta thường vận dụng tính chất giao hoán, tính
chất kết hợp (đối với phép tính cộng và phép tính nhân), tính chất nhân với 0,
nhân (chia) một số với một tổng (hiệu), một tổng (hiệu) với một số, vận dụng
nhân nhẩm và chia nhẩm với 10, 100, 1000,
12
- Cách trình bày:
Ví dụ:
a, Tính nhanh:
=
1 1 1 1 1 1 1
1 ( ) ( ) ( )
2 2 4 4 8 8 16
+ − + − + − −
= 1 + 0 + 0 + 0 -
1
16
= 1 -
1
16
=
16 1 15
16 16 16
− =
Cách 2:
1 1 1 1
2 4 8 16
+ + +
Cộng liên tiếp các phân số.
Ta có:
1 1 2 1 3 3 1
à 1 .
2 4 4 4 4 4 4
v+ = + = = −
Do đó:
1 1 1
1
2 4 4
+ = −
cuối cùng.
Do đó khi đã nắm được thuật toán này ta tính tổng như sau:
1 1 1 1
2 4 8 16
+ + +
=
1 15
1
16 16
− =
* Tìm x:
- Tài liệu bồi dưỡng: Toán bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 4; Toán nâng cao
lớp 4; 10 chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 4, 5; các bài tập về phân số và tỉ
số ở lớp 4 - 5.
13
- Hướng dẫn học sinh một số kiểu bài điển hình: Tìm số hạng chưa biết,
tìm số trừ, số bị trừ chưa biết, tìm thừa số, tìm số bị chia, số chia.
+ Hầu hết là các dạng tìm x ở các tài liệu bồi dưỡng đều phải thực hiện vài
bước tính mới đưa về các dạng cơ bản như: Tìm số hạng chưa biết, tìm số trừ, số
bị trừ chưa biết, tìm thừa số, tìm số bị chia, số chia.
+ Ở dạng toán này học sinh thường nhầm lẫn giữa tìm số chia và tìm số bị
chia chưa biết; tìm số trừ và số bị trừ chưa biết. Chính vì vậy, giáo viên yêu cầu
học sinh xác định đúng thành phần cần tìm trước khi thực hiện để trách sự nhầm
lầm lẫn.
Ví dụ: Tìm x:
Bài giải sai do nhầm lẫn trên:
563)73(519 =−+ x
73 563 519
4473
4473
51956373
=
−=
=−
−=−
x
x
x
x
943):49(936
=+
x
7
7:49
7:49
936943:49
=
=
=
−=
x
x
x
x
* Cấu tạo số tự nhiên:
- Tài liệu bồi dưỡng: Toán bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 4 - Nhà xuất bản
Giáo dục.
- Những lưu ý khi hướng dẫn học sinh:
linh hoạt các kiến thức đã học để thực hiện các phép toán ngắn gọn, khoa học
nhất.
Với cách lựa chọn tài liệu, nội dung và cách thức hướng dẫn học sinh học
một số dạng bài cơ bản ở mạch kiến thức số học, chúng tôi đã áp dụng bồi dưỡng
đối với 15 học sinh lớp 4A1 và thu được kết quả tương đối khả quan: 10/15 =
66,6% số học sinh đạt điểm giỏi; 4/15 = 26,7% số học sinh đạt điểm khá; 1 học
sinh chiếm 6,7 % ở mức điểm trung bình.
Mạch kiến thức: “Giải toán có lời văn”:
Trong mạch kiến thức này cần bồi dưỡng lồng ghép với các dạng toán cơ
bản của lớp 4, các bài toán về đại lượng và đo đại lượng, các yếu tố hình học.
* Dạng toán trồng cây:
- Tài liệu bồi dưỡng: Toán nâng cao lớp 4, Toán bồi dưỡng học sinh giỏi
lớp 4 - Nhà xuất bản Giáo dục.
- Các kiểu bài cần ôn: Trồng cây trên đường thẳng; trồng cây trên đường
khép kín.
- Cách bồi dưỡng các kiểu bài cần ôn:
+ Mặc dù trong các tài liệu bồi dưỡng đều đưa nội dung dạy học về dãy số
lên trước nhưng khi tổ chức ôn luyện cho học sinh chúng tôi chuyển nội dung
dạy dạng toán trồng cây lên trước để học sinh vận dụng giải toán về dãy số.
