Chiến lược kinh doanh cho ngành ngân hàng thương mại việt nam đến năm 2015 - Pdf 23

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Bước vào thế kỷ 21, trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới, ngành ngân
hàng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức hơn, đặc biệt là trong giai
đoạn hiện nay khi nền kinh tế thế giới đang từng bước vượt qua khủng hoảng. Mặc dù
kinh tế trong nước đã lạc quan hơn nhưng các ngân hàng thương mại vẫn không cảm
thấy “dễ thở” trước sức ép để tồn tại và phát triển. Tìm kiếm một chiến lược kinh
doanh phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, gia tăng tính cạnh tranh, nâng cao
vị thế quy mô của ngân hàng trong giai đoạn hiện nay trở thành nhu cầu cấp thiết của
mỗi ngân hàng.
Xuất phát từ thực tiễn đó, học viên đã chọn đề tài “Xây dựng chiến lược kinh
doanh cho ngành ngân hàng thương mại đến 2015”.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Làm rõ lỹ luận tổng quan về chiến lược kinh doanh và hoạch định chiến lược
kinh doanh
- Đánh giá năng lực hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng thông qua việc
phân tích các yếu tố môi trường ảnh hưởng
- Đề xuất hệ thống giải pháp chiến lược kinh doanh cho ngành ngân hàng
thương mại đến 2015.
1
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH
1.1. Khái niệm chiến lược kinh doanh:
Thuật ngữ “chiến lược” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Strategos” dùng trong
quân sự và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau do sự tiếp cận trong nghiên
cứu. Theo từ điển Larous: “Chiến lược là nghệ thuật chỉ huy các phương tiện để dành
chiến thắng”. Học giả Đào Duy Anh, trong từ điển tiếng Việt đã viết: “Chiến lược là
các kế hoạch đặt ra để dành thắng lợi trên một hay nhiều mặt trận”.
Từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX, chiến lược được ứng dụng vào lĩnh vực kinh
doanh và thuật ngữ “Chiến lược kinh doanh” ra đời. Quan niệm chiến lược kinh doanh
phát triển dần theo thời gian và người ta tiếp cận nó theo nhiều cách khác nhau.
Năm 1962, Chandler định nghĩa chiến lược kinh doanh là “việc xác định các

nghiệp, nó đang được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp.
Quan điểm phổ biến hiện nay cho rằng: “Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật
phối hợp các hoạt động và điều khiển chúng nhằm đạt tới mục tiêu dài hạn của
doanh nghiệp”.
Một chiến lược kinh doanh tốt là chiến lược trong đó công ty có thể chiếm được
lợi thế chắc chắn so với đối thủ với chi phí có thể chấp nhận được.
1.2. Qui trình xây dựng chiến lược kinh doanh:
1.2.1. Xác định mục tiêu
Mục tiêu chiến lược là những đích mong muốn đạt tới của doanh nghiệp. Nó là
sự cụ thể hóa mục đích của doanh nghiệp về hướng, quy mô, cơ cấu và tiến trình triển
khai theo thời gian. Trong cơ chế thị trường nhìn chung các doanh nghiệp theo đuổi ba
mục đích chủ yếu là sự tồn tại, phát triển và đa dạng hóa. Hệ thống mục tiêu chiến
lược còn thể hiện các mong muốn phải đạt tới các kết quả cụ thể nhất định trong thời
kỳ chiến lược. Thường có hai loại mục tiêu: ngắn hạn và dài hạn.
+ Mục tiêu dài hạn: là toàn bộ kết quả mong muốn cuối cùng mà doanh nghiệp
muốn đạt được trong khoảng thời gian dài hơn một năm, với các nội dung cụ thể: mức
lợi nhận, năng suất, vị thế cạnh tranh, phát triển việc làm, quan hệ cộng đồng, vị trí
công nghệ, trách nhiệm xã hội.
+ Mục tiêu ngắn hạn: là các kết quả cụ thể doanh nghiệp kỳ vọng đạt được
trong một chu kỳ, được lượng hóa thành con số.
