1
Lời cảm ơn
Luận văn đợc hoàn thành dới sự hớng dẫn nhiệt tình của
PGS.TS Hoàng Nh Tầng. Học viên xin chân thành cảm ơn Trờng
Đại học Xây dựng, Khoa Sau đại học, Bộ môn Thí nghiệm và
Kiểm định Công trình, Công ty T vấn và Thiết kế xây dựng (CDC)
Bộ Xây Dựng, đặc biệt là PGS.TS Hoàng Nh Tầng đã hớng
dẫn và tạo điều kiện giúp đỡ học viên hoàn thành Luận văn
đúng thời hạn.
2
Mục lục
Lời cảm ơn
1
Mục lục
2
Mở đầu
5
Chơng 1: sử dụng móng cọc khoan nhồi trong
xây dựng công trình ở Việt nam
1.1. Tình hình sử dụng cọc khoan nhồi trong ngành xây dựng
7
1.1.1. Tình hình sử dụng cọc khoan nhồi trên thế giới 7
1.1.2. Tình hình sử dụng cọc khoan nhồi ở Việt Nam 8
1.2. ảnh hởng của phơng pháp thi công đến chất lợng của cọc
khoan nhồi
10
1.2.1. Một số đặc điểm của cọc khoan nhồi và phạm vi áp dụng 10
1.2.2. Một số phơng pháp thi công cọc khoan nhồi hiện nay 11
1.2.3. ảnh hởng của phơng pháp thi công đến chất lợng cọc khoan
nhồi
12
Kết luận chung
63
Tài liệu tham khảo
65
Phụ lục
3
4
Mở đầu
Sau 20 năm đổi mới, cùng với sự phát triển chung của các ngành kinh tế,
ngày càng nhiều công trình xây dựng với quy mô lớn mọc lên trên khắp đất n-
ớc, đặc biệt là trong các đô thị và trung tâm kinh tế mới. đây cũng chính là
thời kỳ đạt đợc những bớc tiến quan trọng trong việc đa tiến bộ khoa học kỹ
thuật và công nghệ mới áp dụng vào sản xuất trong ngành xây dựng. Trong số
đó, trớc hết phải kể đến là việc áp dụng rộng rãi kết cấu móng cọc khoan nhồi.
Đối với những công trình nhà cao tầng, công trình cầu, công trình nhịp lớn,
công trình tháp trụ v.v cọc khoan nhồi trong nhiều trờng hợp đợc coi nh ph-
ơng án duy nhất đợc chọn trong thiết kế kết cấu móng.
Chúng ta đều biết, cọc khoan nhồi có những u điểm cơ bản so với các loại
cọc đóng hay cọc ép là : Cho khả năng chịu lực tập trung lớn; công nghệ thi
công cho phép cọc đạt đờng kính từ 0,6m đến 2m và hơn nữa; mũi cọc có thể
đa xuống độ sâu vài chục mét và tựa chống trực tiếp lên lớp sỏi cuội có cờng
độ cao v.v. Một đặc điểm không thể không kể đến là cọc khoan nhồi cho phép
thi công móng một cách thuận tiện và an toàn đối với những công trình xây
chen trong thành phố.
Tuy nhiên, trong quá trình thi công cọc, vẫn có những sự cố xảy ra nh việc
tồn đọng đất mùn hay Bentonie ở mũi đáy cọc; sụt lở dất và chiếm chỗ từng
phần tiết diện cọc do xập thành vách, xảy ra tắc ống bơm trong quá trình đổ
bêtông; cốt thép định vị bị sai lệch so với thiết kế v.v. Chúng để lại hậu quả là
trong bêtông cọc khoan nhồi ttồn tại những dạng khuyết tật gây ảnh hởng và
làm suy giảm đáng kể đối với khả năng chịu lực của bản thân cọc.
- Chơng 2: Xây dựng ma trận độ cứng động lực và véc tơ tải trọng ngoài
quy về nút cho các phần tử thanh.