+ Ở dạng toán này giáo viên cần cung cấp cho học sinh các công thức tính,
rồi hướng dẫn học sinh xác định dạng toán để vận dụng công thức trên giải, cụ
thể như sau:
a, Trồng cây trên đường thẳng:
Trồng cây ở cả hai đầu đường.
Số cây = số khoảng cách + 1
Không trồng cây ở cả hai đầu đường.
Số cây = số khoảng cách - 1
15
Trồng cây ở một đầu đường.
Số cây = số khoảng cách
Số cây nhãn xung quanh hồ là:
1017: 9 = 113 (cây)
Đáp số: 113 cây
* Dạng toán: Tìm số trung bình cộng.
- Tài liệu bồi dưỡng: Toán bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 4; Toán nâng cao
lớp 4; 10 chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 4, 5; các bài tập về phân số và tỉ
số ở lớp 4 - 5.
- Các kiểu bài cơ bản: Cho biết trung bình cộng, tìm một số hạng; Cho biết
trung bình cộng, tìm nhiều số hạng; Cho biết một hoặc hai số hạng và số hạng
thứ hai hoặc thứ ba gấp (kém) trung bình cộng của hai số hạng đã cho.
- Cách bồi dưỡng các kiểu bài cần ôn:
+ Giáo viên cung cấp cho học sinh các công thức có liên quan như:
Tìm số trung bình cộng = Tổng : Số các số hạng
Tìm tổng = Trung bình cộng × Số các số hạng.
+ Đối với dạng bài cho biết trung bình cộng, tìm một số hạng và cho biết
trung bình cộng, tìm nhiều số hạng ta vận dụng công thức thứ 2 để tính.
16
+ Đối với dạng bài cho biết một hoặc hai số hạng và số hạng thứ hai hoặc
thứ ba gấp (kém) trung bình cộng của hai số hạng đã cho ta vận dụng cả hai công
thức trên để tính.
- Cách trình bày bài giải:
Ví dụ: Bốn bạn: Xuân, Hạ, Thu, Đông góp tiền mua bộ tài liẹu bồi dưỡng
học sinh giỏi môn Toán lớp 4. Xuân góp 16 000 đồng, Hạ góp 18000 đồng, Thu
góp kém mức trung bình của hai bạn trước là 800 đồng. Đông góp kém mức
trung bình của bốn bạn là 2 200 đồng. Hỏi:
a, Mức góp trung bình của bốn bạn là bao nhiêu?
b, Thu và Đông mỗi bạn góp bao nhiêu tiền?
Bài giải
Số tiền Thu góp là:
(16 000 + 18 000): 2 - 800 = 16 200 (đồng)
Số thứ nhất là:
17
(1978 + 58) : 2 = 1018
Tổng hai số kia là:
1978 – 1018 = 960
Bớt ở số thứ hai đi 36 đơn vị thì số thứ hai bằng số thứ ba, tức là số thứ hai
hơn số thứ ba 36 đơn vị, mà tổng của chúng bằng 960 nên:
Số thứ hai là:
(960 + 36) : 2 = 498
Số thứ ba là:
498 - 36 = 462
Đáp số: Số thứ nhất: 1018;
Số thứ hai: 498;
Số thứ ba: 462.
* Dạng toán: Tìm hai số khi biết tổng (hiệu) và tỉ số của hai số đó.
- Tài liệu bồi dưỡng: Toán bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 4; Toán nâng cao
lớp 4; 10 chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 4, 5; các bài tập về phân số và tỉ
số ở lớp 4 - 5.
- Các kiểu bài: Cho biết tổng, dấu tỉ số của hai số, tìm hai (hoặc ba, bốn, ) số;
cho biết tỉ số của hai số, dấu tổng của hai số, tìm hai (hoặc ba, bốn, ) số; cho biết hiệu,
dấu tỉ số của hai số, tìm hai (hoặc ba, bốn, ) số; cho biết tỉ số của hai số, dấu hiệu của
hai số, tìm hai (hoặc ba, bốn, ) số
- Cách tổ chức bồi dưỡng:
+ Đối với dạng bài cho biết tổng, dấu tỉ số của hai số, tìm hai (hoặc ba, bốn, )
số ta phải tìm tỉ số của hai số, vẽ sơ đồ minh họa rồi tìm số bé (hoặc số lớn).
+ Cho biết tỉ số của hai số, dấu tổng của hai số, tìm hai (hoặc ba, bốn, )
số. Đối với dạng bài này ta phải tìm tổng của hai số dựa vào các dữ kiện đã cho
của đề toán, vẽ sơ đồ minh họa rồi tìm số bé (hoặc số lớn).
