Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học nông nghiệp hà nội
NGUYễN THANH HUYềN
NGHIấN CU C IM SINH VT HC,
SINH THI HC V BIN PHP PHềNG CHNG RP SP
BT Planococcus lilacinus (Cockerell) TRấN CY TO TA
TI LNG GIANG, BC GIANG NM 2012
Chuyên ngành : bảo vệ thực vật
M số : 60.62.01.12
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp iii
LỜI CẢM ƠN
ðể ñề tài ñược hoàn thành tốt, trong suốt thời gian thực tập, nghiên cứu, tôi
ñã nhận ñược sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của Giáo viên hướng dẫn, của các tập
thể, cá nhân, sự ñộng viên của gia ñình và bạn bè.
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới cố GS. TS.
NGƯT. Hà Quang Hùng – Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội ñã dành cho tôi
sự chỉ dẫn và giúp ñỡ tận tình trong suốt thời gian thực tập và nghiên cứu hoàn
thành ñề tài.
Tôi xin cảm ơn sự giúp ñỡ của tập thể các thầy, cô giáo bộ môn Côn trùng –
Khoa Nông Học – Trường ðại Học Nông Nghiêp Hà Nội, lãnh ñạo và tập thể cán
bộ Trung tâm nghiên cứu cây ăn quả và lâm nghiệp Bắc Giang ñã tạo ñiều kiện giúp
ñỡ tôi trong quá trình thực hiện ñề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn lãnh ñạo và tập thể cán bộ Cơ quan Thường trực
Huyện ñoàn Yên Thế, Bắc Giang ñã ñộng viên và tạo ñiều kiện thuận lợi cho tôi
hoàn thành khóa học và thực hiện ñề tài nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình ñến tất cả bạn bè, người thân
và gia ñình ñã luôn ñộng viên và tạo ñiều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành nghiên
cứu này.
Bắc Giang, ngày 22 tháng 11 năm 2013
2.3 Nội dung nghiên cứu 22
2.4 Phương pháp nghiên cứu: 23
2.4.1 Nghiên cứu ñặc ñiểm hình thái và sinh học của rệp sáp bột
Planococcus lilacinus Cockerell 23
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu ngoài ñồng 24
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp v
2.4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp tỉa cành tạo tán cây táo tới mật
ñộ của rệp sáp bột Planococcus lilacinus Cockerell tại Lạng Giang,
Bắc Giang năm 2012 26
2.4.4 ðánh giá hiệu lực của một số loại thuốc ñối với phòng trừ rệp sáp bột
Planococcus lilacinus Cockerell 26
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 27
CHƯƠNG 3 KÊT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Thành phần sâu hại trên táo ta tại Lạng Giang, Bắc Giang năm 2012 30
3.2 Một số ñặc ñiểm hình thái và sinh học của rệp sáp bột Planococcus
lilacinus Cockerell hại trên cây táo ta 32
3.2.1 ðặc ñiểm hình thái của rệp sáp bột Plannococcus lilacinus Cockerell
trên cây táo ta tại Lạng Giang, Bắc Giang năm 2012 32
3.3 Diễn biến mật ñộ và tỷ lệ hại của rệp sáp bột Planococcus lilacinus
Cockerell trên cây táo ta theo thời gian. 39
3.4 Diễn biến mật ñộ và tỷ lệ hại của rệp sáp bột Planococcus lilacinus
Cockerell trên các giống táo ta ñang trồng phổ biến tại Lạng Giang,
Bắc Giang năm 2012 42
3.5 Diễn biến mật ñộ và tỷ lệ hại của rệp sáp bột Planococcus lilacinus
Cockerell ở các giai ñoạn sinh trưởng, phát triển khác nhau của cây
táo tại Lạng Giang, Bắc Giang năm 2012 45
