Mục Lục
CHƯƠNG IV: Xây dựng, đánh giá, lựa chọn các phương án chiến lược 44
Lời kết: 69
1
LỜI NÓI ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Ngày nay không ai có thể phủ nhận vị trí quan trọng của ngành sữa trong nền
kinh tế, vì sản phẩm từ sữa là nguồn cung cấp nhiều giá trị dinh dưỡng cho xã hội,
nâng cao sức khỏe và trí tuệ cho con người.
Ở các nước phát triển có đời sống cao như Mỹ, các nước châu âu, châu úc,
công nghiệp chế biến sữa phát triển rất mạnh và phong phú. Mức tiêu thụ sữa và
các sản phẩm từ sữa ở các nước này tính trên bình quân đầu người rất cao từ 350-
450 lít sữa/ người/năm. Đối với các nước này , sản xuất đang hướng vào xuất khẩu,
do thị trường trong nước đã bão hòa.
Đối với các nước đang phát triển kinh tế, ngành sữa cũng đang tăng cao và
dần dần chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Theo Tổ chức Nông Lương
Liên hiệp quốc thì tăng trưởng ngành sữa ở các nước đang phát triển là trên 4% và
xu hướng này càng tăng nhanh so với các nước phát triển.
Công ty sữa Việt Nam (Vinamilk) là một doanh nghiệp nhà nước, trực thuộc
Bộ Công Nghiệp, được thành lập từ năm 1976. Công ty đã hoạt động trong cả hai
cơ chế điều hành của nền kinh tế: nền kinh tế chỉ huy, kế hoạch hóa , bao cấp và
nền kinh tế thị trường dưới sự điều tiết của chính phủ. Khi chuyển sang nền kinh tế
thị trường với quy luật cạnh tranh nghiệt ngã, công ty vẫn tiếp tục phát triển với
một số thành tích nhất định. Chẳng hạn sản phẩm ngày càng phong phú, đa dạng
về chủng loại, chất lượng, bao bì ngày càng được cải tiến, uy tín của sản phẩm
càng được biết đến trong đại đa số người tiêu dùng Việt Nam.
Trong hơn 30 năm qua, công ty đã chọn cho mình con đường phát triển đúng
hướng, các sản phẩm của công ty không những có thể cạnh tranh được với các sản
2
phẩm cùng loại trong nước, mà một số mặt hàng còn cạnh tranh được với nước
ngoài trên thị trường xuất khẩu.
2010. Đây là những con số khá khiêm tốn so với mức tiêu thụ sữa của người Nhật 44
lít/năm,Singapore 33 lít/năm và Thái Lan 15 lít/năm. Vì vậy ngành công nghiệp chế biến
sữa được dự đoán sẽ phát triển mạnh trong tương lai. Đặc biệt, các phân ngành có mức
tăng trưởng vượt trội là sữa tươi (20%), sữa chua (15%), sữa bột (10%) và kem (10%).
Ngoài ra, chính phủ còn có kế hoạch đầu tư vào các trang trại nuôi bò sữa và công nghệ
chế biến sữa để tăng sản lượng sữa tươi trong nước và giảm lệ thuộc vào sữa bột nhập
khẩu.
1.1. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của
VINAMILK.
1.1.1.Lịch sử hình thành:
4
Công ty sữa Việt Nam Vinamilk là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ
Công Nghiệp, được thành lập ngày 20/8/1976, trên cơ sở tiếp quản 6 nhà máy thuộc
ngành nghề chế biến thực phẩm sau ngày miền nam hoàn toàn giải phóng:
• Nhà máy sữa Thống Nhất
• Nhà máy sữa Trường Thọ
• Nhà máy sữa Dielac
• Nhà máy Café Biên Hòa
• Nhà máy Bột Bích Chi
• Nhà máy bánh kẹo Lubico
1978 : Công ty được chuyển cho Bộ Công Nghiệp thực phẩm quản lý và
Công ty được đổi tên thành Xí Nghiệp Liên hợp Sữa Café và Bánh Kẹo I.