- Chơng 3: Phân tích kết cấu theo phơng pháp ma trận độ cứng động lực.
Các thí dụ số để so sánh kết quả giữa hai phơng pháp PTHH-MHCV và
phơng pháp MTĐCĐL.
- Kết luận chung.
Trong thời gian làm Luận văn, tuy đã hết sức cố gắng, nhng do mới tiép
cận những vấn đề khoa học mới, Luận văn chắc không tránh khỏi thiếu sót.
Học viên rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp, giúp đỡ của các Thầy và
các bạn đồng nghiệp.
6
Chơng 1
Sử dụng móng cọc khoan nhồi trong xây dựng
công trình ở việt nam
1.1. Tình hình sử dụng cọc khoan nhồi trong ngành xây dựng
1.1.1. Tình hình sử dụng cọc khoan nhồi trên thế giới
Vào năm 1950, tại trờng MADI Matxcơva (Liên Xô cũ), theo đề nghị
của giáo s E. L. Khơlepnhicop, hệ móng cọc khoan nhồi đầu tiên đã đợc thí
nghiệm và đa vào sử dụng trong các móng cầu có chân đế mở rộng. Những
cọc khoan nhồi đầu tiên này có đờng kính từ 0,9 ữ 1,7 m, đạt độ sâu 40 m và
đợc gọi là cọc Khơlepnhicop.
Từ khi ra đời, cọc khoan nhồi với nhiều u điểm, đặc biệt là khả năng
chịu tải trọng lớn ngày càng đợc áp dụng ở nhiều công trình nh nhà cao tầng,
công trình cầu, công trình nhịp lớn ( tìm ví dụ ???).
Nhằm đáp ứng cho sự phát triển cọc khoan nhồi, các loại máy khoan
cũng không ngừng đợc sản xuất, cải tiến nâng cao các tính năng kỹ thuật nh:
máy khoan của hãng Benoto Pháp có thể khoan cọc đờng kính 0.6 ữ 1,2 m
sâu 30 m (1954); tổ hợp máy khoan PS 150 (1965), PS 200 (1966) có khả
năng khoan cọc đờng kính 1,5 ữ 2 m sâu đến 50 m của hãng Salzagitter
Đức. Đến nay, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hàng ngàn thiết bị
cọc là 36 m, chịu tải tính toán là 300 tấn; Công trình SAS Royal Hotel
Hanoi Hồ Bảy Mẫu dùng cọc đờng kính 800 mm chịu tải thiết kế 185 tấn
và cọc đờng kính 1200 mm chịu tải 385 tấn, dài 42 ữ 43 m, mũi cọc chôn
sâu vào lớp cuội sỏi 6 m; Công trình Sakura Plaza Hotel Đờng Lê Duẩn
có 2 cọc đờng kính 800 và 1200 mm đầu tiên đợc thi công tới độ sâu 40,2
m và mũi cọc đặt vào trong lớp cát chặt.
Đến nay, rất nhiều công trình trên cả nớc đã đợc thiết kế và thi công sử
dụng phơng án cọc khoan nhồi, có thể kể đến nh:
1. Trung tâm Báo chí Quốc tế 12 Lý Đạo Thành Hà Nội
Đờng kính cọc: 600, 800.
Số lợng cọc: 59 chiếc.
Chiều sâu: 34 ữ 36 m.
8
2. Khách sạn Fortuna 06 Láng Hạ Hà Nội.
Đờng kính cọc: 1000.
Số lợng cọc: 134 chiếc.
Chiều sâu: 37 m.
3. Khách sạn Mellia 44 Lý Thờng Kiệt Hà Nội.
Đờng kính cọc: 1000.
Số lợng cọc: 327 chiếc.
Chiều sâu: 38 m.
4. Nhà khách Chính Phủ Thành phố Hồ Chí Minh.
Đờng kính cọc: 800, 1200.
Số lợng cọc: 121 chiếc.
Chiều sâu: 48 m.