3.6 Diễn biến mật ñộ và tỷ lệ hại của rệp sáp bột Planococcus lilacinus
Cockerell trên các tầng tán khác nhau của cây táo tại Lạng Giang, Bắc
5 TP Thành phố
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp viii
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
3.1 Thành phần sâu hại trên cây táo ta tại Lạng Giang, Bắc Giang năm 2012 30
3.2 Kích thước cơ thể các pha phát triển của rệp sáp bột Planococcus
lilacinus Cockerell tại Lạng Giang, Bắc Giang 34
3.3 Thời gian phát dục các pha của rệp sáp bột Planococcus lilacinus
Cockerell trên cây táo ta tại Lạng Giang, Bắc Giang năm 2012 36
3.4 Khả năng ñẻ và thời gian ñẻ của rệp sáp bột Planococcus lilacinus
Cockerell 38
3.5 Mật ñộ và tỷ lệ hại trung bình của rệp sáp bột Planococcus lilacinus
Cockerell trong các tháng khác nhau tại Lạng Giang, Bắc Giang năm 2012 39
3.6 Diễn biến mật ñộ, tỷ lệ hại của rệp sáp bột Planococcus lilacinus
Cockerell trên các giống táo khác nhau tại Lạng Giang, Bắc Giang
năm 2012 43
3.7 Diễn biến mật ñộ, tỷ lệ hại của rệp sáp bột Planococcus lilacinus
Cockerell ở các giai ñoạn phát triển khác nhau của cây táo ðài Loan
tại Lạng Giang, Bắc Giang năm 2012 46
3.8 Diễn biến mật ñộ và tỷ lệ hại của rệp sáp bột Planococcus lilacinus
Cockerell trên các tầng tán khác nhau của cây táo tại Lạng Giang,
Bắc Giang năm 2012 50
3.9 Mật ñộ rệp sáp bột Planococcus lilacinus Cockerell ở các ñoạn cành
khác nhau trên cây táo ta tại Lạng Giang, Bắc Giang năm 2012 51
3.10 Ảnh hưởng của tuổi cây ñến tỷ lệ hại của rệp sáp bột Planococcus lilacinus
Cockerell trên cây táo ta tại tại Lạng Giang, Bắc Giang năm 2012 52
Bắc Giang năm 2012 48
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp 1
MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Táo ta Ziziphus mauritiana Lamk là loại cây ăn quả của vùng nhiệt ñới thuộc
họ Táo (Rhamnaceae). Tại Trung Quốc, nó ñược gọi là táo chua, táo Ấn ðộ hay táo
ðiền ( Táo Vân Nam). Cây có thể lớn rất nhanh, thậm chí trong các khu vực khô và
cao tới 12 mét và ñạt tuổi thọ 25 năm. Nó có nguồn gốc ở Châu Á mặc dù có cũng
có thể thấy ở châu Phi. Quả là loại quả hạch, khi chín nó mềm, chứa nhiều nước, có
vị ngọt. Các quả chín vào khoảng thời gian khác nhau ngay cả khi chỉ trên một cây
và có màu xanh lục nhạt khi còn xanh, vàng nhạt khi chín. Kích thước và hình dạng
quả phụ thuộc vào các giống khác nhau trong tự nhiên cũng như loại ñược trồng.
Quả ñược dùng ñể ăn khi ñã chín hoặc ngâm rượu hay sử dụng ñể làm ñồ uống. Nó
là một loại quả giàu chất dinh dưỡng và chứa nhiều Vitamin C
Táo ñược trồng nhiều ở các nước xứ nóng như châu phi, Ấn ðộ, Trung
Quốc, các nước vùng ðịa Trung Hải, Trung Á, Việt Nam và các nước ðông Nam
Á khác…
Ở Việt Nam táo cũng ñược trồng từ rất lâu ñời và ñã trở thành loại quả dân
gian tượng trưng cho các loại quả chua. Vùng phân bố nhiều nhất như Ninh Thuận,
Tiền Giang và một số tỉnh ñồng bằng sông hồng. Các giống táo ta ở Việt Nam thuộc
nhóm giống táo Ấn ðộ. Chủ yếu là các giống táo chua, táo Thiện Phiến ngọt, táo
Gia Lộc, mới nhập vào giống táo Thái Lan. Một số giống chọn lọc trong nước như
táo số 12, số 32, táo ðào Tiên.