+ Cho biết hiệu, dấu tỉ số của hai số, tìm hai (hoặc ba, bốn, ) số. Đối với
+ Bài toán về đếm số hình.
+ Một số bài toán về chu vi, diện tích của hình vuông, hình chữ nhật, hình
bình hành, hình thoi. Song tất cả các bài toán này đều liên quan đến các dạng
toán về trung bình cộng, tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số; tìm hai số khi
biết tổng ( hoặc hiệu) và tỉ số của hai số đó.
- Cách tổ chức bồi dưỡng:
+ Giáo viên hệ thống lại các kiến thức có liên quan về trung bình cộng, tìm
hai số khi biết tổng và hiệu của hai số; tìm hai số khi biết tổng (hoặc hiệu) và tỉ
số của hai số đó; các công thức tính chu vi và diện tích hình vuông, hình chữ
nhật, hình bình hành, hình thoi. Từ đó hướng dẫn học sinh vận dụng vào tùy từng
dạng bài toán.
+ Hướng dẫn học sinh một số thuật giải toán có lời văn bằng nhiều cách
giải khác nhau dựa vào các dạng toán cơ bản. Chẳng hạn: Chia hình thành nhiều
các hình khác nhau, tính diện tích các hình đã chia cộng lại để được diện tích
hình cần tìm, hay cùng một bài toán cần tìm xem vận dụng dạng toán nào để có
cách giải nhanh nhất.
- Cách trình bày bài giải:
Ví dụ: Một hình chữ nhật có chiều dài là 80m. Chiều rộng bằng
8
5
chiều
dài. Tính chu vi, diện tích hình chữ nhật đó?
Bài giải
Chiều rộng của hình chữ nhật là
80
×
8
5
= 50 (m)
được làm nhiều dạng toán nhằm phát triển khả năng tư duy, tính độc lập trong
quá trình học tập.
Giáo viên hướng dẫn học sinh tham gia sân chơi như sau:
1. Đăng kí thành viên: là các kí tự số học do giáo viên quy định. Có thể
như sau:
+ Nếu trong phạm vi lớp học quy định kí tự số: 4.01; 4.02 đến 4.24.
+ Nếu trong phạm vi khối học quy định kí tự số: 4.01; 4.02 đến 4.86.
+ Nếu hòm thư cùng giao lưu với bạn bè quy định kí tự số: 4.001; 4.002
đến 4.010.
2. Quy định chung: Giáo viên giao bài tập tới các các thành viên trong câu
lạc bộ theo hệ thống kiến thức đang và đã ôn tập thông qua hòm thư cá nhân. Mọi
thành viên trong câu lạc bộ tích cực tự học, tự sưu tầm, gửi bài, nộp bài và tự
đánh giá bài của bạn đúng thời gian quy định.
3. Quy định cụ thể: Mỗi thành viên trong một tuần (thời gian do giáo viên
quy định) cần tự sưu tầm và gửi ít nhất một bài toán đến hộp thư của thành viên
khác và nhận các bài toán từ bạn hay cô giáo gửi rồi giải và nộp bài vào hòm đáp án.
Hàng ngày hoặc hàng tuần cô giáo hay các bạn có thể kiểm tra bài làm của
các thành viên, chấm điểm và ghi điểm công khai trên bảng điểm.
Kết thúc tháng cô giáo cùng các thành viên tổng kết điểm của từng thành
viên. Tuyên dương những thành viên đạt số điểm cao nhất, khích lệ các thành
viên khác tích cực tham gia câu lạc bộ.