5. Đại sứ quán Nhật Bản Hà Nội.
Đờng kính cọc: 800, 1000, 1200.
Số lợng cọc: 139 chiếc.
Chiều sâu: 26 ữ 48 m.
6. Công trình nhà cao tầng 111 Nguyễn Du Thành phố Hồ Chí Minh.
- Không gây ảnh hởng chấn động đến các công trình xung quanh, thích hợp
cho việc xây chen trong đô thị, gần khu dân c, khắc phục đợc nhợc điểm
của các loại cọc đóng khi thi công trong điều kiện này.
- Có khả năng mở rộng đờng kính và chiều dài cọc đến mức tối đa, có khả
năng thi công cọc khi qua các lớp đất cứng nằm xen kẹp.
- Dễ kiểm tra lại điều kiện địa chất công trình và chiều sâu tựa cọc.
- Cọc khoan nhồi có thể tạo ra cọc có sức chịu tải hợp lý bằng cách thay đổi
chiều dài hoặc tiết diện cọc một cách linh hoạt, phù hợp với đặc điểm kết
10
cấu công trình, đảm bảo sự lún lệch giữa các móng nằm trong giới hạn cho
phép, không gây nguy hiểm cho kết cấu bên trên.
- Khoan tạo lỗ nhanh nên rút ngắn tiến độ thi công nền móng công trình.
b. Khuyết điểm
- Giá thành của phơng án sử dụng móng cọc khoan nhồi thờng cao hơn so
với các phơng án móng cọc khác nh cọc đóng và cọc ép.
- Công nghệ thi công đòi hỏi thiết bị hiện đại, công nhân có kỹ thuật cao,
chuyên gia có nhiều kinh nghiệm để hạn chế các sự cố có thể xảy ra khi thi
công đổ bê tông cọc.
- Biện pháp kiểm tra chất lợng bê tông cọc thờng phức tạp, nhiều tốn kém.
- Do phơng pháp thi công khoan tạo lỗ cọc nên làm giảm ma sát bên của
thân cọc so với cọc đóng và cọc ép.
- Không có các chỉ tiêu định lợng để xác định sức chịu tải của cọc trong quá
trình thi công nh độ chối của cọc đóng hay lực nén của cọc ép.
1.2.2. Một số phơng pháp thi công cọc khoan nhồi hiện nay
Trên thế giới có rất nhiều thiết bị và công nghệ thi công cọc khoan nhồi,
tuỳ theo đặc điểm cấu trúc đất nền và nớc dới đất để lựa chọn phơng pháp
khoan. Hiện nay có 3 phơng pháp thi công thờng đợc áp dụng là:
- Cọc khoan nhồi theo phơng pháp khoan khô
- Cọc khoan nhồi có sử dụng ống vách
- Cọc khoan nhồi không dùng ống vách
đó là:
a. Phơng pháp khoan thổi rửa (phản tuần hoàn)
Máy đào sử dụng guồng xoắn để phá đất, dung dịch Bentonite đợc bơm
xuống hố để giữ vách hố đào. Mùn khoan và dung dịch đợc máy bơm và máy
nén khí đẩy từ đáy hố khoan lên, đa vào bể lắng để lọc tách dung dịch
Bentonite tái sử dụng.
Công việc đặt cốt thép và đổ bê tông tiến hành bình thờng.
- u điểm: Phơng pháp có giá thiết bị rẻ, thi công đơn giản, giá thành hạ.
- Nhợc điểm: Tốc độ khoan chậm, chất lợng và độ tin cậy cha cao.
b. Phơng pháp khoan gầu
12
Gầu khoan thờng có dạng thùng xoay cắt đất và đa ra ngoài. Cần gầu
khoan có dạng Ăng-ten, thờng là 3 đoạn truyền đợc chuyển động xoay từ máy
đào xuống gầu nhờ hệ thống rãnh.
