Một số vấn đề lý luận về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực công chứng ở việt nam - Pdf 53

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC
HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC CÔNG CHỨNG Ở VIỆT NAM.
1.1. Khái niệm cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực công chứng
1.1.1 Khái niệm công chứng
Mặc dù công chứng với tư cách là một thể chế pháp lý đã hình thành ở nước
ta khá lâu, từ những năm 1930 dưới thời Pháp thuộc (thời bấy giờ được gọi là
chưởng khế), nhưng mãi cho đến năm 1987 thì thuật ngữ pháp lý “Công chứng”
mới bắt đầu được sử dụng một cách rộng rãi. Việc xác định khái niệm công chứng
là vấn đề mấu chốt của hoạt động công chứng.
Theo từ điển Tiếng Việt: “Công chứng là sự chứng thực của cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền nhằm xác nhận về mặt pháp lý các văn bản và bản sao từ bản
gốc” [22], còn theo nghĩa thông thường thì công chứng là “công quyền làm
chứng”. Về mặt pháp lý, khái niệm công chứng chính thức được quy định trong
văn bản pháp luật tại Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp một thông tư có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, khai sinh hệ thống công chứng Nhà
nước ở Việt Nam, theo đó công chứng được Nhà nước được xác định là một hoạt
động của Nhà nước với mục đích giúp các công dân, cơ quan, tổ chức lập và xác
nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện
đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện. Bằng hoạt động trên,
công chứng nhà nước tạo ra những đảm bảo pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù hợp với hiến pháp và pháp luật
của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngăn ngừa vi phạm pháp luật,
giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi, góp phần tăng cường
pháp chế Xã hội chủ nghĩa” [15]. Lần đầu tiên kể từ khi thành lập Nhà nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà (1945), khái niệm công chứng Nhà nước được ghi nhận
chính thức trong một văn bản pháp luật ở Việt Nam, đánh dấu sự đổi mới về tư
duy pháp lý, bước đầu đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế ở giai đoạn đầu của thời kỳ
chuyển đổi. Tuy nhiên, là văn bản pháp lý đầu tiên về công chứng trong giai đoạn
đầu của thời kỳ đổi mới nên văn bản này không thể tránh hết được các hạn chế, đó
là: chưa xác định được chủ thể, đối tượng của hoạt động công chứng cũng như nội



xác định được rõ nét nội dung của hành vi công chứng...


Việc tồn tại những bất cập của các văn bản pháp luật cũ đã không đáp ứng
được yêu cầu của xã hội về công chứng hợp đồng, giao dịch, do đó đã thúc đẩy
Nhà nước ban hành Luật công chứng 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tại
Điều 2 của Luật công chứng năm 2006 định nghĩa công chứng như sau: “Công
chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp
đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo
quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu
công chứng”. Như vậy, công chứng đã được tách biệt ra khỏi chứng thực, hoạt
động chứng thực được quy định tại Nghị định 79/2007 về cấp bản sao từ sổ gốc,
chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký. Căn cứ vào định nghĩa này
của Luật công chứng 2006, chúng ta có thể thấy công chứng có những đặc điểm
sau đây:
- Về chủ thể, có thể xác định rõ chủ thể có thẩm quyền công chứng là công
chứng viên, điều này đã khắc phục được hạn chế của các văn bản pháp luật trước
đây khi nêu ra khái niệm công chứng; đồng thời giúp phân biệt với chứng thực - là
hành vi của người đại diện của cơ quan hành chính công quyền.
- Về nội dung của hành vi công chứng: chứng nhận tính xác thực của hợp
đồng bằng văn bản, giao dịch khác. Tính xác thực của các tình tiết, sự kiện trong
hợp đồng, giao dịch khác là vô cùng quan trọng nhằm bảo đảm cho chúng có giá
trị chứng cứ. Trong pháp luật về tố tụng, khi nói đến chứng cứ thì bao giờ cũng đề
cao tính xác thực của các sự kiện, tình tiết có thực, khách quan được coi là chứng
cứ. Sở dĩ pháp luật coi văn bản công chứng có giá trị chứng cứ cũng là do tính xác
thực của các tình tiết, sự kiện có trong văn bản đó đã được công chứng viên xác
nhận. Tính xác thực này được công chứng viên kiểm chứng và xác nhận ngay khi
nó xảy ra trong thực tế, trong số đó có những tình tiết, sự kiện chỉ xảy ra một lần,
không để lại hình dạng, dấu vết về sau (ví dụ: sự tự nguyện của các bên khi ký kết
hợp đồng) và do đó, nếu không có công chứng viên xác nhận thì về sau rất dễ xảy

+ Số lượng các hoạt động cụ thể cần thực hiện để tiến hành những hoạt động
quản lý nhất định;
+ Nội dung, mục đích của các hoạt động cụ thể;
+ Cách thức tiến hành, thời hạn tiến hành các hoạt động cụ thể;
+ Trình tự các hoạt động cụ thể, mối liên hệ giữa các hoạt động đó.


