HÌNH TƯỢNG QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ CA 1945-1975
I GIỚI THIỆU:
1. Bối cảnh XH
- QHĐN là nguồn cảm hứng lớn cho VH mọi thời đại và cũng là nguồn cảm hứng chủ đạo trong
thơ ca 1945-1975.
- Cảm hứng về QHĐN được mỗi nhà thơ cảm nhận từ nhiều gốc độ: ĐN hiện lên trong niềm tự
hào về một TQ giàu đẹp, về một dân tộc anh hùng tình nghĩa. ĐN hiện lên trong sự căm giận
khi TQ đau thương vì chiến tranh và niềm hân hoan về một ĐN kiên cường bất khuất trong
chiến đấu→ tạo nên một hình tượng chung về ĐN.
- Tác phẩm: Việt Bắc ( Tố Hữu), Đất Nước ( Nguyễn Khoa Điềm), Đất Nước ( Nguyễn Đình
Thi), Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm)…
II. NỘI DUNG:
1. Càm hứng về ĐN VN giàu đẹp:
a. ĐN được khám phá ở vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên:
* Việt Bắc ( Tố Hữu): Đó là bức tranh bốn mùa bình dị, thơ mộng của núi rứng Việt Bắc:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi,
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng,
Nhớ cô em gái hái măng một mình.
Rừng thu trăng rọi hòa bình,
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.
* Đất Nước của Nguyễn Đình Thi: Đó là cảm xúc của tác giả về một ĐN giàu đẹp.
- Vẫn là một buổi sáng mùa thu ở chiến khu Việt Bắc, trong không khí trời trong xanh, gió mát
mẻ→ gợi cảm xúc vui tươi hạnh phúc cho tác giả, làm cho tác giả nhớ về mùa thu xưa:
Sáng mát trong như sáng năm xưa,
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa.
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà nội
Những phố dài xao xác hơi may.
“ ĐN lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
- ĐN gắn với thuần phong mĩ tục của người phụ nữ Việt Nam: Tập tục bới tóc sau đầu
“ Tóc mẹ thì bới sau đầu”
- ĐN có từ trong lối sống giàu tình nghĩa của cha mẹ, của dân tộc Việt Nam:
“ Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”
- ĐN lớn lên gắn liền với quá trình lao động của dân ta để tạo ra mái nhà che mưa che nắng, tạo
ra hạt gạo để nuôi sống con người:
“ Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương, xay, giã, giần, sàng.”
*Tác giả cảm nhận ĐN ở phương diện chiều rộng của không gian địa lí: ĐN là không gian sinh
hoạt quen thuộc “ con đường đến trường, là nơi em tắm”, là không gian gắn liền với tình yêu
đôi lứa “ là nơi ta hò hẹn, là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nổi nhớ thầm”,ĐN là không gian
mênh mông của “núi, sông, rừng biển” là không gian văn hóa của dân ta;
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm.
Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”
Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”
*Tác giả cảm nhận ĐN ở phương diện chiều dài của thời gian lịch sử: ĐN là nơi đoạn tụ của
dân mình. ĐN là vùng đất lành để chim đậu, vùng đất linh thiêng để giống tiên rồng ở. ĐN có
nòi giống con rồng cháu tiên, có mối quan hệ giữa quá khứ- hiện tại –tương lai:
Đất là nơi chim về
Nước là nơi rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng
Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái.”
- Những cô gái hái măng giữa rừng nhưng cô không thấy lẻ loi cô đơn vì cô đã hòa nhập hồn
mình với bản nhạc rừng vui tươi, sinh động.
“ Nhớ cô em gái hái măng một mình”
- Người dân Việt Bắc với khúc hát ân tình, thủy chung với Cách mạng.