Nguyên tắc khi xác định mục tiêu
+ Phải rõ ràng trong từng thời gian tương ứng và phải có mục tiêu chung cũng
như mục tiêu riêng cho từng lĩnh vực hoạt động
3
+ Các mục tiêu phải đảm bảo tính liên kết, tương hỗ lẫn nhau, mục tiêu này
không cản trở mục tiêu khác
+ Phải xác định được mục tiêu ưu tiên. Điều đó thể hiện tính thứ bậc của mục
tiêu, nhiệm vụ đề ra đối với doanh nghiệp trong từng giai đoạn.
1.2.2. Đánh giá các yếu tố tác động đến chiến lược kinh doanh:
Hình 1.1: Những cơ sở để xây dựng chiến lược kinh doanh

1. Nhân sự
2. Tài chính
3. Vận hành sản
xuất
4. Marketing
5. Hệ thống thông
tin
6. R&D
Môi trường nội bộ
thể là mối đe doạ đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Việc phân tích yếu tố môi
trường kinh tế giúp cho các nhà quản lý tiến hành các dự báo và đưa ra kết luận về
những xu thế chính của sự biến đổi môi trường tương lai, là cơ sở cho dự báo ngành và
dự báo thương mại.
● Yếu tố tự nhiên:
Các yếu tố tự nhiên như khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, nguồn năng lượng, môi
trường tự nhiên được coi là những yếu tố quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển
của nhiều ngành công nghiệp, nhiều doanh nghiệp. Đe dọa của những thay đổi không
dự báo được về khí hậu, sự khai thác tài nguyên bừa bãi, ô nhiễm môi trường đang đặt
ra nhiều vấn đề cần giải quyết ở cấp quốc gia và quốc tế, nên không thể coi là ngoài
cuộc đối với doanh nghiệp.
● Yếu tố xã hội:
Các yếu tố như dân số, cơ cấu dân cư, tỷ lệ tăng dân số, tôn giáo, chuẩn mực
đạo đức, phong tục tập quán, trình độ dân trí, thị hiếu… là những nhân tố chính trong
việc hình thành thị trường sản phẩm và thị trường các yếu tố sản xuất. Các yếu tố này
thường biến đổi chậm nên các doanh nghiệp thường dễ lãng quên khi xem xét những
vấn đề chiến lược.
● Yếu tố chính trị và pháp lý:
Các nhân tố chính phủ, luật pháp và chính trị tác động đến doanh nghiệp theo
các hướng khác nhau. Chúng có thể tạo ra cơ hội, trở ngại, thậm chí là rủi ro thật sự
cho doanh nghiệp. Chúng thường bao gồm: các chính sách nhà nước về phát triển kinh

vay theo phương thức gián tiếp. Xem xét trên phương diện những loại hình dịch vụ mà
chúng cung cấp thì: Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục
và dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh
toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh
doanh nào trong nền kinh tế.
Các dịch vụ chính của Ngân hàng là: huy động tiền gửi và cho vay, thanh toán
xuất nhập khẩu, mua bán ngoại tệ, bảo lãnh tài trợ thương mại, dịch vụ thanh toán thẻ,
chuyển tiền… cho các cá nhân và tổ chức kinh tế.
6
Hình 2-1: Những chức năng cơ bản của Ngân hàng đa năng ngày nay
Trong 10 năm qua hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh về
số lượng và chất lượng. Sự phát triển của ngành Ngân hàng nằm trong bối cảnh chung
của nền kinh tế trong và ngoài nước và sự chuyển biến phức tạp của kinh tế thế giới.
Mặc dù trải qua nhiều thăng trầm, nhưng ngành Ngân hàng đã tận dụng tốt những thời
cơ, vượt qua không ít cam go trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế để gặt hái được
những thành công to lớn, đóng góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của đất
nước trong những năm qua.
Tính đến thời điểm hiện nay, trong hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam có
5 Ngân hàng thương mại nhà nước (trong đó có Ngân hàng ngoại thương và Ngân
hàng Công thương Việt Nam chuyển sang mô hình cổ phần), 39 Ngân hàng thương
mại cổ phần, 40 Ngân hàng chi nhánh nước ngoài, 5 Ngân hàng liên doanh, 5 Ngân
hàng 100% vốn nước ngoài, 17 Công ty tài chính, 13 Công ty cho thuê tài chính, 53
Văn phòng đại diện Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam và 965 quỹ tín dụng nhân
dân.