Đây là cách hiểu đầy đủ nhất về thủ tục hành chính. Đồng thời cách hiểu này
cũng cho phép đánh giá đúng ý nghĩa, vai trò của thủ tục hành chính trong quản lý
Nhà nước, tạo điều kiện cho việc tìm hiểu nhu cầu, định ra phương hướng, biện
pháp thích hợp để cải cách thủ tục hành chính nhằm xây dựng nền hành chính hiện
đại, đáp ứng nhu cầu quản lý Nhà nước trong điều kiện hiện nay.
Như vậy, thủ tục hành chính là cách thức tổ chức thực hiện hoạt động quản
lý hành chính Nhà nước được quy định trong các quy phạm pháp luật hành chính
bao gồm trình tự, nội dung, mục đích, cách thức tiến hành các hoạt động cụ thể
trong quá trình giải quyết các công việc của quản lý hành chính Nhà nước.[27]
Thủ tục hành chính trong lĩnh vực công chứng là một loại thủ tục hành chính
trong một lĩnh vực quản lý hành chính cụ thể của Nhà nước, đó là lĩnh vực công
chứng; do đó khi hiểu về khái niệm thủ tục hành chính trong lĩnh vực công chứng
chúng ta cũng phải dựa trên những nội dung và đặc điểm của thủ tục hành chính
nói chung. Theo đó thì thủ tục hành chính trong lĩnh vực công chứng cũng được
quy định trong các quy phạm pháp luật hành chính, bao gồm các vấn đề về: trình
tự, nội dung, mục đích, cách thức tiến hành các hoạt động cụ thể trong quá trình
giải quyết các công việc của quản lý hành chính trong lĩnh vực công chứng; chủ
thể thực hiện chúng là các chủ thể quản lý hành chính Nhà nước, các chủ thể này
bao gồm các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, cá nhân được Nhà nước trao quyền.
Các chủ thể đó có mối quan hệ nội bộ và giữa các chủ thể thì có mối quan hệ với
nhau, đồng thời cũng có mối quan hệ với các tổ chức, cá nhân khác, thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn mà Nhà nước trao để giải quyết các công việc của quản lý
hành chính trong lĩnh vực công chứng.

cách, chúng ta có thể hiểu cải cách thủ tục hành chính là các biện pháp được thực
hiện để giải quyết yêu cầu của thực tiễn khi thủ tục hành chính bộc lộ, tồn tại
nhiều nhược điểm; trong đó thực hiện các biện pháp với mục tiêu rõ ràng, chương
trình cụ thể để đổi mới, hoàn thiện trình tự, nội dung, cách thức tiến hành các
hoạt động cụ thể trong quá trình giải quyết các công việc của quản lý hành chính
Nhà nước, làm cho nó thay đổi phù hợp với yêu cầu của thời kỳ phát triển mới của
đất nước.


Vấn đề cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực công chứng được đặt ra
trong bối cảnh chung của cải cách nền hành chính với việc lấy cải cách thủ tục
hành chính là khâu đột phá ở nước ta. Do đó, nội dung, mục đích của cải cách thủ
tục hành chính trong lĩnh vực công chứng cũng không nằm ngoài phạm vi quá
trình cải cách thủ tục hành chính nói chung. Công chứng là một loại hình dịch vụ
công do công chứng viên thực hiện, đối tượng của hoạt động công chứng là các
hợp đồng, giao dịch về dân sự, kinh tế, thương mại...Cải cách thủ tục hành chính
trong lĩnh vực công chứng nhằm để hoàn thiện nội dung, trình tự, thủ tục, cách
thức tiến hành các hoạt động của loại hình dịch vụ công này; mà quan trọng nhất
là biện pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến thủ tục hành
chính trong lĩnh vực công chứng, nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân và yêu cầu
của sự phát triển kinh tế - xã hội. Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “Xây
dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng dịch vụ công cộng thiết
yếu, bình đẳng cho mọi người dân...Đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung
ứng dịch vụ công...Phát huy tiềm năng, trí tuệ và các nguồn lực vật chất trong
nhân dân, của tất cả xã hội để cùng Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội và
chăm lo phát triển các dịch vụ công cộng”.[33]
Vậy có thể hiểu cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực công chứng là
các biện pháp được tiến hành để điều chỉnh, đổi mới, hoàn thiện về nội dung,
trình tự, thủ tục, cách thức tiến hành các hoạt động cụ thể trong quá trình giải
quyết công việc trong lĩnh vực công chứng; đáp ứng nhu cầu của người dân và

ta chủ trương khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản
Việt Nam năm 1986. Nhưng phải nói rằng giai đoạn phát triển mạnh mẽ trong tư
duy, quan niệm, nhận thức của Đảng về nền hành chính nhà nước và cải cách hành
chính là từ 1992 đến 1995, tức là bắt đầu từ những năm 90 của thế kỉ trước. Trải
qua các kỳ Đại hội của Đảng và nhiều Nghị quyết Trung ương các Khóa, Đảng ta
luôn thể hiện quyết tâm cải cách, đổi mới nền hành chính để đáp ứng, thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, củng cố, tăng sự tin tưởng của nhân dân
vào sự lãnh đạo của Đảng [39]. Công cuộc cải cách hành chính thực hiện trong
gần 20 năm qua được tiến hành tương đối đồng bộ, cải cách thủ tục hành chính
được chọn làm khâu đột phá, vì xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và tầm quan trọng
của nó, liên quan trực tiếp tới việc thực hiện thẩm quyền của các chủ thể quản lý
hành chính nhà nước, tới việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức.


