Báo cáo địa chất kết quả thăm dò khu mỏ than mạo khê, huyện đông triều, tỉnh quảng ninh - Pdf 23

Báo cáo địa chất kết quả thăm dò khu mỏ than Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
Báo cáo địa chất kết quả thăm dò khu mỏ than Mạo Khê,
huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
1
Báo cáo địa chất kết quả thăm dò khu mỏ than Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG
8
I.1. Vị trí địa lý 8
I.2. Ranh giới, tọa độ lập báo cáo 8
I.3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 8
I.4. Lịch sử công tác nghiên cứu địa chất, khai thác mỏ 9
CHƯƠNG II: CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT KHU THĂM DÒ
13
II.1. Địa tầng 13
II.2. Kiến tạo 18
II.3. Đặc điểm các vỉa than 24
CHƯƠNG III: CÁC CÔNG TÁC THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC ĐÃ TIẾN HÀNH
55
III.1. Công tác trắc địa 55
III.2. Công tác thăm dò địa chất 61
III.3. Công tác địa vật lý lỗ khoan 63
III.4. Nhóm mỏ, mạng lưới các công trình thăm dò 67
CHƯƠNG IV: ĐẶC ĐIỂM CHẤT LƯỢNG & TÍNH CHẤT CÔNG NGHỆ
69
IV.1. Công tác lấy mẫu, số lượng mẫu lấy qua các giai đoạn 71
IV.2. Tính chất vật lý và đặc điểm thạch học than 72
IV.3. Thành phần hoá học và các đặc tính kĩ thuật vỉa than 79
CHƯƠNG V: ĐỊA CHẤT THỦY VĂN-ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH

KẾT LUẬN 146
B- PHẦN PHỤ LỤC VÀ BẢN VẼ
3
Báo cáo địa chất kết quả thăm dò khu mỏ than Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
MỞ ĐẦU
I. Mục tiêu, ý nghĩa lập báo cáo
Bể than Quảng Ninh nói chung và khu mỏ than Mạo Khê, huyện Đông
Triều, tỉnh Quảng Ninh nói riêng là nơi tập trung than lớn của cả nước. Trong
những năm gần đây, trước nhu cầu năng lượng ngày càng tăng, Tập đoàn công
nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã tiến hành đầu tư thăm dò, khai
thác than tại khu mỏ với sản lượng lớn.
Khu mỏ Mạo Khê là một trong những khu mỏ có cấu tạo phức tạp. Những
năm gần đây cùng với những thay đổi về điều kiện địa chất trong quá trình thăm
dò địa chất và thực tế khai thác đã đặt ra những yêu cầu cần thiết phải có tài liệu
địa chất tổng hợp, nhằm nghiên cấu trúc địa chất, điều kiện địa chất thuỷ văn,
địa chất công trình, khí mỏ và đánh giá lại cấu kiến tạo, đặc điểm, sự phân bố
các vỉa than, trữ lượng toàn bộ khu mỏ.
Trên cơ sơ kết quả thi công các công trình thăm dò, khai thác từ năm 1970
đã được bổ sung trong khu mỏ Mạo Khê, Công ty cổ phần Tin học, Công nghệ,
Môi trường Than - Khoáng sản Việt Nam (VITE) thành lập “Báo cáo địa chất
kết quả thăm dò khu mỏ Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh”
nhằm mục tiêu:
- Tổng hợp tài liệu thăm dò, khai thác từ 2009 đến 30/06/2011.
- Chính xác hoá cấu trúc địa chất khu mỏ, tổng hợp phân tích và nghiên
cứ đánh giá các tài liệu địa chất thuỷ văn, địa chất công trình, nghiên cứu khí
mỏ.
- Tính trữ lượng, tài nguyên than khu mỏ theo Quyết định số
25/2007/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2007 ban hành Quy định về thăm dò, phân
cấp trữ lượng và tài nguyên than.
II. Cơ sở pháp lý, tài liệu lập báo cáo

phương pháp hầm lò tại các vỉa than:
- Cánh Bắc: V.10, V.9b, V.9, V.8, V.7, V.6, V.5, V.3, V.1;
- Cánh Nam: V.10, V.9b, V.9a,V.9, V.8, V.8a, V.7, V.6;
Thuộc mỏ than Mạo Khê thuộc các xã Kim Sơn, Yên Thọ, Bình Khê,
Tràng Lương và thị trấn Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Quyết định số phê duyệt Dự án đầu tư khai thác mỏ hầm lò
đến -400
Cơ sở tài liệu lập báo cáo
- Báo cáo thăm dò tỷ mỷ Mạo Khê - 400, năm 1970, tác giả Đỗ Chí Uy
thành lập và được Hội đồng Xét duyệt trữ lượng Khoáng sản phê duyệt theo
Quyết định số 02/QĐ-HĐTL ngày 22 tháng 04 năm 1971. Trữ lượng phê duyệt
là: 381.354 ngàn tấn (tương đương cấp C1).
- Báo cáo trung gian thăm dò địa chất đến mức -150 khu Mạo Khê - Đông
Triều - Quảng Ninh, tác giả Phí Chí Thiện thành lập năm 1994 và được Bộ
Năng lượng phê duyệt theo Quyết định số 737 NL-KHKT ngày 18 tháng 11
năm 1994.
5
Báo cáo địa chất kết quả thăm dò khu mỏ than Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
- Báo cáo tổng hợp tài liệu, tính lại trữ lượng và chuyển đổi cấp trữ lượng
và cấp tài nguyên than mỏ Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
- Công văn 3659/VINACOMIN-TN ngày 20 tháng 7 năm 2011 về việc
thành lập báo cáo kết quả thăm dò bổ sung mỏ than Mạo Khê, Tràng Bạch, Khe
Chàm của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam.
III. Nội dung báo cáo
A - Phần thuyết minh: 121 trang
B - Phần phụ lục kèm theo báo cáo gồm: 04 quyển phụ lục
C - Các bản vẽ kèm theo báo cáo gồm: 91 bản vẽ và các thiết đồ lỗ khoan
bổ sung kèm theo.
Công ty VITE đã nhận được sự chỉ đạo tận tình của lãnh đạo Tập đoàn
công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Ban Tài nguyên - Tập đoàn