Lợi nhuận của các ngân hàng năm 2010 duy trì ở mức tốt bởi tăng trưởng tín
dụng cao và dự phòng thua lỗ các khoản vay thấp. Tỉ suất thu hồi trên bình quân tài
sản (ROA) của 6 ngân hàng lớn nhất theo tính toán của Fitch trong 3 tháng đầu năm
lên mức 1,9% (tính theo trung bình năm). Tỉ suất này năm 2010 là 1,5%.
Tuy nhiên, trong năm 2010, tăng trưởng tài sản các ngân hàng tụt lại so với tăng
trưởng các khoản vay bởi các ngân hàng Việt Nam chú trọng nhiều hơn đến tăng

hết các tổ chức tín dụng nước ngoài hoạt động đều có lãi (chênh lệch thu chi luỹ kế
của các ngân hàng nước ngoài đến cuối tháng 10/2010 đạt 2.947,5 tỷ đồng).
Đối với các ngân hàng liên doanh, hoạt động của nhóm ngân hàng này tăng
trưởng khá ổn định, trong đó nguồn vốn huy động tăng 18,2%, dư nợ tín dụng tăng
34,3% so với cuối năm 2009, tỷ lệ nợ xấu chiếm 1,8% tổng dư nợ, tổng tài sản có tăng
18,3% thu nhập, thu nhập trước thuế đạt 477 tỷ đồng.
Tuy nhiên, nhìn chung ngành tài chính nước ta còn non yếu, năng lực tài chính
thấp thể hiện ở quy mô nguồn vốn của các ngân hàng thương mại (ngân hàng thương
mại nhà nước cao nhất là Agribank trên 21 ngàn tỷ đồng, ngân hàng nước ngoài là 45
triệu USD, ngân hàng liên doanh là 100 triệu USD), trong đó vốn của các ngân hàng
thương mại nhà nước (Agribank, BIDV, Vietcombank, Vietinbank) đã chiếm 60%
tổng vốn của toàn hệ thống. Và nhóm ngân hàng này tiếp tục thống trị hệ thống ngân
hàng Việt Nam, cung cấp tới 51% tổng số các khoản vay trong toàn hệ thống tính đến
hết tháng 9/2010 (con số này năm 2009 là 52% và năm 2008 là 54%). Nhóm ngân
hàng này cung cấp tới 2/3 trong số các khoản vay hỗ trợ lãi suất và vì thế bảo vệ được
thị phần.
Trong thời kỳ hậu WTO, lĩnh vực ngân hàng được xem là điểm nóng cả về phát
triển lẫn cạnh tranh, chưa bao giờ hoạt động và sự chuyển biến của các ngân hàng lại
diễn ra sôi động đến thế. Trong khi Ngân hàng nhà nước đang sửa đổi luật lệ cho phù
hợp với các thông lệ quốc tế, các Ngân hàng thương mại nhà nước và cổ phần đang
tranh thủ thời gian để đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu, xử lý dứt điểm nợ xấu, nợ tồn
đọng, cổ phần hoá, tăng vốn điều lệ, tìm kiếm và hợp tác với các nhà đầu tư chiến
lược, hiện đại hoá hệ thống…
Bên cạnh đó, viễn cảnh kinh tế thế giới cũng khá bi quan. Quỹ tiền tệ quốc tế đã
đưa ra dự báo ban đầu về mức tăng trưởng kinh tế thế giới trong năm 2011 sẽ là 3,9%
và 4,3% trong năm kế tiếp cao hơn mức giảm 1,1% của năm 2010. Tuy nhiên theo cơ
quan này, Mỹ và các nước phát triển khó đạt mức tăng trưởng GDP đủ mạnh để giảm
đáng kể tỷ lệ thất nghiệp. Mặc dù dự báo này vẫn kém xa so với mức tăng trưởng gần
5% của kinh tế thế giới trong thời kỳ 2004 - 2008, nhưng đây đã là một sự cải thiện
đáng kể so với mức suy giảm 0,8% năm 2009, năm mà sản lượng kinh tế toàn cầu lần

tăng trưởng hợp lý. Năm 2010 được nhìn nhận là năm tăng trưởng khá và nhanh chóng
vượt qua khủng hoảng, là năm vượt kỷ lục về vốn ODA (hơn 8 tỷ USD) cũng như xuất
khẩu gạo (xuất khẩu được hơn 6 triệu tấn), là năm thị trường chứng khoán phục hồi
10
mạnh và thị trường bất động sản sôi động nhưng đây lại là năm có tỷ giá và giá vàng
tăng chóng mặt.