Vách hố khoan đợc giữ ổn đình nhờ dung dịch Bentonite. Quá trình tạo
lỗ đợc thực hiện trong dung dịch Bentonite. Trong quá trình khoan có thể thay
các gầu khác nhau để phù hợp với nền đất đào và để khắc phục các dị tật trong
lòng đất.
- u điểm: Thi công nhanh, việc kiểm tra chất lợng dễ dàng thuận tiện, đảm
bảo vệ sinh môi trờng và ít ảnh hởng đến các công trình lân cận .
- Nhợc điểm: Phải sử dụng các thiết bị chuyên dụng giá đắt, giá thành cọc
cao.
Ngoài ra, phơng pháp này còn đòi hỏi quy trình công nghệ rất chặt chẽ,
cán bộ kỹ thuật và công nhân phải thành thạo, có ý thức tổ chức kỷ luật cao.
Do phơng pháp này khoan nhanh hơn và chất lợng đảm bảo hơn các ph-
ơng pháp khác, nên hiện nay các công trình lớn ở Việt Nam chủ yếu sử dụng
phơng pháp này bằng các thiết bị của Đức (Bauer), Italia (Soil-Mec) và của
Nhật (Hitachi).
1.2.3. ảnh hởng của phơng pháp thi công đến chất lợng cọc khoan nhồi
1.2.3.1. Quy trình công nghệ thi công cọc khoan nhồi
b. Công đoạn cốt thép
Nguyên nhân gây h hỏng trong cọc chủ yếu do:
- Do hạ lồng thép chạm vào thành hố khoan làm sập thành gây khó khăn cho
việc nạo vét thổi rửa.
c. Công đoạn đổ bê tông cọc
Nguyên nhân gây h hỏng trong cọc chủ yếu do:
- Thiết bị đổ bê tông không thích hợp hoặc tình trạng làm việc xấu.
- Chỉ đạo quá trình đổ bê tông kém: sai sót trong việc nối ống đổ bê tông,
đứt đoạn đổ bê tông, do sự rút ống dẫn bê tông quá nhanh.
- Sự cấp liệu không đều có thể dẫn đến trong một số trờng hợp lợng bê tông
chiếm chỗ ban đầu không đủ do đổ nhanh (nh giữa ống dẫn vữa và đai
bọc).
- Sử dụng bê tông có thành phần không thích hợp, không đủ độ dẻo và dễ
phân tầng.
d. Một vài nguyên nhân khác
- Sự lu thông mạch nớc ngầm làm trôi cục bộ bê tông tơi.
- Sự sắp xếp lại đất nền dẫn đến sự suy giảm ma sát thành bên hoặc khả năng
chịu lực của mũi cọc.
- Thời hạn giãn cách kéo dài giữa khâu khoan tạo lỗ và đổ bê tông cọc gây
ra sự sụt lở đất ở vách lỗ khoan và lắng đọng chất cặn ở đáy lỗ khoan, đây
là sự cố thờng xảy ra khi thi công cọc khoan nhồi.
- Sử dụng khoan địa chất đối với cọc có kích thớc quá bé làm bê tông không
có đủ thời gian chiếm chỗ trong đất nền (D < 60 cm).
1.3. Việc thiết kế cọc khoan nhồi ở Việt Nam
Việc dự đoán sức chịu tải của cọc luôn là một vấn đề đặc biệt quan
trọng trong công tác thiết kế móng cọc. Lý thuyết tính toán sức chịu tải của
cọc chỉ mới bắt đầu trong những năm 30 của thế kỷ trớc, đó là lý thuyết tính
toán cọc do Prandtl đề xuất đã đợc Caquot ứng dụng vào năm 1934. Ngời có
ảnh hởng lớn tới phơng pháp tính toán sức chịu tải của cọc lớn nhất phải kể
đến cha đẻ của ngành cơ học đất Karl Terzaghi với tác phẩm Theoritical Soil
tế của cọc sau khi thi công xong. Nếu từ các số liệu thí nghiệm kiểm tra chất
lợng cọc có phát hiện ra những h hỏng, khuyết tật thì việc xác định lại sức
chịu tải thực tế của cọc là thực sự cần thiết.