địa hình tương đối bằng phẳng và thấp thuộc vùng đồng ruộng sông Trung
Lương và đồng bằng sông Đá Bạch. Độ cao của mặt địa hình từ +15m đến
+500m, điểm cao nhất là đỉnh núi Cao Bằng (T.IX). Do đặc điểm khu mỏ được
khai thác bằng phương pháp hầm lò nên về cơ bản vẫn giữ được dạng địa hình
nguyên thuỷ. Tuy nhiên những năm gần đây các đầu lộ vỉa được tiến hành khai
thác (thủ công) nên làm bề mặt địa hình nhiều chỗ lồi lõm do các mong khai
thác để lại.
- Sông suối, ao hồ: Phía Bắc khu mỏ Mạo Khê có sông Trung Lương,
chiều rộng từ 50m đến 100m, chiều sâu cột nước từ 0,2m đến >1m, thuyền bè đi
lại khó khăn. Nước sông Trung Lượng là nước ngọt, lưu lượng mùa khô
0,69m
3
/s, lưu lượng thự tế 83,7m
3
/s (1968). Phía Nam (ngoài ranh giới báo cáo)
có sông Đá Bạch chiều rộng từ 200m đến 300m thuộc loại nước thuỷ triều, mực
nước mặn lên xuống từ 2 - 4m, khi nước rút chiều sâu cột nước từ 2m đến 7m,
thuyền bè có thể lưu thông được. Ngoài hai sông chính là sông Trung Lương và
7
Báo cáo địa chất kết quả thăm dò khu mỏ than Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
sông Đá Bạch trong khu mỏ con có một số hệ thống suối và ao hồ trong đó có
hai hồ lớn là hồ Nội Hoàng và hồ Khe Ươn I (phía Nam)
- Khí hậu thuộc vùng nhiệt đới, độ ẩm cao chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa
mưa kéo dài từ tháng 4 tới tháng 10, mưa nhiều nhất là tháng 8 tháng 9. Tháng 8
năm 1973 lượng mưa cao nhất trong ngày lên tới 374,90 mm. Mưa nhiều gây
ngập lụt ở khu mỏ ngập đến độ cao +31 m , thời gian ngập lụt kéo dài chừng 2-3
ngày. Lượng nước được thoát ra chủ yếu bằng hệ thống suối theo phương của
vỉa đổ ra sông Đá Bạch. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước tới tháng 3
năm sau.
Nhiệt độ cũng thay đổi theo mùa, mùa hè nhiệt độ lên đến 37

lợi đường bộ nối liền khu mỏ với các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng và thủ đô Hà
Nội. Đường sắt nối liền mỏ đi Hà Nội và thành phố Hạ Long.
I.4 LỊCH SỬ CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT, THIẾT KẾ KHAI THÁC MỎ
I.4.1 Công tác nghiên cứu địa chất:
Giải trầm tích chứa than Đông Triều - Uông Bí - Hòn Gai trong đó có khu
mỏ than Mạo Khê đã trải qua nhiều giai đoạn thăm dò, được nhiều nhà địa chất
trong và ngoài nước nghiên cứu.
Năm 1881 giáo sư Viện Hàn Lâm khai thác khoáng sản Paris là Fuchis và
nhà địa chất người Pháp Saladin tìm hiểu khu vực này và một năm sau 1882 hai
ông đã công bố kết quả nghiên cứu về khu vực này.
8
Báo cáo địa chất kết quả thăm dò khu mỏ than Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
R.Zeiller - nhà cổ sinh người Pháp đã dựa vào hoá đá thực vật xếp tuổi
trầm tích chứa than Hòn Gai vào tuổi Triat trên bậc Rêti (T
3
r). Từ đó thực dân
Pháp đã để ý tới vùng chứa than Quảng Ninh trong đó có khu Mạo Khê.
Năm 1910 trở đi, các nhà địa chất: J.Deprat, Jacob, E.Patte, J.Fromaget
tiếp tục nghiên cứu.
Năm 1927, E.Patte lập bản đồ địa chất vùng Đông Bắc tỉ lệ 1/200.000 đã
xác định tuổi của vùng chứa than là Reti - Đây là công trình nghiên cứu hệ
thống về địa tầng và kiến tạo.
Thời kỳ trước năm 1954 người Pháp đã nghiên cứu địa chất khu vực và
đã tiến hành khai thác ở một số nơi trên toàn khoáng sàng, nhưng tài liệu để lại
rất ít và không có hệ thống, thất lạc nhiều.
Sau khi hoà bình lập lại, năm 1959 đoàn khảo sát 5 của Bộ Địa chất và
bảo vệ tài nguyên Liên Xô đã tiến hành tổng hợp tài liệu, trong quyển “Sơ lược
tình hình khoáng sản miền Bắc” đã xác định trầm tích than Đông Bắc có tuổi
Reti.
Năm 1951 - 1961 đoàn địa chất II dưới sự chỉ đạo của chuyên gia Trung