Bước sang năm 2011, Việt Nam đã tròn 4 năm gia nhập tổ chức thương mại thế
giới (WTO). Sau năm 2007 gia nhập WTO đến năm 2008 xuất khẩu đã tăng đáng kể,
tuy nhiên đến năm 2009 lại bị âm 9% do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới.
Về thu hút vốn đầu tư nước ngoài, năm 2007 có số vốn cam kết là 81 tỷ USD, năm
2008 vảo khoảng 60-71 tỷ USD, năm 2009 giảm xuống còn 20 tỷ USD do khủng
hoảng kinh tế. Đặc biệt, để hội nhập vào nền kinh tế thế giới đã tạo ra sức ép buộc các
cơ quan Trung ương và địa phương phải giảm khoảng 30% các thủ tục hành chính.
Năm 2011 được dự báo là năm nền kinh tế thế giới phục hồi dù còn chật vật
khó khăn; kinh tế Việt Nam cũng trong quá trình vượt qua suy giảm. Năm 2011 là
ngưỡng cửa bước vào giai đoạn nước rút đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp
vào năm 2020, để Việt Nam bước từ nước thu nhập thấp thành nước có thu nhập trung
bình (thu nhập trên 1.000 USD/người).
Cũng trong năm mới này, Chính phủ đã đưa ra thông điệp kiểm soát tăng
trưởng tín dụng không vượt quá 25%, thấp hơn nhiều so với con số 38 – 39% của năm
2010.
Áp lực huy động vốn tiếp tục gia tăng, dẫn đến cho vay ra cũng phải thận trọng
và chọn lọc khách hàng tốt nhất để cho vay, người vay phải trả lãi suất cao. Đồng thời
các biện pháp thắt chặt tiền tệ sẽ làm cho lượng tiền cung ứng ra thị trường ít hơn, việc
huy động vốn sẽ khó khăn hơn so với năm 2010. Mặt khác, việc hạn chế mở rộng
mạng lưới hoạt động nếu tiếp tục kéo dài trong năm 2011 sẽ gây khó khăn cho các
ngân hàng trong việc tăng trưởng thị phần.
Tuy nhiên, với mức dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới khoảng 3,9% năm 2011
thì nó sẽ tác động tích cực đến kinh tế Việt Nam. Những nền kinh tế lớn như Mỹ,
Châu Âu, Nhật Bản bắt đầu tăng trưởng trở lại thì không ít thì nhiều nền kinh tế Việt

Tuy đây là mức tăng trưởng kinh tế thấp nhất trong vòng 10 năm gần đây (năm
2008 tăng 6,18%, năm 2007 tăng 8,46%, năm 2006 tăng 8,23% ) nhưng Việt Nam
vẫn được thế giới đánh giá là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng cao trong
khu vực Châu Á (sau Trung Quốc tăng gần 7,8%).
Mức tăng trưởng như trên cho thấy, xu hướng phục hồi của nền kinh tế nước ta
năm 2009 là rõ nét. Kết quả đó đánh dấu sự thành công bước đầu của Chính phủ trong
chỉ đạo, điều hành vĩ mô nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế. Tổng sản phẩm trong nước
(GDP) quí I/2011 ước tính tăng 5,83% so với cùng kì năm 2010, bao gồm khu vực
12
nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,45%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng
5,65%, khu vực dịch vụ tăng 6,64%).
Hình 2-5: Biểu đồ tăng trưởng GDP của VN từ 2001 đến 2010
Nguồn: Theo số liệu của Tổng cục thống kê
● Yếu tố lạm phát:
Lạm phát là yếu tố nhạy cảm của nền kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lạm phát tăng dẫn đến bất lợi cho doanh
nghiệp. Yếu tố chính làm cho lạm phát tăng lên là do giá cả thị trường tăng lên.
Sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, Việt Nam hai năm liền rơi
vào tình trạng giảm phát là năm 2000 và năm 2001. Lạm phát dần quay trở lại từ năm
2004 do các chính sách kích cầu mạnh mẽ cùng với sự leo thang của giá nhiều mặt
hàng trên thế giới. Năm 2007, lạm phát tăng lên 2 con số đã gây nên hoang mang cho
người dân. Lạm phát thực sự bùng nổ và gây nên những bất ổn vĩ mô vào năm 2008.