Bắc Giang là tỉnh miền núi phía Bắc, với ñịa hình ña dạng vừa miền núi, vừa
trung du lại có ñồng bằng xen kẽ. Bắc Giang có nhiều thuận lợi ñể phát triển kinh
tế, ñặc biệt là phát triển một nền nông nghiệp toàn diện với nhiều sản phẩm hàng
hoá phong phú có giá trị kinh tế cao, trong ñó tỉnh luôn tập trung vào phát triển kinh
o
C).
Rệp sáp bột Planococcus lilacinus Cockerell bám từng ổ trên ñọt non, mặt
dưới lá và chùm hoa, bên ngoài có lớp bột trắng bao phủ. Rệp chích hút nhựa làm lá
và chùm hoa xoăn lại, ñồng thời giúp nấm bố hóng phát triển . Do cơ thể của loài
rệp này ñược bao phủ bởi sáp nên sử dụng thuốc hóa học ñể phòng trị không phải là
ñiều ñơn giản và việc sử dụng thuốc hóa học không ñúng có thể ảnh hưởng ñến
thiên ñịch của rệp sáp trong tự nhiên. ðể chủ ñộng phòng chống sâu hại trên cây
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp 3
táo, ñặc biệt là rệp sáp mềm Planococcus lilacinus Cockerell và ñưa ra ñược một số
biện pháp phòng trừ có hiệu quả trong sản xuất táo chúng tôi tiến hành nghiên cứu
ñề tài:
Nghiên cứu ñặc ñiểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng
chống rệp sáp bột Planococcus lilacinus (Cockerell) trên cây táo ta tại Lạng
Giang, Bắc Giang năm 2012.
1.2 Mục ñích, yêu cầu của ñề tài
1.2.1 Mục ñích
Trên cơ sở xác ñịnh thành phần sâu hại táo ta; ñồng thời nghiên cứu ñặc
ñiểm sinh học, sinh thái của rệp sáp bột Planococcus lilacinus Cockerell ñể làm cơ
sở ñề ra các biện pháp phòng chống có hiệu quả.
1.2.2 Yêu cầu
- Xác ñịnh ñược thành phần và mức ñộ phổ biến của sâu hại táo ta tại Lạng
Giang, Bắc Giang.
- Nắm ñược diễn biến mật ñộ và tỷ lệ hại của rệp sáp bột Planococcus
lilacinus Cockerell tại Lạng Giang, Bắc Giang.
- Nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh học, sinh thái của rệp sáp bột Planococcus
lilacinus Cockerell.
- Khảo nghiệm hiệu lực thuốc BVTV ñối với rệp sáp bột Planococcus
ñường và ngọt, tương tự như quả chà là về cấu trúc và hương vị. (dẫn heo trang
vi.wikipedia.org)
Zizyphus hay Jujube( táo Trung Quốc hay còn gọi là táo Tàu) và Ziziphus
mauritiana Lamk ( táo Ấn ðộ) là hai loại quan trọng nhất. Táo Trung Quốc trồng ở
khí hậu ôn ñới, cây nhỏ, mọc ñứng cao 6-8m. Lá cớ màu xanh bóng và mặt lưng lá
nhẵn. Cây rụng lá hàng năm, quả dài hay ô van, khi chín có màu ñỏ. Táo Ấn ðộ,
cây sinh trưởng khỏe, nhỏ, tán xòe với nhiều cành rũ xuống. Lá có ñặc ñiểm khác
với táo Trung Quốc là ở mặt lưng lá có lớp lông nâu dày, cây xanh quanh năm, quả
tròn hay ô van, khi chín thường màu vàng. Táo tàu Z. zizyphus có lẽ là loài ñược
biết ñến nhiều nhất. Các loài khác như Z. spinachristi ở tây nam châu Á, Z. lotus ở
khu vực ðịa Trung Hải và táo ta Z. mauritiana ở miền tây châu Phi kéo dài về phía
ñông tới Ấn ðộ, Vân Nam, miền bắc Việt Nam. Ziziphus joazeiro (Mart.) phát triển
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp 5
ở khu vực Caatinga của Brasil. Trong y học cổ truyền Trung Quốc, hột quả táo chua
(Ziziphus jujuba spinosa) ñược coi là có vị chua (toan) và ngọt (cam) cũng như
trung hòa trong phản ứng (tính bình, không ñộc). Nó có tác dụng ñối với tim, gan,
mật, lá lách. Sử dụng trong ñiều trị các chứng cáu kỉnh, mất ngủ và hạ huyết áp.