Năm 2002, Công ty VITE đã thành lập “Báo cáo xây dựng cơ sở dữ liệu
địa chất khu mỏ than Mạo Khê - Đông Triều - Quảng Ninh”.
Năm 2006, Công ty VITE đã thành lập “Báo cáo xây dựng cơ sở dữ liệu
địa chất khu mỏ than Đông Mạo Khê - Tràng Bạch - Đông Tràng Bạch,
TX.Uông Bí - Quảng Ninh”.
Năm 2008, Viện khoa học Công nghệ Mỏ - TKV đã thành lập Báo cáo
kết quả lấy và phân tích mẫu nước, đất đá khi khoan thăm dò đứt gãy F.A lò
xuyên vỉa Tây Bắc I - Công ty than Mạo Khê.
Năm 2008, Công ty CP tin học, Công nghệ, Môi trường Than - Khoáng
sản Việt Nam đã thành lập Báo cáo tổng hợp tài liệu, tính lại trữ lượng và
chuyển đổi cấp trữ lượng và cấp tài nguyên than mỏ Mạo Khê, huyện Đông
Triều, tỉnh Quảng Ninh do tác giả Nguyễn Hoàng Huân thành lập và được Hội
đồng Trữ lượng khoáng sản phê duyệt theo Quyết định số 113/QĐ-
HĐTLKS/CĐ ngày 14 tháng 10 năm 2010.
I.4.2 Công tác khai thác mỏ
* Công tác khai thác lộ vỉa
Ttong những năm trước đây (năm 1981 đến năm 1983), các vỉa than lớn
hơn 2m, có điều kiện giao thông tốt đều được các tổ chức sản xuất khác nhau.
Trong tổng số 45 vỉa than tham gia tính trữ lượng thì có 19 vỉa được tiến hành
khai thác đầu lộ vỉa ở các mức độ khác nhau. Hình thức khai thác lộ vỉa chủ yếu
là san gạt phần đầu lộ vỉa rồi xúc lộ thiên. Khu vực khai thác lộ vỉa còn do dân
trong khu vực khai thác tự do ở phần đầu và đào các lò ngách theo vỉa hoặc
giếng nông ngay tại phần lộ vỉa khai thác. Công nghệ khai thác thủ công nên
mức khai thác theo hướng cắm thường chỉ từ 10m ÷ 15m, có chỗ tới 20m ÷ 25m
(V.8 cánh Nam).
Quá trình khai thác lộ vỉa đã ảnh hưởng rất lớn tới việc khai thác hầm lò
sau này.
* Công tác khai thác hầm lò
Trước năm 1954 người Pháp đã tiến hành khai thác một số vỉa than thuộc
khu vực Mạo Khê. Công nghệ khai thác chủ yếu khai thác thủ công nhỏ lẻ và

V9b(44b), lò TK II +210 xuyên qua vỉa V.12(47), lò TK II dọc vỉa V.10(45) và
lò TK II mức +280 xuyên qua vỉa V.15(53). Đồng thời Xí nghiệp xây dựng than
4 còn xây dựng một số hạ tầng như đường điện, ôtô lên các mức khai thác,
đường goòng song do vốn đàu tư các công trình đều dừng thi công và đang bị
hư hỏng, phá hủy dần.
Từ năm 1992 đến nay, mỏ than Mạo Khê mở thêm hệ thống giếng
nghiêng từ mức -25 đến +30 cho các vỉa V.5(40) đến vỉa V.10(45) phía Bắc
(Tràng Khê I). Đến hết năm 1993 bắt đầu đi vào khai thác các vỉa V.6(41),
V.7(42), V.8(43) (T.IV).
Ở khối Nam những năm qua có thi công hai lò bằng xuyên vỉa V.7(72) ở
mức +25 và +60 để thăm dò kết hợp khai thác V.8(43) đến V.6(41), xong vì độ
dốc vỉa lớn (trên 65
0
) nên bỏ không khai thác tiếp. Hệ thống lò Tự lực khai thác
vỉa V.10(45) và V.9b(44b) mức -25 cũng đã dừng do phần phía Đông chiều dày
vỉa V.10(45) mỏng khai thác không đem lại hiệu quả kinh tế, vỉa V.9b(44b) bị
nước từ moong khai thác lộ vỉa theo phỗng chảy vào không khai thác được.
Nhìn chung về quá trình khai thác tính đến thời điểm hiện tại của khu vực
mỏ Mạo Khê được tổng hợp như sau:
11
Báo cáo địa chất kết quả thăm dò khu mỏ than Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
+ Khu vực khai thác từ T.IIa đến T.IXa gồm các vỉa V.6(61), V.7(42),
V.8(43), V.9v(44v), V.9b(44b), được Công ty than Mạo Khê khai thác đến mức
-80m.
+ Khu vực khai thông từ T.IXa đến T.XIII (Tràng Khê II, III) trở về phía
Đông được Công ty Uông Bí khai thác đến mức +30 gồm các vỉa V.24(53),
V.18(48), V.12(47), V.10(45), v.9bT(44bT).
+ Trong những năm gần đây Công ty Cp Tư vấn Đầu tư Mỏ Công nghiệp
- TKV đã triển khai thiết kế khai thông xuống đến mức -150 (từ mức -25m đến
mức -80m; từ mức -80m đến mức -150m) tại các vỉa V.1(36), V.3(38), V.5(40),