Lạm phát đỉnh điểm vào tháng 7/2008 khi lên tới trên 30%. Kết thúc năm 2008 thì lạm
phát lùi về còn 19,89%, đây là mức cao nhất trong vòng 17 năm qua. Lạm phát tăng
cao làm cho việc huy động và cho vay vốn của các ngân hàng gặp nhiều khó khăn. Nó
làm yếu và thậm chí còn phá vỡ thị trường vốn, ảnh hưởng lớn đến các hoạt động của
ngân hàng thương mại. Sự không ổn định của giá cả, bao gồm cả giá vốn, đã làm suy
giảm lòng tin của các nhà đầu tư và dân chúng, gây khó khăn cho sự lựa chọn các
quyết định của khách hàng cũng như các thể chế tài chính tín dụng.
Sang năm 2011, do ngay từ đầu năm Chính phủ và các cấp, các ngành đã triển

Năm 2008 có thể nói là một năm “sóng gió” của ngành tài chính ngân hàng.
Tháng 12/2007 lãi suất cơ bản là 8,25% nhưng đến 19/5/2008 lãi suất cơ bản đã được
nâng lên thành 12%. Đến ngày 11/6/2008 lãi suất cơ bản lại một lần nữa được điều
chỉnh lên thành 14%. Thị trường ngân hàng nóng lên từng ngày khi các ngân hàng đua
nhau tăng lãi suất huy động vốn, mức lãi suất cho vay tối đa lên tới 21%/năm. Doanh
nghiệp “kêu trời” trong khi người dân kéo nhau đi gửi tiền.
Tuy nhiên, với việc hàng loạt các nước trên thế giới hạ lãi suất cơ bản để đối
phó với sự suy thoái, Ngân hàng nhà nước đã điều chỉnh kịp thời các mức lãi suất để
kết thúc năm 2008, lãi suất trở về gần mức lãi suất đầu năm (8,5%), nới lỏng và tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận với tín dụng dễ dàng hơn với lãi suất thấp
hơn.
Ngân hàng nhà nước đã từng bước nới lỏng chính sách tiền tệ vào những tháng
đầu năm 2009 để thức đẩy phát triển sản xuất kinh doanh và chủ động hạn chế tác
động của khủng hoảng tài chính, ngăn chặn nguy cơ suy giảm kinh tế. Tuy nhiên, với
đà tăng trưởng trở lại của kinh tế trong nước cũng như thế giới, càng về những tháng
cuối năm diễn biến thị trường tài chính tiền tệ càng trở nên phức tạp, áp lực lạm phát
trở lại đối với nền kinh tế ngày càng rõ nét. Với mục tiêu duy trì sự ổn định của kinh tế
vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế bền vững trong năm 2010, chủ động đối
phó với diễn biến phức tạp của thị trường tài chính và kinh tế thế giới, Ngân hàng nhà
nước đã quyết định điều chỉnh lãi suất cơ bản là 8%.
Bên cạnh sự thay đổi một cách chóng mặt của lãi suất thì tỷ giá cũng thay đổi
không kém. Sau cơn sốt USD diễn ra vào giữa tháng 6/2008, giá USD “chợ đen” có
lúc leo lên tới 19.200 đ/USD buộc Ngân hàng nhà nước ra quyết định nới rộng biên độ
tỷ giá. Đến 25/12/2008 tỷ giá bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng được
áp dụng là 16.989 đ/USD.
Suốt trong năm 2010 thị trường ngoại tệ căng thẳng và tăng giá chưa từng có,
giá USD trên thị trường tự do đã giao động trong khoảng 19.000 – 20.000 đ/USD,
trong khi giao dịch tại hệ thống ngân hàng cũng đã lên tới 18.500 đ/USD sau Quyết
định điều chỉnh của Ngân hàng nhà nước ngày 26/11/2009. USD tăng giá đã gây khó
15

Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg ngày 21/01/2009 về việc ban hành Quy chế
bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn ngân hàng thương mại. Chính sách hỗ trợ lãi suất
16
được áp dụng theo cơ chế đã được quy định tại Quyết định số 443/QĐ-TTg ngày
4/4/2009 (đến 31/12/2009 thì dừng thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất này đối với vốn
lưu động ngắn hạn). Quyết định số 131/QĐ-TTCP về việc thu hẹp phạm vi áp dụng hỗ
trợ lãi suất đối với khoản vay trung và dài hạn đã phát huy tác dụng tích cực giúp Việt
Nam không những kiềm chế được khủng hoảng, suy thoái mà còn giữ ổn định kinh tế
vĩ mô, duy trì tăng trưởng… khiến nhiều nước trên thế giới phải khâm phục.