(dẫn theo trang vi.wikipedia.org).
Ở Ấn ðộ hầu như có ñủ các loại cây dại, bán hoang dại và cây trồng. Ở
Trung Quốc táo ñược trồng rất sớm, cách ñây 3.000 năm người ta ñã mô tả 11 giống
táo ở Trung Quốc. Theo số liệu thống kê thì ñến năm 1988 Trung Quốc có 33.3 vạn
ha với sản lượng 57,2 vạn tấn ñứng vị trí thứ 7 sau táo tây, lê, cam quýt, chuối, nho
hồng và chiếm 24,8% tổng sản lượng quả toàn quốc. Ở Ấn ðộ theo V.P Fharma và
C.N. Kore (1990) có khỏang 12.000 ha trồng nhiều ở vùng ñồng bằng và các bang
Punjab, Haryana, Rajasthan và Uttar Pradesh. Ngòai ra còn trồng ở các vùng khô
hạn ở Madha Pradesh, Bihar. (Cây táo và kỹ thuật trồng, NXB Lao ñộng, 2003).
Các vùng sản xuất lớn cho Ấn ðộ táo tàu là khu vực khô hạn và bán khô cằn
của Ấn ðộ. Từ năm 1984 ñến 1995 với các giống cải tiến với diện tích 88,000ha ñã
bao bọc bên ngoài cơ thể, do vậy khi phun thuốc, thuốc khó tiếp xúc với cơ thể rệp.
Mặt khác rệp lại ñược các loài kiến bảo vệ, vì thế việc phòng trừ rệp bằng thuốc hoá
học có tác dụng tiếp xúc là hiệu quả (G.A Wood, 1985).
Họ Pseudococcidae là họ lớn thứ hai trong tổng họ Coccoidea, trên thế giới
có khoảng hơn 1100 loài thuộc 210 giống. Ở Châu Âu các nhà khoa học ñã ghi nhận
ñược 32 giống với 86 loài (Kosztarab et al, 1988). Williams và Watson (1988) Rệp
sáp Ferrisia, chi Fullaway, và ñặc biệt là loài ăn tạp F. virgata (Cockerell) và F.
malvastra (McDaniel), cũng ñược biết ñến như loài gây hại cho cây trồng.
Theo Stijn (2004) có trên 250 loài xuất hiện ở lục ñịa nước Mỹ, gần như
chúng chỉ gây hại cây ký chủ thích hợp, là loài ăn tạp và là môi giới truyền bệnh
virus cho cây trồng. Còn theo Bidhan (2006) trên thế giới họ rệp giả sáp
Pseudococcidae có khoảng 400 loài.
Theo thống kê của Robert et al., (2005) loài rệp sáp Planococcus minor ñược
ghi nhận là loài dịch hại trên hơn 250 cây ký chủ ở vùng nhiệt ñới Châu Phi, Châu
Úc, vùng cận Bắc Cực, vùng cận nhiệt ñới và vùng ðông Nam Á. Những cây trồng
bị thiệt hại ñáng kể bởi loài dịch hại này là chuối, cam quýt, cacao, cà phê, ngũ cốc,
nho, xoài, khoai tây và ñậu tương. Planococcus minor là loài chích hút dịch cây,
nhìn chung loài này có thể làm giảm năng suất, chất lượng cây và quả, làm lùn, biến
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp 7
màu và rụng lá cây. Chúng cũng có thể là môi giới truyền một số virut thực vật quan
trọng cho cây.