1988 : Lần đầu tiên giới thiệu sản phẩm sữa bột và bột dinh dưỡng trẻ em tại
Việt Nam.
1991 : Lần đầu tiên giới thiệu sản phẩm sữa UHT và sữa chua ăn tại thị
trường Việt Nam.
1992 : Xí Nghiệp Liên hợp Sữa Café và Bánh Kẹo I được chính thức đổi tên
thành Công ty Sữa Việt Nam và thuộc sự quản lý trực tiếp của Bộ Công Nhiệp Nhẹ.
Công ty bắt đầu tập trung vào sản xuất và gia công các sản phẩm sữa.
1994 : Nhà máy sữa Hà Nội được xây dựng tại Hà Nội. Việc xây dựng nhà
trang trại Bò sữa Tuyên Quang vào tháng 11 năm 2006, một trang trại nhỏ với đàn
bò sữa khoảng 1.400 con. Trang trại này cũng được đi vào hoạt động ngay sau khi
được mua thâu tóm.
2007 : Mua cổ phần chi phối 55% của Công ty sữa Lam Sơn vào tháng 9 năm
2007, có trụ sở tại Khu công nghiệp Lễ Môn, Tỉnh Thanh Hóa.
6
1.1.2. Tầm nhìn, sứ mệnh và giá trị cốt lõi:
TẦM NHÌN
“Trở thành biểu tượng niềm tin số một Việt Nam về sản phẩm dinh dưỡng và sức
khỏe phục vụ cuộc sống con người “
SỨ MỆNH
“Vinamilk cam kết mang đến cho cộng đồng nguồn dinh dưỡng tốt nhất, chất
lượng nhất bằng chính sự trân trọng, tình yêu và trách nhiệm cao của mình với cuộc
sống con người và xã hội”
GIÁ TRỊ CỐT LÕI
Chính trực
Liêm chính, Trung thực trong ứng xử và trong tất cả các giao dịch.
Tôn trọng
Tôn trọng bản thân, tôn trọng đồng nghiệp. Tôn trọng Công ty, tôn trọng đối tác.
Hợp tác trong sự tôn trọng.
Công bằng
Công bằng với nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp và các bên liên quan khác.
Tuân thủ
Tuân thủ Luật pháp, Bộ Quy Tắc Ứng Xử và các quy chế, chính sách, quy định
của Công ty.
Đạo đức
Tôn trọng các tiêu chuẩn đã được thiết lập và hành động một cách đạo đức.
1.1.3.Thành tích đạt được:
Thời gian Danh hiệu Cơ quan trao tặng
1985 Huân chương lao động hạng III Chủ tịch nước
phong trào thi đua Ngành Công Nghiệp VN"
Chính Phủ
Các năm từ
1995-2009
Top 10 “Hàng Việt Nam chất lượng cao” Báo Sài Gòn tiếp thị
2009
Giải vàng thương hiệu an toàn vệ sinh an toàn
thực phẩm
Cục An toàn thực
phẩm
2009 Thương hiệu ưa thích nhất năm 2008-2009
Báo Sài Gòn giải
phóng cấp giấy
chứng nhận và cúp
2009
“Doanh nghiệp xanh” cho 3 đơn vị của
Vinamilk: Nhà máy sữa Sài gòn; Nhà máy sữa
Thống Nhất và nhà máy sữa Trường Thọ
Uỷ ban nhân dân
TP. Hồ Chí Minh
2009
Cúp vàng “Thương hiệu chứng khoán Uy tín
2009” và giải thưởng “Doanh nghiệp tiêu biểu
trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm
2009”
Hiệp hội kinh doanh
chứng khoán, Trung
tâm Thông tin tín
dụng,Tạp chí chứng
khoán VIệt Nam
Của tạp chí Forbes
Asia,
Thượng hiệu chứng khoán uy tín 2010 HH kinh doanh CK
31/1000 DN đóng thuế thu nhập lớn nhất VN V1000
Top 5 DN lớn nhất VN VNR
Top 10 Thương người tiêu dùng thích nhất VN
AC
9
1.1.4.Cơ cấu tổ chức quản lý:
1.1.4.1. Cơ cấu tổ chức theo hệ thống:
1.1.4.2. Cơ cấu bộ máy quản lý:
Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) là cơ quan có thẩm quyền cao nhất quyết
định mọi vấn đề quan trọng của Công ty. Đại hội đồng cổ đông là cơ quan thông
quan chủ trương chính sách đầu tư dài hạn trong việc phát triển công ty, quyết
định cơ cấu vốn, bầu ra ban quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh cùa Công
ty.