Thông tư số 07/2010/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước vào ngày 26/2/2010
và thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 cho phép các ngân hàng thương
mại thực hiện lãi suất thoả thuận đối với các khoản vay trung và dài hạn cũng như
ngắn hạn và có thể thoả thuận với khách hàng để cho vay với lãi suất cao hơn lãi suất
trần. Sự thông thoáng về lãi suất này đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng cùng vốn cho
các doanh nghiệp với mục đích đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Nghị định 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ về ban hành danh mục vốn pháp
định của các tổ chức tín dụng thì mức vốn điều lệ tối thiểu của các ngân hàng thương
mại cổ phần vào ngày 31/12/2008 ít nhất phải đạt 1.000 tỷ đồng, từ năm 2010 vốn điều
lệ tối thiểu mỗi ngân hàng được nâng lên 3.000 tỷ đồng để đảm bảo cho các ngân hàng
thương mại có đủ năng lực cạnh tranh trong bối cảnh mới.
Tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán của cả
nước giảm liên tục từ mức 23,7% năm 2001 xuống còn 14,6% năm 2008 và năm 2009
vẫn duy trì được xu hướng tích cực này. Như vậy là về đích sớm hơn so với đề án
không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến 2020 tại Việt Nam đã
được Thủ tướng phê duyệt.
2.2.3. Ảnh hưởng của thay đổi công nghệ:
Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, tạo lập được một nền tảng kỹ thuật, công
nghệ thông tin vững chắc luôn là một trong những chuẩn mực của một ngân hàng hiện
đại. Công nghệ kỹ thuật là một trong những yếu tố cốt lõi tạo nên toàn bộ hoạt động
cuả một ngân hàng, quyết định chất lượng dịch vụ của ngân hàng đó. Để nâng cao khả

hoá nền kinh tế cần được khắc phục. Đó cũng là khó khăn mà nhà nước ta cần giải
quyết xoá bỏ, tạo ra một môi trường thanh toán văn minh để bắt kịp các nước trên thế
giới.
18
Chương 3: CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CHO NGÀNH NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2015
3.1. Các giải pháp thực hiện:
3.1.1. Nhóm giải pháp nhằm phát huy điểm mạnh:
● Giải pháp về nguồn nhân lực:
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên:
Cán bộ, nhân viên là khâu quyết định hiệu quả kinh doanh và nâng cao năng lực
cạnh tranh của ngân hàng. Kết quả này phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ, tính năng động sáng tạo, đạo đức nghề nghiệp, thái độ phục vụ của cán bộ
ngân hàng, đó cũng là những vấn đề mà khách hàng phàn nàn nhiều nhất và mong
muốn nhiều nhất từ ngân hàng. Do vậy, để góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm
dịch vụ ngân hàng và tạo được hình ảnh thân thiện trong lòng khách hàng thì việc nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên chính là một giải pháp rất quan trọng. Thực
hiện giải pháp này, ngành nên tập trung trên các phương diện sau:
+ Nên xây dựng một quy trình tuyển dụng nhân viên khoa học, chính xác, hợp
lý nhưng phải phù hợp với điều kiện riêng của từng ngân hàng nhằm tuyển chọn được
những nhân viên có trình độ và phù hợp với yêu cầu công việc.
+ Định kỳ tổ chức các khoá đào tạo kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ
cán bộ, nhân viên về khả năng thực hiện công việc với kỹ thuật công nghệ hiện đại,
khả năng ứng xử khi tiếp xúc khách hàng. Đồng thời lập kế hoạch cử các cán bộ trẻ có
năng lực đi đào tạo chuyên sâu ở các lĩnh vực kinh doanh chủ chốt, các dịch vụ mới
nhằm xây dựng được đội ngũ chuyên gia giỏi, làm nòng cốt cho nguồn nhân lực trong
tương lai.