nhạt, cát kết thạch anh silic hoá màu xám nhạt, nâu tạo thành hai lớp xen kẽ,
kẹp thấu kính đá vôi có chứa thạch anh và keratophia xâm nhập trong đá. Chiều
dày khoảng 1200 ÷ 1300m.
Phần trên gồm: Dưới đáy là đá mac nơ màu xám sẫm, phân lớp mỏng.
Phần trên và đoạn giữa là đá vôi bán kết tinh dạng lớp dày mầu xám kẹp đá vôi
silic màu xám sẫm. Chiều dày khoảng 700 ÷ 800m.
Hệ Cacbon, thống trung (C
2
)
Phân bố gần nếp lồi Yên Đức, vùng sông Đá Bạch (phía Nam khu mỏ
Mạo Khê) tạo thành núi đá vôi dựng đứng bị bào mòn, chiều dày từ 300 ÷
500m. Đá vôi có dạng lớp dày, dạng khối màu xám và xám sẫm.
Hệ Cacbon, thống thượng - Hệ Pecmi, thống hạ (C
3
-P
1
)
Phân bố dọc đường quốc lộ 18 tạo thành dãy đá núi đá vôi bị bào mòn
hoặc lộ ra rải rác ở hai bên đường 18. Đá vôi có dạng vi tinh và bán kết tinh,
phân lớp vừa, mầu xám sẫm có chứa silic dạng kết hạch nhỏ.
13
Báo cáo địa chất kết quả thăm dò khu mỏ than Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
GIỚI MEZOZOI (MZ)
Hệ Triat, thống trung (T
2
) bậc Ladini (T
2
l)
Phân bố ở phía Bắc F.TL (đứt gãy Trung Lương) Bắc khu thăm dò, lộ ra
rộng khắp và dọc theo quốc lộ 18B. Dựa vào các kết quả nghiên cứu của đoàn

của 2 cánh Nam và Bắc) và đều là tướng trầm tích lục địa.
Trên cơ sở cấu trúc địa chất của khu mỏ, trong báo cáo đã tổng hợp và mô
tả địa tầng của từng khối cấu tạo với những nét đặc trưng.
* Địa tầng khối Bắc:
Địa tầng chứa than của toàn bộ khối Bắc từ V.27(62) trở xuống đến vỉa
dưới cùng của tập vỉa dưới V.1-25(21a), có chiều dày khoảng 2.050m, chứa 59
vỉa than, trong đó 40 vỉa tham có gía trị công nghiệp, được tham gia tính trữ
lượng. Các vỉa than được chia thành ba tập vỉa, cụ thể:
+ Tập than dưới: gồm 22 vỉa, từ vỉa V.1-25(21a) đến vỉa V.1(36) có 14
vỉa tham gia tính trữ lượng.
+ Tập than giữa: gồm 22 vỉa, từ vỉa V.2(37) đến vỉa V.17(52) có 18 vỉa
tham gia tính trữ lượng (trong đó tính cả vỉa vách và vỉa trụ).
14
Báo cáo địa chất kết quả thăm dò khu mỏ than Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
+ Tập than trên: gồm 10 vỉa từ V.18(53) đến vỉa V.27(62) có 4 vỉa tham
gia tính trữ lượng là: V.18(53), V.22(57), V.23(58), V.24(59).
a. Tập than dưới (T
3
n-r hg
1
2
):
Tập chứa than dưới phía Bắc từ trụ vỉa 2, phía Nam từ trụ vỉa 4. đất đá và
các vỉa than tạo thành cấu trúc nếp lồi không hoàn chỉnh. Theo báo cáo trung
gian 1994 các tác giả đồng danh lại các vỉa 1 Bắc vào vỉa 3 Nam; 1b Bắc vào
vỉa 2 Nam; 1d Bắc vào 1a Nam…Ba cặp vỉa này có các yếu tố giống nhau về
chiều dày, chất lượng than, đặc điểm đá vách, trụ vỉa, thành phần các đá nằm
giữa hai vỉa than; theo đó các yếu tố vật lý cũng tương đồng về điện trở suất
(ρk), cường độ phóng xạ tự nhiên (I)…Tuy nhiên giữa hai tập vỉa 1 Bắc và 3
Nam cũng có yếu tố không tương đồng như số lượng của tập vỉa 1 Bắc nhiều