“ Nhớ ai khúc hát ân tình thủy chung”
.Đất Nước ( Nguyễn Khoa Điềm). Nhấn mạnh tư tưởng cốt lõi “ ĐN của nhân dân”
Đó là những con người đã hóa thân cho dáng hình xứ sớ, làm nên những danh lam thắng
cảnh đẹp cho Quê hương ĐN:
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho ĐN những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
…
Người học trò nghèo góp cho ĐN mình núi Bút, non Nghiêng
……
Những người dân nào đã góptên Ôn Đốc, Ông Trang, Bà Đen Bà Điểm.
Khi nói về bốn nghìn năm lịch sử của ĐN, tác giả nhấn mạnh:
Chính nhân dân là những người chiến đấu, hi sinh để bảo vệ ĐN:
- Trong cuộc sống thời bình, họ là những người lao động cần cù chất phác “ Cần cù làm lụng”
- Khi có giặc thì họ sẵn sàng tham gia đánh giặc:
“ Khi có giặc thì người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ngày giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”
- Và họ đã thầm lặng hi sinh, đã trở thành những chiến sĩ vô danh:
“ Nhưng em biết không
Có biết bao người con gái, con trai
Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”
- Khi ĐN thanh bình, họ trở về quê hương. Từ anh hùng trên mặt trận vũ trang họ trở thành anh
Núi giăng thành lũy sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.
b. Nỗi đau xót trước cảnh quê hương bị tàn phá
.Đất Nước ( Nguyễn Đình Thi): ĐN đầy đau thương, chết chóc đã thúc đẩy con người ra đi
giết giặc cứu nước:
“ Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bổng bồn chồ nhớ mắt người yêu”
→ Cảnh quê hương màu mở trù phú nay còn đâu vì kẻ thù đến giày xéo ĐN làm ĐN tan hoang,
đổ máu vì chiến tranh→ gây lòng căm thù giặc trong nhân dân quyết chí đứng lên đánh giặc
ngoại xâm.
. Dọn về làng ( Nông Quốc Chấn):Nồi thông khổ của nhân dân trong cảnh chạy giặc.
- Cuộc sống yên bình, những sinh hoạt truyền thồng của người dân bị đảo lộn:
“Mấy tháng năm qua quên tết tháng giêng, quên rằm tháng bảy
Chạy hết núi khe, cay đắng đú mùi”
- Giặc đến gây cảnh tan hoang , nhà cửa bị đốt cháy:
“Súng nổ kìa! Giặc Tây lại đến lùng,
Từng cái lán, nó đốt đi trơ trụi”
- Cả gia đình phải bồng bế dắt nhau chạy giặc:
“Mẹ địu con chạy tót lên rừng,
Lần đi trứơc, mẹ vẫy con sau lưng
Tay dắt bà, vai đeo đầy tay nải
Bà bị lòa mắt không biết lối bước đi”
-Giặc giết người gây cảnh li tán gia đình:
“ Giặc đã bắt cha con đi, nó đánh
Cha chửi việt gian, cha đánh lại Tây
Súng liền nổ ngay cùng một loạt
Cha ngã xuống nằm trên mặt đất
Cha ơi! Cha không biết nói rồi…
“Từng cái lán, nó đốt đi trơ trụi
Nó vét hết áo quần trong túi
Mẹ địu con chạy tót lên rừng
…
- Tố cáo tội ác kẻ thù đã giết chóc gây cảnh li tán gia đình
“ Giặc đã bắt cha con đi, nó đánh
Cha chửi việt gian, cha đánh lại Tây
Súng liền nổ ngay cùng một loạt
Cha ngã xuống nằm trên mặt đất
Cha ơi! Cha không biết nói rồi…
. Liên hệ bài “Bên kia sông Điống” (Hoàng Cầm)
- Tố cáo tội ác gây cảnh đau thương loạn lạc
“ Bên kia sông Đuống
Ta có đàn con thơ
Ngày tranh nhau một bát cháo ngô
Đêm ríu ríu chui gầm giường tránh đạn
Lấy mẹt quây tròn
Tưởng làm tổ ấm
Trong giấc thơ ngây, tiếng súng dồn tựa sấm
Ú ớ cơn mê
Tho thót giật mình
Bóng giặc giày vò những nét môi xinh
- Tố cáo tội ác gây cảnh tang tóc, chia lìa
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô,
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắt máu
Kiệt cùng ngỏ thẳm bờ hoang
………………………….