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, nhân danh công ty quyết định
mọi vấn đề liên quan trừ những vấn đề do ĐHĐCĐ quyết định.
Ban kiểm soát do ĐHĐCĐ bầu, thay mặt cổ đông kiểm soát mọi hoạt động
kinh doanh, quản trị và điều hành công ty.
Tổng giám đốc quyết định các vấn dề hàng ngày của công ty.
Phòng kinh doanh: thiết lập mục tiêu kinh doanh, xây dựng chiến lược và
kế hoạch kinh doanh, theo dõi và thực hiện các kế hoạch kinh doanh, xây dựng
mạng lưới kênh phân phối, chính sách phân phối, chính sách giá.
10
Phòng Marketing: hoạch định chiến lược xây dựng nhãn hiệu các sản phẩm,
xây dựng chiến lược giá, phân tích và xác định nhu cầu thị trường…
Phòng nhân sự: phụ trách các vần đề về nhân sự.
Phòng dự án: lập, triển khai, giám sát đầu tư dự án mới và mở rộng sản xuất
cho các nhà máy…
% doanh thu
(bình quân)
Tỷ lệ tăng trưởng năm
2007
Sữa đặc 79% 34% 38%
Sữa tươi 35% 26% 18%
Sữa bột ngũ cốc ăn liền 14% 24% -21%*
Sữa chua: uống
ăn
24%
96% 10% 10%
Sản phẩm khác 6%
*Tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) 2004-2007:16%
Nguồn: Báo cáo thường niên 2007 của Vinamilk
13
14
Sữa đặc (chiếm 34% doanh thu)
Sữa đặc là dòng sản phẩm chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu doanh thu
trong nước của công ty. Năm 2007, dòng sản phẩm này đạt tỷ lệ tăng trưởng 38%
và chiếm 79% thị phần, phục vụ chủ yếu phân khúc thị trường bình dân và có sức
cầu lệ thuộc chủ yếu vào sự gia tăng dân số. Người tiêu dùng chủ yếu sử dụng sữa
này để làm chất tạo ngọt, uống cà phê hoặc pha cocktail trái cây. Tại những vùng
nông thôn và vùng có phần lớn dân cư có thu nhập thấp, người tiêu dùng chủ yếu
dùng sữa này để uống. Hầu hết người tiêu dùng đều quá quen thuộc với nhãn hiệu
sữa “Ông Thọ” và “ Ngôi sao Phương Nam”. Dutch Lady là đối thủ cạnh tranh
chính nhưng hiện vẫn chưa đánh bại được Vinamilk trên thị trường sữa đặc.