Cũng theo thống kê của Robert et al.(2005) ngoại trừ một số ít loài như
Planococcus citri thì những chi tiết về các pha phát dục của nhiều loài rệp sáp, cụ
thể là Planococcus minor còn chưa ñược biết rõ. Về ñặc ñiểm hình thái thì loài
Planococcus minor rất giống loài P. citri .
Bruno et al., (2005) cho rằng rệp sáp gây hại trên các cây như: cam quýt, ca
cao, sầu riêng, chôm chôm, vải thiều, mãng cầu ta (na dai), mãng cầu xiêm và nhiều
cây cảnh khác. Và rệp sáp cũng là một loại dịch hại chủ yếu và thường xuyên khắp
hình bầu dục, màu xanh thẫm, có lông mịn hãy nhẵn ở mặt trên, co lông dày ở mặt
dưới, 3 gân gốc rõ. Hoa mọc thành xim ở nách lá tương tự táo ta. Hoa nở từ tháng 5
ñến tháng 9. Quả chín từ tháng 10 ñến tháng 12. Quả hạch nạc, hình cầu hay hình
trứng, màu ñen nhạt, có ñài và vòi còn lại. Vì lẽ trên giống táo ở Việt Nam rất
phong phú, mỗi ñịa phương thường có một giống táo nhất ñịnh mà ñến nay người ta
chưa tìm hiểu hết ñược. Mặt khác, trong quá trình trồng trọt, con người luôn luôn di
chuyển giống từ nơi này ñến nơi khác và thường nhân giống bằng phương pháp hữu
tính ( gieo hạt) nên khả năng phân ly biến dị rất lớn làm cho cùng một giống có thể
phân hóa thành rất nhiều dạng khác nhau, nếu không nắm vững lý lịch và khảo sát
kỹ có thể nhầm tưởng là nhiều giống khác nhau.
Tập quán cổ truyền của nhân dân vùng táo Hải Dương và Hưng yên là giảm
rễ, tuy giữ ñược ñặc tính giống nhưng hệ số nhân giống rất thấp, hại cây mẹ. Vào
những năm 1960, người ta ñã tìm ra cách chiết cành nhưng nhược ñiểm lớn là hệ số
nhân giống thấp, tỷ lệ ra rễ không cao, thường chỉ ñạt trên dưới 50%, thao tác chiết
cành khá phức tạp.
Từ những năm 1970, sau khi hoàn thiện nghiên cứu kỹ thuật ghép táo trường
ðại học Nông Nghiệp I Hà Nội ñã phổ biến kỹ thuật và ñã ñược áp ứng dụng rộng
rãi cho ñến ngày nay. Nhờ có kỹ thuật ghép táo, việc mở rộng diện tích trồng táo ở
các tỉnh miền Bắc tăng nhanh, nhất là từ khi có phong trào vườn quả Bác Hồ ñầu
những năm 80 (Trần Thế Tục, Phạm Văn Côn, 2003)
Cũng theo Trần Thế Tục, Phạm Văn Côn, (2003) táo rất cần nước vì có khối
lượng lá, hoa, quả nhiều, tổng diện tích thoát hơi nước rất lớn. Do ñó táo luôn luôn
yêu cầu ẩm ñất 70-75%, nếu thấp dưới 70% thì sinh trưởng chậm, quả bé. Vì thế
trong thời kỳ gặp hạn phải chú ý tưới nước ñầy ñủ. Tuy táo có khả năg chịu ẩm và
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp 9
chịu úng, nhưng bị úng kéo dài cũng không có lợi, cây con dễ bị chết, cây lớn dễ bị
vàng lá, rụng hoa, rụng quả non và thối quả nặng, ñặc biệt khi ẩm ñộ không khí cao
trên 85%.
giống phổ biến như Lepidosaphes, Aonidiella, Coccus và Saissetia và nhóm rệp sáp
bông với các giống và loài phổ biến như Pseudococcus,Planococcus và Icerya
purchasi.