Cùng với quá trình cải cách thủ tục hành chính nói chung, Đảng và Nhà
nước đã rất quan tâm đến việc cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực công
chứng, đề ra các hướng hoàn thiện và phát triển cho hoạt động công chứng ở nước
ta. Đặc biệt thể hiện ở các văn kiện của Đảng như: Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ
Chính trị ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong
thời gian tới, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 về chiến lược
cải cách Tư pháp đến năm 2020 và Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 01 tháng 6
năm 2005 về chiến lược xây dựng pháp luật đến năm 2020, theo đó Nghị quyết
khẳng định chiến lược cải cách tư pháp: “Hoàn thiện chế định công chứng. Xác
định rõ phạm vi của công chứng và chứng thực, giá trị pháp lý của văn bản công
chứng. Xây dựng mô hình quản lý nhà nước về công chứng theo hướng Nhà nước
chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp; có bước đi phù hợp để từng bước xã
hội hoá công việc này”. Thể hiện chủ trương của Đảng về đổi mới và xã hội hóa
hoạt động công chứng, là một cơ sở mang tính chất tiền đề để thúc đẩy, tăng
cường cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực công chứng.
Để cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước đã tiến hành

mở cửa, hội nhập và phát triển thì nhu cầu giao lưu dân sự, thương mại ngày càng
lớn, số lượng các hợp đồng, giao dịch người dân cần đến hoạt công chứng ngày
một tăng, do đó, song song với quá trình triển khai các hoạt động trong lĩnh vực
công chứng thì các biện pháp cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực công
chứng cũng phải được nghiên cứu, tiến hành để đáp ứng nhu cầu của người dân.
1.2.2. Quá trình cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực công chứng
ở nước ta trải qua nhiều giai đoạn với các văn bản pháp luật điều chỉnh khác
nhau.
Có thể nói cho đến nay, quá trình cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực
công chứng ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng
vào quá trình cải cách hành chính nói chung của đất nước. Nhưng để đạt được kết
quả như hiện nay thì nước ta đã trải qua các giai đoạn với nhiều văn bản pháp luật
điều chỉnh hoạt động công chứng khác nhau; qua mỗi giai đoạn, mỗi văn bản ra
đời và có hiệu lực thi hành, Nhà nước lại rút ra được kinh nghiệm, các giải pháp
để tiếp tục đổi mới, cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực công chứng, trong
đó quan trọng nhất là ban hành quy định pháp luật mới, tiến bộ hơn. Chính vì vậy,
trong vòng 10 năm (1991 – 2000), Chính phủ đã ban hành ba nghị định về tổ chức
và hoạt động công chứng, chứng thực nhà nước, đó là: Nghị định số 45/HĐBT


ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức và hoạt động công chứng nhà
nước; Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động
công chứng nhà nước và Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của
Chính phủ về công chứng, chứng thực.
Được xây dựng trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của 10 năm hoạt
động công chứng và nhất là tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trên lĩnh vực công
chứng, chứng thực, Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ
về công chứng, chứng thực đã có nhiều nội dung được cải cách, đổi mới so với các
văn bản trước đó, trong đó có các thủ tục về công chứng, chứng thực theo tinh
thần đơn giản, giảm phiền hà cho công dân, tổ chức có nhu cầu công chứng, chứng

công chứng viên và người yêu cầu công chứng; minh bạch hóa, đơn giản hóa trình
tự, thủ tục công chứng. Tuy nhiên, qua thời gian triển khai thực hiện trên thực tiễn,
hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động công chứng hiện nay cũng đã bộc lộ
nhiều hạn chế, bất cập cần được tiếp tục chỉnh sửa, bổ sung cùng với việc tiến
hành đồng bộ các biện pháp khác để tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh
vực công chứng ở nước ta thời gian tới.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1:
Trên đây là một số vấn đề lý luận về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh
vực công chứng ở nước ta. Dựa trên việc nghiên cứu các khái niệm về công
chứng, thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính, Chương 1 đã giải quyết
khái niệm về thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực
công chứng; đồng thời, khái quát một số đặc trưng cơ bản của quá trình cải cách
thủ tục hành chính trong lĩnh vực công chứng ở nước ta. Qua đó chúng ta cũng
thấy rằng cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực công chứng là một trong
những nội dung quan trọng của cải cách hành chính, được Đảng và Nhà nước quan
tâm chỉ đạo, triển khai thực hiện trong nhiều năm qua.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status