Sữa tươi (chiếm 26% doanh thu)
Năm 2007, sữa tươi đạt mức tăng trưởng 18%, chiếm khoảng 26% tổng
doanh thu của công ty và có tỷ trọng đóng góp cao thứ nhì vào doanh thu so với tất
cả các dòng sản phẩm của công ty. Sữa tươi Vinamilk chiếm 35% thị phần. Đây là
xuất bia lớn thứ nhì thế giới về sản lượng bia) để sản xuất bia Zorok với tổng
vốn đầu tư 27 triệu USD. Vinamilk đã góp khoảng 50% vốn trong liên doanh
này. Hiện nay, bia là một loại thức uống rất phổ biến tại Việt Nam, được
minh chứng qua sản lượng bia sản xuất và tiêu thụ ngày càng tăng trong vài
năm qua. Lượng bia sản xuất trong nước năm 2003 là 1,3 tỷ lít, tăng lên 1,4 tỷ
lít trong năm 2004 và có thể sẽ đạt 2,5 tỷ lít vào năm 2010. Tuy nhiên, lượng
bia tiệu thụ bình quân tính trên đầu người tại Việt Nam vẫn còn thấp so với
các nước khác trong khu vực. Bia Zorok được đưa ra thị trường vào đầu năm
2007 và đã thu hút sự chú ý của khách hàng.
1.1.4.4. Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty:
16
Năm 2010,VNM đạt 15,845 tỷ đồng doanh thu vượt 9.8% so với kế hoạch
14,428 tỷ đồng doanh thu cả năm 2010.
Lợi nhuận từ hoạt động SXKD quý 3 tăng so với cùng kỳ là do sản lượng
bán ra của Công ty tăng 36,57% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, nhờ doanh thu tài
chính quý 3 tăng 43,26% so với cùng kỳ do thu nhập từ lãi tiền gửi ngân hàng và
lãi trái phiếu tăng cũng góp phần gia tăng thêm lợi nhuận trong quý 3. Theo đó, lợi
nhuận lũy kế 9 tháng của VNM đạt 2,878 tỷ đồng vượt 7,9 % so với kế hoạch. Lợi
nhuận sau thuế năm 2010 đạt 3,602 nghìn tỷ đồng, tăng 51,27 % so với năm 2009
17
Công ty có EPS năm 2010 là 10,205 đồng/cp, khá ấn tượng so với các
doanh nghiệp cùng ngành trong bối cảnh nền kinh tế trong nước tăng trưởng chậm
lại. Chỉ tiêu ROE đạt 45,27%. BV đạt 22,541 đồng/CP. P/E năm 2010 đạt 8.96 lần.
18
Chương II: Phân tích môi trường bên ngoài của công ty.
2.1 Phân tích môi trường Vĩ Mô.
Tất cả các loại hình doanh nghiệp, các loại tổ chức thuộc các ngành, có quy mô lớn
hoặc nhỏ trong nền kinh tế mỗi quốc gia đều hoạt động trong một cộng đồng xã hội nhất
định và chịu ảnh hưởng của các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô nằm ngoài tầm kiểm soát
của các doanh nghiệp, nhiều yếu tố của môi trường này tác động đan xen lẫn nhau và ảnh
lượng sữa của Australia đã giảm mạnh từ mức đỉnh cao 11,1 tỷ lít năm 2001/02 xuống
chỉ khoảng 9,1 tỷ lít năm 2007/08. Một số nhà khoa học cho rằng hiện tượng hạn hán này
sẽ còn kéo dài vì là hậu quả của tình trạng khí hậu trái đất nóng lên. Cho nên, nước
19
Australia khó lòng sản xuất sữa được nhiều như trước. Trong khi đó ở Ấn Độ, lũ lụt lại là
nguyên nhân làm tăng giá sữa. Ấn Độ là quốc gia sản xuất sữa (bò và trâu) và chế phẩm
từ sữa số hai thế giới với 101,4 triệu tấn/năm nhưng chỉ xuất 0,7 triệu tấn.
2.1.2 Thị trường trong nước:
2.1.2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Kinh tế Việt nam tăng trưởng khá ấn tượng trong 10 năm trở lại đây, thuộc
vào hàng các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới.