sang Đông. Giới hạn dưới là trụ vỉa 2, giới hạn trên là trụ vỉa 18, tổng chiều dày
của tập là 1170m, chứa 27 vỉa than, trong đó tính trữ lượng tài nguyên tất cả các
vỉa, bao gồm: V.2(37), V.3(38), V.4 (39), V.5T(40T), V.5V(40V), V.6T(41T),
15
Báo cáo địa chất kết quả thăm dò khu mỏ than Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
V.6V(41V), V.7a(42a), V.7T(42T), V.7V(42V), V.8a(43a), V.8T(43T),
V.8V(43),V.9aT(44aT), V.9aV(44aV), V9bT(44aT), V.9bV(44bV), V.9T(44T),
V.9V(44V), V.10(45), V.11(46), V.12(47), V.16(51). Tập vỉa này là đối tượng
khai thác chính từ trước tới nay.
Trầm tích chứa than tập này phân nhịp khá hoàn chỉnh, bắt đầu là trầm
tích hạt thô sạn hoặc cuội kết, chuyển dần đến cát kết hạt thô, trung đến mịn, bột
kết, sét kết, kết thúc là các vỉa than hoặc sét than; sau đó là quá trình ngược lại.
Tỷ lệ các loại đá: sạn và cuội kết chiếm 40%, cát kết chiếm 30%, bột kết chiếm
20%, sét kết chiếm 5%, than 5%.
Các vỉa than thuộc loại có chiều dày mỏng đến trung bình nhưng không
ổn định về chiều dày, vỉa duy trì tương đối liên tục. Các vỉa than có quy luật
chung là chiều dày vát mỏng dần từ Tây sang Đông và từ lộ vỉa xuống sâu theo
hướng cắm (trừ vỉa V.16(51)). Cấu tạo các vỉa than thuộc loại tương đối phức
tạp đến phức tạp. Mức độ biến đổi trong không gian thuộc loại không ổn định.
Theo kết quả tính toán được hệ số biến thiên chiều dày (Vm) của tập vỉa này
khoảng 84%, vỉa thuộc loại phức tạp đến tương đối phức tạp.
Tập chứa than giữa được liên hệ định danh tương đối chắc chắn qua các
công trình thăm dò. Việc liên hệ tập than giữa các khối nhỏ (phần cắt bởi F.CB,
F.11, F.129 và các đứt gãy khác) hoàn toàn có cơ sở. Ở đây có một loạt tầng, tập
hợp đá, vỉa than chuẩn, đó là nhịp vỉa 11 duy trì suốt từ Tây sang Đông.
c. Tập than trên (T
3
n-r hg
2
3

Trầm tích phân nhịp, thành phần gồm các đá vụn thô: Cuội sạn kết chiếm
3,5%, cát kết chiếm 46%, bột kết chiếm 30%, sét kết chiếm 10%, sét than và
than chiếm 10%.
Các vỉa than cắm đơn nghiêng về phía Nam với góc dốc từ 45
0
÷ 60
0
, có
nơi từ 70
0
÷ 80
0
. Các vỉa than đa số thuộc loại vỉa có chiều dày trung bình đến
mỏng, một số phần vỉa thuộc loại dày. Các vỉa than duy trì khá liên tục, nhưng
mức độ ổn định kém, càng về phía Đông chiều dày vỉa giảm, có nơi vát mỏng,
không còn than, cũng như vậy đối với từ lộ vỉa đến xuống sâu theo hướng cắm
các lớp than có xu hướng tách ra xa, tạo sự tách vỉa.
Các vỉa than khối Nam thuộc loại vỉa có chiều dày không ổn định, cấu tạo
vỉa tương đối phức tạp đến rất phức tạp. Khoảng cách địa tầng giữa các vỉa than
thay đổi từ 50m đến 150 m. Theo kết quả tính toán được hệ số biến thiên chiều
dày (Vm) của cánh Nam khoảng 106% (Vm>100%) vỉa thuộc loại rất phức tạp.
Liên hệ địa tầng giữa khối Nam và khối Bắc
Vấn đề liên hệ địa tầng giữa hai khối Bắc và Nam đã tồn tại từ báo cáo
TDTM năm 1970 cho đến nay vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng. Việc liên hệ
tập vỉa 1 cánh Bắc vào tập vỉa 3 cánh Nam cũ đã mang một phần nào nhận định
về mối liên hệ “bắc cầu” giữa các vỉa trên và dưới nó.
Tại mặt cắt T.VII và một số mặt cắt lân cận cho thấy có tương đồng ở
mức độ nhất định giữa các cặp vỉa: V.5 cánh Nam ⇔ V.2 cánh Bắc; V.6 cánh
Nam ⇔ V.3 cánh Bắc; V.7 cánh Nam ⇔ V.4 cánh Bắc; V.8a cánh Nam ⇔
V.5 cánh Bắc; V.8 cánh Nam ⇔ V.6 cánh Bắc; V9 cánh Nam ⇔ V.7 cánh Bắc;