Nhưng chính họ đã làm nên Đất Nước”
3. Cảm hứng về Đất Nước bất khuất, quật khởi, kiên cường:
a. Lòng căm thù giặc và tự nguyện đứng lên giết giặc cứu nước:
* Từ tội ác dã man của kẻ thù gây cảnh tan thương đã dẫn đến lòng căm thù giặc sâu sắc cho
nhân dân và họ đã biến căm thù thành hành động đứng lên đánh giặc để trả thù:
- “ Từ những năm đau thương chiến đấu
Đã ngời lên nét mặt quê hương
Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu
Đã bật lên những tiếng căm hờn”
(Đất Nước ( Nguyễn Đình Thi)
- “ Mày sẽ chết thằng giặc pháp hung tan
Băm da thịt mày tao mới hả”
( Dọn về làng- Nông Quốc Chấn)
. Liên hệ bài “Bên kia sông Điống” (Hoàng Cầm)
“Bộ đội bên sông đã về
Con bắt đầu xuất kích
Trại giặc bắt đấu run trong sương
Dao lóe giữa chợ
Gậy lùa cuối thôn”
…
“Để con đi giết giặc
Lấy máu nó rửa thù này”
* Một hình ảnh của Đất nươc Việt Nam vùng lên đánh giặc và giành thắng lợi
.Đất Nước ( Nguyễn Đình Thi):
- Với ý chí chiến đấu, tinh thần yêu nước, yêu độc lập tự do của dân ta, dù kẻ thù có hung bạo,
vũ khí có hiện đại cũng không thể tiêu diệt được:
“ Xiềng xích chúng bây không khóa được
Trời đầy chim và đất đầy hoa
Súng đạn chúng bây không bắn được
“ Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”
- Tình đoàn kết giữa quân dân tạo nên khí thế dũng mãnh của cuộc kháng chiến
“ Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”
- Dù cuộc sống kháng chiến có khó khăn gian khổ, nhưng họ vẫn tin tưởng vào ngày mai ĐN
tươi sáng.
“ Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Ngày mai bật sáng như ngày mai lên”
- Với khí thế chiến đấu dũng cảm đã giánh những chiến thăng vẻ vang và niềm vui ngày càng
mở rộng, nhân lên:
“ Tin vui chiến thắng trăm miền
Hòa bình Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đống tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, Đèo De, núi Hồng”
c.Niềm tự hào, niềm lạc quan yêu đời, niềm tin vào tương lai của ĐN:
- Tự hào về truyền thống đấu tranh kiên cường của ĐN, tự hào về lịch sử vẻ vang của dân tộc:
“ Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về”
(Đất Nước - Nguyễn Đình Thi)
- Tự hào về những con người bình thường nhưng làm nên ĐN:
“ Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
“ Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
………………………………………
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”
Kết luận:
-Nhìn chung cảm hứng về QHĐN đã đem đến cho thơ ca 45-75 tính trữ tình, chiến đấu sâu sắc,
có giá trị nghệ thuật cao. Những bài thơ đã bồi dưỡng lòng yêu nước, động viên nhân dân chiến
đấu và góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Pháp, Mĩ đến thắng lợi.
-Cảm hứng về ĐN trong thơ ca 45-75 là kết quả của những xúc động sâu sắc trước hình tượng
lớn lao của cuộc kháng chiến, đồng thời cũng là cảm nhận vừa cụ thể vừa khái quát thể hiện sâu
sắc trách nhiệm công dân của người chiến sĩ khi ĐN bị xâm lược.