16
áp dụng những công thức đã có kết hợp với kết quả thí nghiệm chất l-
ợng cọc khoan nhồi sau khi thi công để tìm ra sức chịu tải của cọc khi xuất
hiện khuyết tật chính là mục tiêu mà đề tài đặt ra.
1.4. Kết luận chơng 1
Chơng 1 đã trình bày tóm tắt một số đặc điểm chính của cọc khoan
nhồi, các phơng pháp thi công hay sử dụng và ảnh hởng của các phơng pháp
đó đối với chất lợng cọc khoan nhồi.
Trình bày một số khái niệm về tính toán thiết kế cọc khoan nhồi hiện
nay ở Việt Nam.
Chơng 2
Các dạng khuyết tật và các phơng pháp xác
định khuyết tật của cọc khoan nhồi
2.1. Các dạng khuyết tật chính trong cọc khoan nhồi và ảnh hởng của
chúng đến khả năng chịu lực
2.1.1. Khuyết tật ở mũi cọc
Khuyết tật ở mũi cọc là vấn đề rất hay xảy ra. H hỏng này đặc biệt
nghiêm trọng đối với cọc làm việc bằng mũi (nhất là trờng hợp cọc có chân
mở rộng hoặc có vỏ bọc) và có thể đa tới giảm cờng độ nội tại của cọc hoặc
khả năng chịu lực do độ lún nghiêm trọng gây ra. Những h hỏng này rất đáng
quan tâm tại mũi cọc. Có hai trờng hợp chính trong khuyết tật ở mũi cọc:
a. Trờng hợp thứ nhất:
Mũi cọc đợc tạo ra bởi bê tông chất lợng xấu( sũng nớc hoặc nhiều bẩn
bởi các lớp bùn). Về nguyên lý một sự dị thờng nh vậy làm kém đi điều kiện
ổn định của móng. Nếu cọc đợc ngàm trong nền đất rất cứng nh đá cuội sỏi
hay trong nền có các hạt rời rạc kết lại thành đai quanh cọc thì sự nguy hiểm
về ổn định móng có thể đỡ ngại hơn tuy nhiên để đa đến quyết định cọc có
nghĩa lớn trong việc chịu lực của kết cấu cọc. Chính vì vậy, khi có khuyết tật ở
thân cọc thì việc giảm sức chịu tải đáng kể của cọc là điều không tránh khỏi
nhất là khi trong thân cọc xuất hiện một dãy những sự co thắt tiết diện, các túi
bùn hay những vết đứt đoạn bê tông.
18
2.1.3. Khuyết tật ở đầu cọc
Ta đã biết tải trọng của công trình đợc truyền xuống cọc thông qua đài
cọc bằng bê tông cốt thép, một chiều dài đoạn cọc đợc ngàm trong đài. Đầu
cọc chính là nơi để liên kết giữa cọc và đài cọc.
Khuyết tật ở đầu cọc xảy ra thờng do sự thiếu trách nhiệm hoặc sự tẩy
rửa không đầy đủ bê tông tràn khi kết thúc đổ bê tông cọc, đợc thể hiện bởi
các thể vùi bùn hoặc chất lắng đọng cặn bã. Việc sửa chữa tơng đối dễ và biết
chắc đợc chỗ loại bỏ bằng việc cắt phần khuyết tật và thay thế bằng bê tông
khác. Với trờng hợp này, sau khi sửa chữa thì khuyết tật hầu nh không làm ảnh
hởng đến sức chịu tải của cọc.
Một trờng hợp h hỏng khác ở đầu cọc đó là khi vì một lý do nào đó cốt
thép tại đầu cọc rất xấu thì một h hỏng này có thể gây tổn hại đến tính vĩnh
cửu của móng.