Tất cả các loài này ñều có ñặc ñiểm chung là cơ thể tiết ra một lớp sáp che
chở cho cơ thể, lớp này hình thành nên một lớp vỏ cứng, có hình dạng, mầu sắc và
kích thước khác nhau rệp sáp dính hoặc lớp phấn trắng rệp sáp phấn. Lớp vỏ của
nhóm rệp sáp dính có thể tách ra khỏi cơ thể một cách dễ dàng như ở
nhóm Aonidiella, Lepidosaphes hoặc tạo thành vách da không thể tách khỏi cơ thể
như ở nhóm Coccus hoặc Lecanium.
Trên cây táo thường có 2 loài rệp sáp bột gây hại, ñó là Planococcus
lilacinus và Pseudococcus sp. Nhưng trong ñó chủ yếu là loài Planococcus
lilacinus, loài này cơ thể có hình bầu dục, con cái có chiều dài khỏang 2,5-4 ly,
chiều rộng khỏang 0,7-3 ly, rìa mỗi bên cơ thể có 18 sợi tua trắng, toàn thân phủ
một lớp sáp mầu trắng như bông gòn (Phan Quốc Sủng, 1995).
Theo kết quả ñiều tra của Viện Bảo vệ thực vật thì tại Ðồng Bằng sông Cửu
Long (1999), bước ñầu ñã ghi nhận có trên 16 loài rệp sáp hiện diện trên Cam, Quít,
Chanh bao gồm Planococcus citri, Planococcus lilacinus, Pseudococcus citriculus,
Pseudococcus sp., Saissetia coffeae, Chrysomphalus sp., ulvinaria sp., Icerya
purchasi, Aonidiella sp., Aonidiella aurantii, Aspidiotus sp., Lepidosaphes beckii,
Rastrococcus sp., Coccus hesperidium, Coccus spp, Lecanium spp
Theo kết quả ñiều tra của Viện BVTV (1999) khi thu gom lấy mẫu ngẫu
nhiên trên nhiều vườn, cây và nhiều cành của một số vườn cà phê ở Tây Nguyên,
Viện BVTV ñã thu thập ñược 7 loại rệp sáp hại cà phê, thuộc 3 họ chính là họ rệp
sáp giả Pseudococcidae (4 loài), họ rệp sáp mềm Coccidae (2 loài) và họ rệp vảy
Disapididae (1 loài). Trong số 7 loài rệp sáp, có 2 loài luôn xuất hiện với tần suất
cao và gây ảnh hưởng lớn ñến cà phê tại ðăk Lăk là loại rệp sáp mềm tua ngắn
Planococcus kraunhiae Kuwana và loại rệp sáp tua dài Ferrisia virgata Cockerell.
Những loại rệp sáp này hại cành, lá, hoa và quả cà phê. Loại rệp sáp gây hại bộ rễ
cà phê là Planococcus lilacinus Cockerell và Planococcus sp.
bao phủ kín cả mặt dưới của lá, hoặc kín xung quanh các cành non, cuống trái, trái
non có thể làm cho trái không thể phát triển ñược và bị rụng, gây thiệt hại rất nhiều
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp 12
cho nhà vườn. Ngoài gây hại trực tiếp bằng cách chích hút nhựa cây làm ảnh hưởng
xấu ñến sinh trưởng, phát triển của cây, năng xuất và sản lượng trái, trong chất bài
tiết của rệp bông còn chứa nhiều chất ñường mật, những chất này là môi trường
thuận lợi cho nấm bồ hóng phát triển bám ñen cả bề mặt của lá và những bộ phận
xanh khác làm ảnh hưởng ñến sự quang hợp của cây. Không những thế chất ñường
mật có trong chất bài tiết của rệp còn quyến rũ một vài lòai kiến ñến ăn, ñể “trả
công” cho rệp kiến lại giúp rệp bằng cách tha rệp di chuyển ñi ñễn những nơi khác,
cây khác ñể phá hại mỗi khi nguồn thức ăn tại chỗ của rệp bị cạn kiệt, từ ñó làm cho
rệp duy trì nòi giống và ngày càng lây lan phát triển ra diện rộng.