+ Thuê công ty tư vấn nguồn nhân lực đánh giá lại trình độ của đội ngũ quản trị
điều hành cũng như đội ngũ cán bộ nhân viên để làm cơ sở cho việc đào tạo, bồi
dưỡng; xây dựng bảng lương cho đội ngũ quản trị trung cao cấp, đội ngũ cán bộ nhân

Nội dung tổ chức mô hình phát triển theo hướng đẩy mạnh giao dịch một cửa,
quản lý ngân hàng theo nhóm khách hàng và loại dịch vụ thay thế cho việc quản lý
theo chức năng và nghiệp vụ như hiện nay. Đây cũng là cách quản lý mà các ngân
hàng trên thế giới áp dụng. Ưu điểm của nó là nâng cao khả năng phục vụ và chăm sóc
khách hàng, hơn nữa trình độ của nhân viên nghiệp vụ cũng phát triển sâu rộng hơn.
Tuy nhiên, hiện nay quá trình triển khai tại các ngân hàng còn chậm, chưa được hoàn
thiện, trong thời gian sắp tới các ngân hàng cần bố trí thêm các bộ phận và phòng ban
khác cần thiết như sau:
20
+ Phòng nghiên cứu và phát triển, marketing: nghiên cứu thị trường, phát triển
sản phẩm, thực hiện chính sách khách hàng…
+ Bộ phận tiếp tân: trực tiếp đón khách hàng và hướng dẫn khách hàng giao
dịch.
+ Bộ phận tư vấn, chăm sóc khách hàng.
Từ đó thực hiện điều chuyển, sắp xếp, luân chuyển cán bộ cho phù hợp với yêu cầu
nhiệm vụ trên cơ sở phát huy tốt nhất năng lực, sở trường của từng cá nhân theo đúng
quy định.
● Hoàn thiện công tác quản trị điều hành:
- Chuyển dần việc quản trị điều hành từ “cầm tay, chỉ việc” sang đặt yêu cầu,
mục tiêu, giành quyền chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện cho các bộ phận.
- Đổi mới quản trị kinh doanh - quản trị điều hành hướng tới các chuẩn mực và
thông lệ quốc tế của hệ thống ngân hàng thương mại hiện đại. Nghĩa là quản trị kinh
doanh theo nhóm khách hàng và loại hình sản phẩm, dịch vụ. Tạo điều kiện phục vụ
khách hàng, tăng cường khả năng tiếp cận và cung cấp sản phẩm chuyên biệt cho từng
loại đối tượng khách hàng, đưa ra chính sách phù hợp cho mỗi loại khách hàng. Đồng
thời, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng, giảm bớt chi phí tăng hiệu quả kinh
doanh, tăng sức cạnh tranh.
- Nâng cao năng lực quản trị điều hành của đội ngũ cán bộ quản lý: đủ về số
lượng, đảm bảo chất lượng chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất cũng như hiểu biết
chuyên môn nghiệp vụ và năng lực quản lý. Đảm bảo việc quản trị, điều hành hoạt

- Xây dựng định hướng, mục tiêu hoạt động dài hạn trong đó tập trung các
ngành kinh tế mũi nhọn theo định hướng của Chính phủ, của Tỉnh.
- Dịch chuyển và hướng tới cơ cấu cho vay ngắn hạn phù hợp hơn, mở rộng cho
vay các khách hàng ngoài quốc doanh, khách hàng trong các Khu công nghiệp…
- Thực hiện phân tích khách hàng, khoản vay, tài sản đảm bảo một cách khách
quan nhất, yêu cầu đề xuất khách hàng hoàn chỉnh hồ sơ theo đúng qui trình thẩm định
để phối hợp với bộ phận tín dụng làm chủ được dư nợ, thực hiện chuyển đổi tài sản
thành tiền nhanh nhất khi có rủi ro.
- Định kỳ xây dựng, rà soát danh mục khách hàng (bán buôn, bán lẻ và ngành
nghề), xếp hạng khách hàng để đưa ra chính sách khách hàng trên quan điểm rủi ro và
hiệu quả.