Nam F.B.
GIỚI CENNOZOI (CZ)
Hệ Neogen (N):
Chủ yếu phân bố ở phía Tây khu mỏ, từ T.IB đến sông Đá Bạch, qua
những lỗ khoan LK.202, LK.203, LK.204, chiều dày lớn nhất được xác định
khoảng 300m. Thành phần thạch học chủ yếu là sét, sét chứa cát, cát chứa sét và
cát mịn đến trung, màu vàng nhạt, xám vàng, trắng xám. Tính chọn lọc độ hạt
khá đều đặn, bán keo kết. Xếp lớp kiểu sóng thoải và sóng phẳng. Có chứa một
ít hóa thạch thực vật đã bị than hóa cục bộ có kẹp với than nâu. Trầm tích tướng
ao hồ. Tiếp xúc chỉnh hợp có góc với địa tầng chứa than.
Hệ Đệ tứ (Q):
- Phần dưới: phân bố ở phía Nam khu thăm dò dọc theo quốc lộ 18 và
đường sắt. Thành phần chủ yếu là sét, sét cát, cát chứa sét. Trầm tích tướng ao
hồ và tướng hồ đọng. Màu trắng xám, trắng phấn, cát mịn và cát màu đỏ, màu
trắng xám tướng bồi tích. Cục bộ có kẹp lớp cát thô và đá cuội, chiều dày từ 40-
70m.
- Phần trên: Trầm tích cận đại, ở vùng đồi núi chủ yếu là khối bồi tích,
sườn tích cuội, đất cát chứa cuội và vật tàn tích bị phong hóa. Ở vùng trũng
trước núi có cuội cát, cát, đất và cát chứa sét tướng bồi tích và lũ tích. ở vùng
đồng bằng phần lớn là đất trồng trọt. Chiều dày khoảng 10-15m.
Địa tầng này tiếp xúc chỉnh hợp góc với địa tầng hệ Neogen.
I.2. Kiến tạo
Các yếu tố kiến tạo cơ bản của khu vực mỏ Mạo Khê được tổng hợp cơ
bản kế thừa theo kết quả “Báo cáo thăm dò tỷ mỷ mỏ than Mạo Khê - Đông
Triều - Quảng Ninh“ do tác giả Đỗ Chí Uy thành lập năm 1970 đã được Hội
đồng Xét duyệt Trữ lượng Khoáng sản phê duyệt tại quyết định số 02/QĐ-
18
Báo cáo địa chất kết quả thăm dò khu mỏ than Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
HĐTL ngày 22/4/1971, có tham khảo tài liệu Báo cáo trung gian thăm dò địa
chất mức -150 khu mỏ mạo Khê - Đông Triều - Quảng Ninh do tác giả Phí Trí

0
- 290
0
),
hướng cắm của mặt trượt Đông Bắc. Đứt gãy F.18 chạy dọc toàn vùng hai cánh
của đứt gãy phần nhiều bị phủ bởi lớp trầm tích Đệ Tứ, vị trí xuất lộ không rõ,
qua các lỗ khoan: LK.KN12, LK.KN5, LK.19, LK.16 xác định tầng đá vôi C
3
-
P
1
tiếp xúc với địa tầng T
3
C, làm cho địa tầng T
2
l bị mất đi và có thấy loại đá
dăm kết của đới vỡ vụn rộng tới 160m (theo báo cáo thăm dò tỉ mỉ 1970 của Đỗ
Chí Uy).
19
Báo cáo địa chất kết quả thăm dò khu mỏ than Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
2. Đứt gãy thuận F.TL (đứt gãy Trung Lương): Là đứt gãy thuận cắm
Nam, phát triển theo phương Đông –Tây, phân bố dọc ranh giới phía Bắc khu
mỏ, góc dốc mặt trượt đứt gẫy trên 60
0
. Phần trên của địa tầng than tiếp xúc trực
tiếp với địa tầng T
2
l, thế nằm của địa tầng T
2
l và địa tầng than ngược nhau.

. Cự ly dịch chuyển
ngang của đất đá và các vỉa than ở hai cánh từ 50m ÷ 70m, cự ly dịch chuyển
đứng từ 90m ÷ 160m. Các công trình gặp được đứt gãy chủ yếu là G.II.108
(V.8T(43T) khu vực giữa T.Ia và T.II); V.7T(42T) gần LK.505; V5T(40T) gần
LK.361). Các công trình gặp đứt gãy F.340 được thống kê trong Bảng số II-01.
5. Đứt gãy thuận F.11: Phát triển trong địa tầng cánh Bắc khu mỏ từ T.V
về phía Đông và bị chặn bởi đứt gãy F.129. Đứt gãy F.11 có chiều dài theo
phương khoảng 6500m, đường phương Tây Bắc - Đông Nam (300
0
); Mặt trượt
cắm về Đông Bắc, thay đổi phức tạp nhiều đoạn có cấu tạo cắm đảo (T.X); Góc
dốc mặt trượt trung bình từ 70
0
÷ 75
0
. Cự ly dịch chuyển ngang từ 30m đến
50m, cự ly dịch chuyển đứng dọc theo mặt trượt từ 100m(T.VIII) ÷ >200m.
Trên mặt ở suối phía Nam LK.113 thấy có dăm kết, các điểm địa chất ĐC.872,
873, 874 đều có vụn nát. Các công trình thăm dò gặp đứt gãy F.11 được được
thống kê trong Bảng số II-01.
6. Đứt gãy thuận Cao Bằng (F.CB): Tồn tại trong địa tầng cánh Bắc khu
mỏ từ T.VA đến T.IXA. Đứt gãy có phương gần Tây Bắc đến Đông, chiều