2.2. Một số phơng pháp xác định khuyết tật trong cọc khoan nhồi Theo
tài liệu của Quang-Viết tóm tắt 3 PP chính:
1. pp nén tĩnh xác định sức chịu tảI trục tiếp định lợng
2. PP PIT xác định sức chịu tảI - định lợng gián tiếp
3. PP SÂ - định lợng khuyết tật bt cung cấp thông tin cho thiết kế
tính toán kiểm tra sức chiụtải
Để đánh giá chất lợng cọc, ta có thể sử dụng các phơng pháp không phá
huỷ hoặc phá huỷ. Các phơng pháp không phá huỷ thờng đợc u tiên sử dụng
nhằm phát hiện các khuyết tật nguy hiểm và các phơng pháp phá huỷ sử dụng
sau đó để đánh giá định lợng các khuyết tật nguy hiểm đó, giúp các nhà thiết
kế đề xuất các biện pháp cứu chữa hợp lý.
Với cọc khoan nhồi, các phơng pháp không phá huỷ đánh giá chất lợng
- Thiết bị đo bao gồm thiết bị đo tốc độ và đo lực.
+ Thiết bị đo tốc độ là các gia tốc kế. Tín hiệu do các gia tốc kế tiếp nhận
đợc tích phân chuyển đổi thành tốc độ. Các gia tốc kế phải tuyến tính
đến 200g và có tần số cộng hởng ít nhất là 30.000 Hz.
+ Thiết bị đo lực phải có khả năng đo xung lực phụ thuộc thời gian. Gia
tốc đo đợc chuyển đổi sang lực khi biết khối lợng của búa.
- Thiết bị ghi, xử lý và hiển thị số liệu: Các tín hiệu đo từ các bộ cảm biến sẽ
đợc chuyển về các thiết bị ghi, xử lý và hiển thị số liệu phụ thuộc thời gian.
Các thiết bị này bao gồm các cơ cấu xuất dới dạng đồ họa các dữ liệu tốc
độ, lực và lu giữ chúng dùng cho các xử lý phân tích tiếp theo. Các thiết bị
20
này cũng có khả năng trung bình hoá các dữ liệu của nhiều lần đo lặp lại
nhằm giảm thiểu hiệu ứng nhiễu và khuyếch đại cờng độ tín hiệu theo thời
gian kể từ khi tác dụng xung lực nhằm thu đợc các tín hiệu bị yếu đi do tổn
thất trong cọc.
+ Thiết bị ghi là bộ đảo chuyển số có độ phân giải ít nhất là 12 bit dùng
để số hoá trực tiếp các tín hiệu analog.
+ Thiết bị xử lý là các máy tính hoặc bộ vi xử lý có thể xử lý các dữ liệu
tốc độ và lực truyền đến từ các bộ cảm biến chính.
+ Thiết bị hiển thị để quan sát tốc độ và lực nh một hàm thời gian với mỗi
lần tạo xung lực.
b. Nguyên lý thí nghiệm
- Dùng thiết bị tạo xung (búa) có gắn đầu đo lực gõ lên đầu cọc.
- Ghi lại các dữ liệu đo khi tác dụng xung lực
- Trung bình hóa các số liệu đo trong nhiều lần đo và có thể áp dụng các hệ
số khuyếch đại thích hợp.
- Phán đoán vị trí và độ lớn của khuyết tật cũng nh đánh giá tính đồng nhất
trong cọc.
c. Phạm vi ứng dụng
Phơng pháp thí nghiệm biến dạng nhỏ không những dùng để xác định
pháp hợp lý có thể đợc đề xuất nh: phân phối lại tải trọng, áp dụng hệ số an
toàn hợp lý hoặc các yêu cầu kết cấu khác
Theo TCVN 206 1998 Cọc khoan nhồi Yêu cầu về chất lợng thi
công, số lợng cọc kiểm tra theo phơng pháp PIT thờng khoảng 30% tổng số l-
ợng cọc.