22
- Rút ngắn thời gian nghiên cứu dự án, giải ngân sớm giúp doanh nghiệp giữ
được cơ hội kinh doanh bằng cách chủ động tiếp cận tham gia cùng doanh nghiệp ngay
từ khi xây dựng dự án, phương án sản xuất kinh doanh.
- Xây dựng và phát triển hệ thống bán lẻ (cho vay tiêu dùng, kinh doanh thẻ…),
đảm bảo tăng tài sản có an toàn.
● Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin:
- Tích luỹ và tập trung vốn cho việc đầu tư phát triển công nghệ thông tin bằng
cách nâng cao vốn tự có.
- Thiết lập chuẩn nhân sự và thiết kế các chương trình đào tạo tại chỗ để nhân
viên đạt chuẩn cả về lý thuyết lẫn thực hành, đáp ứng cả 3 kỹ năng: cứng, mềm và sử
dụng công cụ. Cần động viên nhân viên qua lương, thưởng và các chế độ khác.
- Trong quá trình đầu tư cho công nghệ, ngành ngân hàng cần quan tâm và nhất
thiết phải có giải pháp đảm bảo cho sự hoạt động liên tục, bảo vệ các tài nguyên quan
trọng và các hoạt động thiết yếu, đồng thời xây dựng kế hoạch phục hồi sự cố cho hệ
thống công nghệ thông tin vì hoạt động kinh doanh ngân hàng ngày càng phụ thuộc
nhiều vào công nghệ thông tin, do đó sự ngưng trệ của hệ thống công nghệ thông tin
có thể gây ra những thiệt hại cho ngân hàng như giảm doanh thu, mất khách hàng và
các đối tác kinh doanh, hoặc làm giảm uy tín ngân hàng.

- Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện và nâng cao chất lượng, tạo các tiện ích mới
cho các sản phẩm hiện có, đảm bảo đáp ứng yêu cầu của từng nhóm khách hàng như:
tạo, in, gửi email/swift sao kê tài khoản Vostro…. Đồng thời triển khai mở rộng phạm
vi hoạt động sản phẩm dịch vụ hiện có như: thanh toán hoá đơn với Viettel, thanh toán
lương, homebanking… và đẩy mạnh dịch vụ tư vấn đầu tư.
- Thành lập bộ phận dịch vụ ngân hàng qua điện thoại để giải đáp thắc mắc, tư
vấn cho khách hàng về các sản phẩm, dịch vụ .
● Quản lý rủi ro và kiểm toán nội bộ:
Kinh doanh ngân hàng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro cao. Rủi ro ngân
hàng bao gồm các loại như: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro thị
trường, rủi ro tỷ giá, rủi ro về vốn. Chính vì vậy các ngân hàng cần chú ý quản trị rủi
ro nhằm chủ động trong việc đạt được mục tiêu lợi nhuận bằng cách:
- Duy trì dự trữ thanh khoản, trạng thái lãi suất và tỉ giá ở mức cân đối
- Thiết lập dự phòng đầy đủ và hợp lý
- Giữ lợi nhuận kỳ vọng ở mức “đánh chắc” để cân đối các mục tiêu khác.
- Phân tán rủi ro qua phân tán khách hàng, phân tán ngân hàng (đồng tài trợ)
24
- Gia tăng hoạt động dự báo
- Giảm đưa vốn vào lĩnh vực rủi ro cao
- Giữ chuẩn tín dụng ở mức không quá thấp
- Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá nội bộ để kiểm soát chặt chẽ rủi ro
tiềm ẩn theo định kỳ và đột xuất để đưa ra hướng chấn chỉnh kịp thời.
● Hình thành và phát triển hoạt động Marketing:
- Phát triển nhanh kênh phân phối sản phẩm dịch vụ : Việc tìm hiểu và lựa chọn
thị trường rất quan trọng, chi phí và sự kỳ vọng vào thị trường đòi hỏi ngân hàng phải
có hoạch định rõ ràng, đúng đắn để không gặp phải sự thất bại.
- Đẩy mạnh hoạt động quảng bá thương hiệu, phát triển sản phẩm dịch vụ, các
chương trình khuyến mãi, chương trình chăm sóc khách hàng:
+ Cần thiết lập bộ phận Marketing cho ngân hàng:
Có thể nói không có phòng ban nào đảm nhiệm công tác Marketing là một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status