dài
đứt gẫy khoảng 2460m. Đứt gãy thuận Cao Bằng có mặt trượt cắm Bắc, Đông
bắc, góc dốc mặt trượt thay đổi từ 60
0
÷ 75
0
. Cự ly dịch chuyển của đất đá và

. Cự ly dịch chuyển
ngang của đất đá và các vỉa than ở hai cánh từ 30m ÷ 50m; Cự ly dịch chuyển
đứng 50m ÷ 70m. Đứt gãy F.57 được các công trình xác định gồm: LK.316.
LK.324, LK.64.
b. Các đứt gãy nghịch:
1. Đứt gãy nghịch A-A (FA): Kế thừa kết quả nghiên cứu trong Báo cáo
trung gian thăm dò địa chất mức -150 khu mỏ mạo Khê - Đông Triều - Quảng
Ninh do tác giả Phí Trí Thiện. Đứt gãy F.A-A chia khu mỏ thành hai khối (khối
cánh Bắc và khối cánh Nam). Trong báo cáo TDTM 1970 các tác giả đã vẽ
trùng với trục nếp lồi Mạo Khê - Tràng Bạch. Kết quả thăm dò bổ sung từ năm
1980 - 1983 đã cho phép liên hệ tập vỉa 1 cánh Bắc vào tập vỉa 3 cánh Nam cũ.
Song F.A-A vẫn được xác định là đứt gãy có tính chất phân chia hai khối Bắc
và Nam mỏ Mạo Khê.
Từ phía Tây đến T.IX, đứt gãy F.A-A ở vị trí trùng với tài liệu đã xác lập
trong báo cáo năm 1970 và báo cáo năm 1994.
Đứt gãy F.A nghịch, cắm Bắc. Độ dốc của mặt trượt đứt gãy thay đổi từ
70
0
- 80
0
. F.A-A là đứt gãy lớn có tính chất phân khối cấu tạo. Đới phá huỷ của
đứt gãy thay đổi từ 50m ÷ 100m. Mặt cắt quan sát rõ nhất là thành lò khu Tràng
Khê I mức +30, thế nằm các lớp đất đá bị xáo trộn liên tục, nhiều mặt trượt và
đứt gãy nhỏ đi kèm, nhưng không có dăm kết kiến tạo.
21
Báo cáo địa chất kết quả thăm dò khu mỏ than Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
2. Đứt gãy nghịch F.C: Tồn tại phía Nam khu mỏ, phía Nam T.A-A khu
vực giữa T.IVA đến T.IX, chiều dài khoảng 2420m. Đứt gãy F.C có phương
gần Đông - Tây, đầu phía Đông chuyển hướng Tây Bắc - Đông Nam. Đứt gẫy
F.C nghịch, cắm Bắc, góc dốc mặt trượt từ 60

- -
LK.202, 217, 61a,
53, 214, 38a, 44a,
119,
Kế thừa
tài liệu cũ
2 F.CB Thuận Đ-T 3857
Bắc
60
0
- 78
0
80-150m
C.11, C.12, lß 58III,
lß CB I+147,
LK.372, 371C, 23,
391, …
3
F.1 Thuận TB-ĐN 1500
báo cáo
TDTM
1970-
4
F.10 Thuận TB-ĐN 800
TN
65
0
- 70
0
50-60m 40-60m

0
- 65
0
80-100m 50-70m
BC1970;
BC1994
8 F.A Nghịch TB-ĐN 7640
Bắc
70
0
- 80
0
LK.64, 317, 56A,
MK45, 18, MK6,
409, 557A; Lß V10-
TKI+31, H.FA…
BC1970;
BC1994
I.3. Đặc điểm các vỉa than
22
Báo cáo địa chất kết quả thăm dò khu mỏ than Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
I.3.1. Cơ sở đồng danh các vỉa than
Trong báo cáo lần này tổng hợp lại tài liệu địa chất lỗ khoan thăm dò bổ
sung đặc biệt là hai lỗ khoan tìm kiếm TK.18 (1150m), TK.22 (1200m) và hiện
trạng khai thác của mỏ than Mạo Khê, từ đó liên kết, chính xác hóa không gian
phân bố, đặc điểm các vỉa than.
Phương pháp đồng danh các vỉa than trong khu vực được sử dụng chủ yếu
là phương pháp hình học vỉa, phân tích nhịp trầm tích, tướng đá, tài liệu Địa vật
lý các lỗ khoan.
Cấu trúc địa chất và định danh các vỉa than được kế thừa theo kết quả