20
Theo số liệu biểu đồ trên, GDP của Việt nam liên tục tăng ở mức từ 6-8%,
do đó GDP bình quân trên đầu người cũng liên tục tăng, đến năm 2007 đã đạt
200.6% so với năm 2000. Năm 2008, do tác động của khủng hỏang tài chính tòan
cầu đã khiến kinh tế tăng trưởng chậm hơn dự kiến. Mặc dù tốc độ tăng trưởng
kinh tế năm 2009 thấp hơn tốc độ tăng 6,18% của năm 2008 nhưng đã vượt mục
tiêu tăng 5% của kế họach. Đáng chú ý là GDP của quý III/2009 tăng 6.04% và
quý IV/2009 tăng 6.9%, cao hơn so với cùng kỳ năm 2008, cho thấy nền kinh tế
nước ta đã vượt qua thời kỳ suy giảm, càng về cuối càng nâng cao tốc độ tăng
trưởng trong bối cảnh kinh tế thế giới suy thóai với nhiều nền kinh tế tăng trưởng
âm.
Thu nhập của người dân cũng luôn được cải thiện. Mặc dù năm 2008 và
2009 nền kinh tế Việt nam đi xuống theo xu hướng chung của kinh tế thế giới
nhưng thu nhập bình quân đầu người vẫn tăng đều đặn. Điều này đã tác động tích
cực đến sức mua trong nước, trong đó có ngành chế biến sữa. Thu nhập được nâng
cao, người dân sẽ quan tâm hơn đến sức khỏe của bản thân và sẵn sàng gia tăng
chi tiêu cho các lọai thực phẩm giàu chất dinh dưỡng như sữa, dẫn đến lượng
khách hàng tiêu thụ sữa ngày càng gia tăng.
Lạm phát vẫn chưa bị đẩy lùi và bùng phát trở lại vào năm 2010. không
dưỡng đàn bò sữa thêm mập mạp, khỏe mạnh và cho ra sản lượng sữa chất lượng
cao như mạng Ethernet, công nghệ kết nối không dây Bluetooth, Wi-fi và kỹ thuật
nhận dạng song vô tuyến từ xa với các thẻ RFID (Radio Frequency Identification)
gắn chip nhận dạng tự động, camera quan sát từ xa giúp theo dõi đàn gia súc trong
chuồng, hệ thống cảm biến sinh học giúp đo bước sóng xác định mức độ linh họat
của con bò và gấn đây là công nghệ cảm ứng nhiệt độ giúp xác định các chu kỳ
sinh sản của bò cũng như dò tìm các dấu hiệu bệnh. Hệ thống vi tính hóa ở các
chuồng gia súc và trong văn phòng điều hành nông trại đã giúp sản lượng đàn bò
sữa ngày càng được nâng cao.
22
Ngành sữa trên thế giới đã có mặt lâu đời với công nghệ tiên tiến từ các
nước có công nghệ và thiết bị ngành sữa phát triển như Mỹ, Thụy Điển, Đan
Mạch, Thụy Sĩ, Đức, Ý, Hà Lan. Sản phẩm ngày càng đạt chất lượng cao với các
dây chuyền sản xuất sữa hiện đại có công suất lớn như hệ thống máy rót UHT
đóng gói tự động cho các lọai hộp giấy chuyên dung, dây chuyền sản xuất sữa
chua ăn khép kín với công nghệ lên men tiên tiến, dây chuyền sản xuất và đóng
gói sữa tươi thanh trùng, …
2.1.2.4 Văn hóa - xã hội:
Mặc dù Việt nam không phải là nước có truyền thống sản xuất sữa và dân
chúng trước đây chưa có thói quen dùng sữa, nhưng với tốc độ tăng dân số nhanh
(1,2% -theo năm 2009), đặc biệt là tỉ lệ tăng của dân số thành thị cao hơn nông
thôn nên ý thức bảo vệ sức khỏe ngày càng được chú trọng, đặc biệt là vấn đề