4. Mẫu thiết kế “Hòm thư toán học”.
20
Với trò chơi ở trên, chúng tôi nhận thấy 15/15 thành viên trong đội tuyển tham
gia rất tích cực. Mỗi tuần các thành viên đều gửi tối thiểu 3 đề bài cho bạn và tham
gia giải bài được giao đầy đủ. Qua kiểm tra bài làm, chúng tôi đánh giá khoảng 90%
số bài làm của các thành viên đều đạt kết quả tốt. Bên cạnh đó, còn ít bài làm học sinh
chưa hoàn thiện, với những bài đó giáo viên đã cùng học sinh phân tích để thấy được
lỗi mà học sinh mắc phải và cùng nhau sửa chữa từ đó rút kinh nghiệm cho những bài
tác bồi dưỡng học sinh giỏi, chưa quan tâm cho học sinh đi bồi dưỡng khi con em
được lựa chọn vào đội tuyển: Nhà trường, giáo viên chủ nhiệm, các đoàn thể
trong nhà trường cùng phối hợp với Ban chỉ đạo phổ cập, chính quyền địa
phương tuyên truyền, vận động để phụ huynh học sinh thấy được tầm quan trọng
của việc bồi dưỡng học sinh giỏi từ đó tạo điều kiện cho con có thời gian học tập
ở lớp cũng như ở nhà, đầu tư mua sắm đủ tài liệu cho học sinh như: Toán nâng
cao lớp 4; Toán bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 4; 10 chuyên đề bồi dưỡng học sinh
giỏi lớp 4 - 5; Các bài tập về phân số và tỉ số ở lớp 4 - 5 của nhà xuất bản giáo dục.
3.2. Hiệu quả của sáng kiến.
* Đối tượng thực nghiệm:
27 học sinh từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2013 - 2014 trường Tiểu
học xã Mường Cang - Than Uyên - Lai Châu.
* Kết quả thực nghiệm:
Vận dụng các biện pháp về kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi môn toán
lớp 4 từ tháng 9 năm 2014 đến tháng 3 năm 2014 kết quả thực nghiệm đạt được
như sau:
THỐNG KÊ KẾT QUẢ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
Năm học: 2013-2014
Thời điểm
khảo sát
Số học sinh
tham gia bồi
Kết quả khảo sát
Giỏi % Khá %
Trung
bình
%
Đầu năm 15 0 3 20 12 80
Giữa HKI 15 1 6,7 5 33,3 9 60
Cuối HKI 15 2 13,4 8 53,3 5 33,3
đối tượng học sinh, cách ghi nhớ các công thức, các thủ thuật giải toán nhanh và
bằng nhiều cách giải khác nhau để từ đó tìm ra cách giải hay, chính xác nhất.
Việc phát hiện, lựa chọn đối tượng học sinh để bồi dưỡng cần được thực
hiện ngay từ lớp 2.
Tổ chức bồi dưỡng trong các tiết học chính khóa và vào buổi 2. Hàng
tháng kiểm tra khảo sát chất lượng, đánh giá kết quả học tập của học sinh để kịp
thời điều chỉnh nội dung và phương pháp bồi dưỡng.
Phối hợp tốt với phụ huynh học sinh để thống nhất phương pháp giáo dục,
kèm cặp học sinh tự học ở nhà.
3.3.2. Ý nghĩa: Bồi dưỡng học sinh giỏi là một quá trình lâu dài. Cần phải
bồi dưỡng hứng thú và tính tích cực, độc lập nghiên cứu của học sinh. Bồi dưỡng
học sinh giỏi là công việc không thể thiếu và diễn ra hàng năm. Tổ chức bồi
dưỡng học sinh giỏi ở trường tiểu học là để phát huy hết “Khả năng phát triển
tiềm tàng” ở trẻ, là tạo nguồn học sinh giỏi cho các cấp học tiếp theo, thực hiện
chiến lược “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước.
Đối với cán bộ quản lí: Nâng cao chất lượng giáo dục đại trà, chất lượng
23
học sinh giỏi các cấp hàng năm.
Đối với giáo viên: Lựa chọn đúng đối tượng học sinh, lựa chọn tài liệu bồi
dưỡng phù hợp, cách thức, hình thức tổ chức, phương pháp dạy học linh hoạt, sát
đối tượng học sinh.
Đối với học sinh: Cách ghi nhớ các công thức, thủ thuật giải toán, phát
triển tư duy.
3.3.3. Tính khả thi và khả năng áp dụng, triển khai của sáng kiến:
a)Tính khả thi: Vận dụng có hiệu quả trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi
môn toán lớp 4 tại trường Tiểu học xã Mường Cang huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
b) Khả năng áp dụng, triển khai: Có khả năng áp dụng, triển khai có hiệu
quả trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Toán lớp 4 tại trường Tiểu học vùng 2.
PHẦN KẾT LUẬN
24
Mường Cang, ngày 25 tháng 3 năm 2014
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
NGƯỜI THỰC HIỆN
(Ký, ghi rõ họ tên)
Phạm Thị Mừng Lê Thị Oanh Hà Thị Thu Nguyệt
PHỤ LỤC
25