Báo cáo địa chất kết quả thăm dò khu mỏ than Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
tương đối ổn định theo đường phương và hướng dốc nên được chọn làm tập vỉa
chuẩn để liên hệ và đồng danh các tập vỉa trên, dưới.
Do cấu trúc địa chất của khu vực rất phức tạp, các công trình thăm dò còn
thưa vì thế việc liên hệ đồng danh vẫn còn để lại những tồn tại sẽ giải quyết
trong quá trình thăm dò, khai thác sau này.
Để tiện theo dõi trong những quá trình tổng hợp sau này, chúng tôi thống
nhất ký hiệu tên vỉa than như sau:
Ví dụ1: V.10(45) - Tên vỉa bên ngoài ngoặc V.10 là tên vỉa than số 10
tính từ V.1 Mạo Khê lên (theo báo cáo trung gian TDDC 1994), trong ngoặc
(45) là tên cũ của V.45 báo cáo Tràng Bạch.
Ví dụ2: V.1-21(24b) - Tên vỉa bên ngoài ngoặc V.1-21 là tên vỉa than số
21 tính từ V.1 Mạo Khê xuống, trong ngoặc (24b) là tên cũ V.24b Tràng Bạch.
Trong các báo cáo trước đây, các tác giả đã mô tả chi tiết, đầy đủ các vỉa than
có trong khu mỏ. Vì vậy, trong báo cáo này chúng tôi chỉ mô tả các vỉa than
tham gia tính trữ lượng, theo thứ tự từ dưới lên trên cụ thể như sau:
I.3.2. Mô tả đặc điểm chung các vỉa than
I.3.2.1 Các vỉa than cánh Bắc:
- Các vỉa than thuộc tập chứa than dưới (T
3
nr - hg
2
1
)
Tập chứa than dưới gồm 22 vỉa, từ vỉa V.1-25(21A) đến vỉa V.1(36) và có
10 vỉa tham gia tính trữ lượng, tài nguyên. Các vỉa than trong tập này bị F.A
phân cắt, phân bố từ phía Tây đến về phía Đông, độ cao xuất hiện lộ vỉa thường
+50m. Sự thay đổi của vỉa than theo đường phương nhỏ, có một số vỉa xuống
sâu mỏng dần, phần lớn là những vỉa có chiều dày mỏng với cấu tạo tương đối
đơn giản và tương đối ổn định, ít công trình khống chế nhưng có ý nghĩa về mặt

chiều dài theo phương khoảng 3,3km, không xuất lộ trên mặt. Tồn tại từ mức –
350m trở xuống. V.1E(27) cách V.1DT(30) từ 39 đến 45m, trung bìmh 40m.
Vỉa dốc, thay đổi từ 40
o
đến 60
o
theo hướng dốc vỉa thoải dần. Vỉa có cấu tạo
phức tạp, thường chứa từ 0 đến 2 lớp đá kẹp, chiều dày đá kẹp biến đổi từ 0,00
m ÷ 2,99m, trung bình 0,85 m. Chiều dày than biến đổi từ 0,1m (LK.81A) ÷
6,11m (Lk.458), trung bình 3,46m. Chiều dày riêng than thay đổi từ 0,10m ÷
6,05m, trung bình 2,61m. Vỉa có 08 công trình khống chế. Vách, trụ vỉa chủ yếu
là bột kết, ít sét kết.
4- Vỉa 1D(31): Phân bố ở cánh Bắc đứt gãy F.A, từ phía Tây tuyến T.IIa
đến qua T.IXA, vỉa không xuất lộ trên mặt, tồn tại từ mức –150m trở xuống,
kéo dài khoảng 4,00km. Vỉa V.1D(31) cách V.1C(32) từ 15 ÷ 18m, trung bìmh
16m. Vỉa dốc, từ T.IXV về phía Tây góc dốc thay đổi từ 45
o
đến 80
o
, theo
hướng dốc vỉa thoải dần. Vỉa có cấu tạo tương đối phức tạp, thường chứa từ 0 ÷
4 lớp đá kẹp, chiều dày đá kẹp biến đổi từ 0,00m ÷ 1,13 m, trung bình 0,24 m.
Chiều dày than biến đổi từ 0,39m ÷ 9,39m, trung bình 2,76m. Chiều dày riêng
than thay đổi từ 0,39m (LK.209) ÷ 8,36m (LK.395), trung bình 2,52m. Vỉa có
28 công trình khống chế. Vách, trụ vỉa chủ yếu là sét, bột kết.
5-Vỉa 1C(33): Tồn tại, phân bố ở cánh Bắc đứt gãy F.A, vỉa duy trì liên
tục từ tuyến T.IIa đến TIXA, vỉa không xuất lộ trên mặt, tồn tại từ mức –80m
trở xuống, kéo dài khoảng 4100m, vỉa mỏng dần theo hướng dốc. V.1C(33)
cách V.1CV(34) từ 19 ÷ 73m, trung bìmh 34m. Phía Tây góc dốc thay đổi từ
50


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status