dưỡng chất cần thiết cho trẻ em giai đọan thôi bú sữa mẹ dần dần giúp hình thành
nên thói quen tiêu thụ sữa cho mọi lứa tuổi trong giai đọan sau này. Theo thống kê
của Viện dinh dưỡng quốc gia, hiện mức tiêu thụ sữa của người Việt nam đã tăng
lên đáng kể (29,9g mỗi ngày)
Ngoài ra, các chương trình chính sách khuyến khích dùng sữa trong trường
học, cung cấp miễn phí hoặc giá rất rẻ cho các cháu mẫu giáo và học sinh tiểu học
cũng đã được chính phủ đề cập đến trong chương trình phát triển quốc gia và thực
hiện thí điểm ở một số địa bàn có điều kiện thuận lợi. Cụ thể là chương trình “sữa
sữa đã lan ra 33 tỉnh, trong đó có cả những địa phương không đủ điều kiện chăn
nuôi: không có đồng cỏ, cũng chẳng có nhà máy chế biến sữa Ngoài ra, việc
kiểm định chất lượng sữa chỉ dừng lại ở việc kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm,
một số chỉ tiêu ghi trên bao bì mà chưa kiểm tra, phân tích được chất lượng và
hàm lượng các vi chất trong thành phần sữa. Các phòng thí nghiệm chưa có khả
năng kiểm định đầy đủ những vi chất này. Việt Nam hiện chưa có quy chuẩn về tỷ
lệ các chất bổ sung vi lượng DHA, ARA trong sữa. Bên cạnh đó, việc không kiểm
sóat nổi thị trường sữa cũng gây trở ngại rất lớn cho các doanh nghiệp sản xuất
sữa tại Việt nam.
Năm 2009, mặc dù giá nguyên liệu sữa bột nhập khẩu trên thị trườngthế
giới đã giảm (khoảng 13,8 - 43%) nhưng các doanh nghiệp vẫn giữ nguyên mức
giá cao tăng từ năm 2008, thậm chí có doanh nghiệp tiếp tục tăng giá. Điều này
được các nhà sản xuất giải thích là giá nguyên liệu có giảm nhưng vẫn ở mức cao,
chưa bằng giá của năm 2007 và tỉ giá ngoại tệ và đồng Việt Nam liên tục bị trượt
giá nên buộc phải tăng giá sản phẩm. Đây cũng là một trong những nguyên nhân
khiến nhiều người Việt Nam, đặc biệt là các em nhỏ ở những vùng khó khăn
không có điều kiện uống sữa.
24
2.2 Môi trường vi mô ( môi trường ngành):
Việt Nam đang trong giai đoạn tăng trưởng và phát triển kinh tế mạnh mẽ kéo theo
mức thu nhập, mức sống của người dân cũng được cải thiện rõ rệt. Nếu trước đây thành
ngữ “ăn no mặc ấm” là ước mơ của nhiều người thì hôm nay, khi đất nước đã gia nhập
WTO lại là “ăn ngon mặc đẹp”. Sữa và các sản phẩm từ sữa đã gần gũi hơn với người
dân, nếu trước những năm 90 chỉ có 1-2 nhà sản xuất, phân phối sữa, chủ yếu là sữa đặc
và sữa bột (nhập ngoại), tính đến hiện nay trên thị trường hiện có khoảng hơn 300 sản
phẩm của các công ty lớn như: Vinamilk, Dutch Lady, Nutifood Việt Nam, New Zealand,
Abbott rất nhiều doanh nghiệp phân phối sữa chia nhau một thị trường tiềm năng với
87 triệu dân.
Số liệu được công bố tại Hội thảo Thúc đẩy sự gắn kết ngành sữa Việt Nam với thế
giới vừa được tổ chức tại Hà Nội cho biết, trẻ em tại TP.HCM và Hà Nội tiêu thụ 78%