Vũ Thị Nguyệt, chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Bến Tre (2011) cho biết rệp gây
hại bằng cách chích hút các bộ phận non của ñu ñủ như ñọt non, lá non, hoa và trái
non. Tuy nhiên cả những trái lớn vẫn bị rệp tấn công. Rệp thường sống tập trung
với mật số cao trong suốt giai ñoạn của trái. Rệp chích hút làm cho ñọt non bị vàng,
hoa rụng nhiều và trái non kém phát triển, phẩm chất trái bị giảm. Ngoài ra mật ngọt
do rệp tiết ra còn hấp dẫn nấm bồ hóng phát triển bao kín các bộ phận lá, trái,…làm
ảnh hưởng ñến sự quang hợp của cây. Rệp chích hút và nấm bồ hóng ký sinh làm
cho cây ñu ñủ bị còi cọc, ảnh hưởng ñến năng suất và phẩm chất trái. Rệp sáp giả
thường gây hại nặng vào mùa nắng. (Dẫn theo sonongnghiep.bentre.gov.vn)
1.2.2.3. Ký chủ của rệp sáp
Theo Vũ Văn Tố (2000), rệp sáp là một trong những côn trùng phân bố rộng
rãi ở nhiều nước trên thế giới thuộc vùng nhiệt ñới. Ở Việt Nam, rệp sáp có mặt ở
hầu hết mọi nơi và phá hại trên nhiều loại cây trồng như cam, quýt, cà phê, tiêu,
nho, và cỏ dại.
Nguyễn Thị Chắt và ctv (2005) ghi nhận rệp sáp Icerya aegyptiaca gây hại
trên chồi non cây có múi (Citrus spp.); cây na (Annona squamosa); mãng cầu xiêm
Cũng theo Vũ Thị Nga, Nguyễn Thị Chắt (2003) khi nghiên cứu bước ñầu về
sâu ăn rệp sáp Eublemma amabilis Moore (Lep: Noctuidae) cho biết: Ấu trùng của
sâu ăn rệp sáp có thể tấn công nhiều loại rệp sáp. trong vòng 24 giờ, một ấu trùng tuổi
cuối trung bình có thể ăn ñược 11,9 cá thể rệp sáp loài Planococcus lilacilus hoặc 7,4
cá thể rệp sáp loài Dysmicoccus brevipes. Khi nuôi ỏ 27,5 - 28,2
0
C và 83,8 - 85,6%,
với thức ăn là Planococcus lilacilus. Sâu ăn rệp sáp Eublemma amabilis vòng ñời
biến ñộng từ 45,4 ñến 50,7 ngày; trưởng thành có tuổi thọ trung bình 7,3 - 8,9 ngày;
trưởng thành cái có khả năng ñẻ trứng không cao (95,1 - 111,3 trứng).
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp 14
1.2.2.5. ðặc ñiểm hình thái của rệp sáp
Vũ Khắc Nhượng (1993) nhận xét về rệp sáp hại cà phê là trứng rệp nhỏ hình
ô van, dài 0,2-0,5 mm, màu ngà hơi vàng. Rệp non tuổi 1 trên lưng chưa có sáp và
xung quanh rìa thân không có tua sáp,nhìn rõ các mặt các vạch ngang thân trên
lưng, ở tuổi 1 rệp non bò khá nhanh, từ tuổi 2 nhất là sang tuổi 3 trở ñi rệp lớn hơn
và bắt ñầu có lớp sáp bông và hình thành 18 ñôi tua xung quanh rìa thân, ñôi tua thứ
18 dài gấp 2 lần các tua khác. Từ tuổi 2 – tuổi 3 rệp ít di ñộng và tập trung vào một
chỗ tạo thành ổ rệp.