22
2.2.1.2. Phơng pháp siêu âm
Giới thiệu tiêu chuẩn mới
Phơng pháp siêu âm (Sonic) là phơng pháp kinh điển và đợc dùng phổ
biến. Phơng pháp này đợc Châu Âu và Mỹ sử dụng khá phổ biến. Vào năm
1997, Trờng Đại học Northwestern (Mỹ) tiến hành làm những thí nghiệm về
siêu âm kiểm tra chất lợng cọc nhồi với cọc nhồi đợc đúc với những khuyết tật
định trớc. Kết quả cho thấy phơng pháp quét siêu âm trong tiết diện ngang cọc
thu đợc biểu đồ phản ánh khá chính xác và tin cậy.
Phơng pháp siêu âm xác định chất lợng cọc dựa trên đặc điểm của quá
trình truyền sóng siêu âm trong vật liệu. Vật liệu có cấu tạo càng đặc chắc, tốc
độ lan truyền của sóng siêu âm trong chúng càng lớn. Đối với bê tông đặc
chắc, tốc độ lan truyền của sóng siêu âm trong khoảng 3000 ữ 5000 m/s phụ
thuộc vào thành phần, cấp phối của cốt liệu.
a. Thiết bị thí nghiệm
Thiết bị kiểm tra chất lợng cọc khoan nhồi theo phơng pháp siêu âm
gồm những bộ phận chính sau:
- Một đầu đo phát sóng dao động đàn hồi (xung siêu âm) với cáp dẫn và một
bộ phận xung có tần số truyền sóng trong phạm vi 20 ữ 100 kHz.
- Một đầu đo thu sóng có cáp dẫn.
- Một thiết bị điều khiển các cáp đợc nối với các đầu đo cho phép tự động đo
chiều sâu hạ đầu đo.
- Một bộ thiết bị điện tử để ghi nhận và điều chỉnh tín hiệu thu đợc.
- Một hệ thống hiển thị tín hiệu.
- Một hệ thống ghi nhận và biến đổi tín hiệu thành những đại lợng vật lý đo
15%
Bê tông tốt
Nghi ngờ
có khuyết
tật
N > 15% và < 30%
Trên cọc có khuyết tật nhỏ, có thể là
bê tông bị giảm mác hoặc bị nớc bùn
xâm nhập
Bê tông
kém
K
30%
Xuất hiện khuyết tật trên cọc, có thể
là có nớc hoặc bùn trong cọc, bị bùn
đất xâm nhập vào tiết diện cọc hoặc
bê tông chất lợng kém
Không có
tín hiệu
KTH
Không nhận đợc
tín hiệu
Do đất xâm nhập hoặc một số khuyết
tật làm mất tín hiệu (ví dụ ống siêu
âm không liên kết với bê tông cọc )
Nớc NC
v = 1450 m/s ữ
1525 m/s
Nớc xâm nhập hoặc nớc đổ vào ống
thí nghiệm quá ít
bảo độ tin cậy cao cần phải sử dụng ống siêu âm đủ chất lợng, tránh nứt vỡ
trong quá trình thi công và có biện pháp lắp đặt ống siêu âm sao cho không
thay đổi vị trí dọc thân cọc.
Do phơng pháp kiểm tra cọc theo kết quả siêu âm tơng đối chính xác,
khá tin cậy và giá thành không cao nên tiêu chuẩn của nhiều nớc trên thế giới
cũng nh Việt Nam đều có quy định về số lợng cọc cần kiểm tra bằng siêu âm
trong các công trình xây dựng. Theo TCVN 206 1998, số lợng cọc cần kiểm
tra không đợc ít hơn 25 % số cọc thi công, đối với các dạng móng có số lợng
cọc ít nhng tầm quan trọng của móng đó đối với cả công trình là lớn nh mố trụ
trong các công trình cầu khẩu độ lớn hoặc tháp cao thì cần tăng tỷ lệ cọc
kiểm tra lên cao hơn nữa.
2.2.1.3. Một số phơng pháp khác