Nguyễn Viết Tùng (2006) cho biết họ rệp sáp bột Pseudococcidae có kích
thước dài từ 0,5 mm ñến 12 mm (trung bình từ 3-6 mm). Con ñực kích thước rất
nhỏ, từ 0,6-3mm. Hình dáng cơ thể có hình trứng hoặc hơi dài, hiếm khi có hình
tròn. Cơ thể ñược che phủ bằng một lớp sáp dày mỏng khác nhau, xung quanh cơ
thể có những sợi tua sáp nhỏ, cuối bụng có sợi sáp trắng dài (con cái). Cơ thể chia
ñốt rõ ràng với 8 ñốt bụng. Râu sợi chỉ 5-9 ñốt (có lúc không có), vòi phát triển, có
1-3 ñốt. Mảnh mông, vòng hậu môn và lông ở vòng hậu môn phát triển (4-8 lông).
Không có tuyến ñĩa hình số 8. Râu ñầu có 3-10 ñốt. Mắt ñơn 4-6 cái, không có mắt
kép. ða số loài có một ñôi cánh trước, còn ñôi cánh sau thoái hóa thành thùy thăng
Theo Nguyễn Vũ, sở Nông nghiệp tỉnh Tiền Giang (2011) thì cơ thể của rệp
có hình bầu dục. Con cái có chiều dài cơ thể khoảng 2,5-4mm, chiều rộng khoảng
0,7-3mm, xung quanh cơ thể có tua sáp, màu trắng như bông gòn, chúng bám chặt
vào những bộ phận non của cây như ñọt non, lá non, hoa trái… ñể hút nhựa và có
khả năng ñẻ hàng trăm quả trứng nhỏ li ti ở ngay dưới bụng. Khi mới nở, rệp con có
chân ñể phân tán ra xung quanh, sau ñó chân bị thoát hoá dần và chúng bám dính ở
một chỗ ñể chích hút nhựa của cây có ñến khi trưởng thành ( Dẫn theo
trangvangnongnghiep.com)
2.2.2.6. ðặc ñiểm sinh học của rệp sáp
Về biến ñộng số lượng, Phạm Văn Biên (1989) khi nghiên cứu rệp sáp hại
trên cây hồ tiêu cho biết trong mùa mưa rệp sáp ở trên mặt ñất và dưới rễ không
nhiều. Vào cuối mùa mưa thì mật ñộ rệp tăng dần, ñến cuối mùa khô chuyển sang
mùa mưa năm sau số lượng rệp cao nhất và gây tác hại rõ nhất.
Về tập quán sinh sống và gây hại theo ðoàn Công ðỉnh và ctv (1993), Phan
Quốc Sủng (1998) cho biết vị trí gây hại của rệp sáp ở trên nhiều bộ phận khác nhau
của cây cà phê như cuống quả, các chùm quả, chùm hoa, các phần non của cây và cả ở
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp 16
bộ rễ. Khi rệp sáp Plancocus sp. gây hại trên chùm quả thì quả bị khô héo và có hiện
tượng bị rụng non. Nơi nào có rệp sáp tấn công thì nấm muội ñen ñến phát triển che kín
mặt lá làm cho quá trình quang hợp của cây bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Theo Lê ðức Khánh (2003) vòng ñời của rệp sáp trên cam từ 26-78 ngày.
Rệp phát sinh và gây hại quanh năm, nhiều nhất vào mùa hè và mùa thu.
Nguyễn Văn Liêm (2005) cho rằng các pha phát dục và vòng ñời của rệp sáp
giả Planococcus citri Risso thay ñổi theo các mùa trong năm và phụ thuộc khá rõ
vào ñiều kiện nhiệt ñộ môi trường. Trong mùa hè vòng ñời ngắn nhất và mùa ñông
vòng ñời dài nhất.Vòng ñời của rệp sáp giả kéo dài 26,8 – 56,3 ngày. Trong quần
thể rệp sáp cũng luôn tồn tại cả hai giới tính ñực và cái, nhưng tỷ lệ trưởng thành
ñực luôn thấp hơn trưởng thành cái và chỉ chiếm khoảng 6,1-44,4%. Không quan