VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI TRỌNG NIN
CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH
VỰC TRẬT TỰ XÂY DỰNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
.
HÀ NỘI, Năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI TRỌNG NIN
CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH
VỰC TRẬT TỰ XÂY DỰNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Cảnh Hợp
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC
HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ XÂY DỰNG ................. 6
1.1. Khái niệm trật tự xây dựng và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực
trật tự xây dựng ................................................................................................. 6
1.2. Mục tiêu, yêu cầu và nội dung của cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh
vực trật tự xây dựng ........................................................................................ 14
1.3. Cơ sở pháp lý của cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực trật tự xây
dựng ................................................................................................................. 28
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ XÂY DỰNG TẠI TỈNH QUẢNG NAM
......................................................................................................................... 33
2.1. Điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam ............................................. 33
2.2. Những kết quả đạt được và ưu điểm của công tác cải cách thủ tục hành
chính trong lĩnh vực trật tự xây dựng chính giai đoạn 2010-2018 ở tỉnh Quảng
Nam ................................................................................................................. 42
2.3. Hạn chế, vướng mắt trong công tác cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh
vực trật tự xây dựng chính giai đoạn 2010-2018 ở tỉnh Quảng Nam ............. 54
2.4. Nguyên nhân của kết quả, ưu điểm và hạn chế, vướng mắt .................... 60
Chương 3. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC CẢI
CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ XÂY
DỰNG Ở TỈNH QUẢNG NAM ................................................................... 63
3.1. Quan điểm về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực trật tự xây dựng
chính ở tỉnh Quảng Nam ................................................................................. 63
3.2. Các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành
chính trong lĩnh vực trật tự xây dựng chính ở tỉnh Quảng Nam trong thời gian
lúc có nơi còn tùy tiện, kể cả ban hành “giấy phép con”; cách thức giải quyết thủ tục
vẫn còn hiện tượng cửa quyền, hạch sách, chậm trễ theo lối “dân cần, quan không
vội” và vẫn qua nhiều khâu trung gian; thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết thủ tục
nhiều khi không rõ và vẫn còn hiện tượng tổ chức, công dân đi lại nhiều lần, phiền
hà; việc rà soát, tinh gọn, đơn giản hóa thủ tục hành chính còn chậm, chưa thực sự
1
quyết liệt. Vì vậy có thể thấy rằng: cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực xây
dựng và trật tự xây dựng cùng với cải cách thủ tục hành chính trên tất cả các lĩnh
vực của quản lý nhà nước đang là yêu cầu bức xúc của người dân và doanh nghiệp
nhất là trong giai đoạn hiện nay, là khâu đột phá của tiến trình cải cách hành chính
nhà nước, là điều kiện cần thiết để tăng cường, củng cố mối quan hệ giữa nhà nước
và nhân dân, tăng cường sự tham gia quản lý nhà nước của nhân dân. Một trong
những giải pháp hết sức quan trọng của tiến trình cải cách thủ tục hành chính ở
nước ta chính là việc xây dựng và triển khai rộng khắp theo cơ chế “một cửa, một
cửa liên thông”. Đây được xem là ưu điểm lớn, là giải pháp phù hợp để đổi mới tư
duy, phương thức làm việc của cơ quan hành chính nhà nước các cấp, nhằm tạo
chuyển biến cơ bản trong quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với người dân
và doanh nghiệp, chuyển dần từ nền hành chính cai trị sang nền hành chính phục
vụ. Điều này cũng được Đảng và Nhà nước ta xác định là nhiệm vụ quan trọng và
được cụ thể hóa trong rất nhiều Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Quyết định của Thủ
tướng Chính phủ để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện hiệu quả, toàn
diện.
Trong bối cảnh chung đó, những năm qua tỉnh Quảng Nam đã tích cực tổ
chức triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo của các cấp về công tác quản lý trật tự
xây dựng nói chung và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực trật tự xây dựng
nói riêng. Tình hình trật tự xây dựng đã từng bước đi vào nề nếp, ý thức trách nhiệm
của cán bộ, công chức, doanh nghiệp và người dân đã có chuyển biến tích cực. Mặc
dù vậy, vẫn còn một số địa phương buông lỏng công tác quản lý trật tự xây dựng,
xây dựng nói chung và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực trật tự xây dựng
hiện nay đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển của đất nước.
Phân tích những hạn chế, bất cập, vướng mắt của công tác quản lý trật tự xây
3
dựng nói chung và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực trật tự xây dựng ở
nước ta qua thực tiễn huyện tỉnh Quảng Nam; trên cơ sở đó đề xuất một số giải
pháp, kiến nghị để góp phần hoàn thiện công tác công tác quản lý trật tự xây dựng
nói chung và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực trật tự xây dựng ở địa
phương.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản lý trật tự xây
dựng nói chung và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực trật tự xây dựng
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý trật tự xây dựng
nói chung và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực trật tự xây dựng tỉnh Quảng
Nam trong thời gian qua.
- Trên cơ sở đó đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý
trật tự xây dựng nói chung và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực trật tự xây
dựng tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những quan điểm, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác quản lý trật tự xây dựng nói chung
và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực trật tự xây dựng qua thực tiễn tỉnh
Quảng Nam giai đoạn 2010 - 2018
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu trên đề tài sử dụng các phương pháp sau:
- Nghiên cứu lý thuyết
- Tổng hợp, thống kê, phân tích; so sánh, đánh giá, nhận xét
Ngoài ra, tác giả đã kế thừa một số kết quả nghiên cứu, các nhận định tại các
TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ XÂY DỰNG
1.1. Khái niệm trật tự xây dựng và cải cách thủ tục hành chính trong
lĩnh vực trật tự xây dựng
1.1.1. Khái niệm trật tự xây dựng
Để nghiên cứu nội hàm đúng nghĩa của cụm từ “trật tự xây dựng”, việc đầu
tiên phải bắt đầu từ nghĩa chiết tự của cả tụm từ. Theo Bách khoa toàn thư mở
Wikipedia () thì: Trật tự chính là sự sắp xếp theo một thứ tự,
một quy tắc nhất định với tình trạng ổn định, có tổ chức, có kỷ luật; còn xây dựng là
một quy trình thiết kế và thi công nên các cơ sở hạ tầng hoặc công trình, nhà
ở. Hoạt động xây dựng khác với hoạt động sản xuất ở chỗ sản xuất tạo một lượng
lớn sản phẩm với những chi tiết giống nhau, còn xây dựng nhắm tới những sản
phẩm tại những địa điểm dành cho từng đối tượng khách hàng riêng biệt. Tại
những nước phát triển, ngành công nghiệp xây dựng đóng góp từ 6-9% Tổng sản
phẩm nội địa. Hoạt động xây dựng bắt đầu bằng việc lên kế hoạch, thiết kế, lập dự
toán và thi công tới khi dự án hoàn tất và sẵn sàng đưa vào sử dụng. Mặc dù hoạt
động này thường được xem là riêng lẻ, song trong thực tế, đó là sự kết hợp của rất
nhiều nhân tố. Đầu tiên, một nhà quản lý dự án chịu trách nhiệm quản lý công việc
chung, sau đó những nhà thầu, kỹ sư tư vấn thiết kế, kỹ sư thi công, kiến trúc sư, tư
vấn giám sát... chịu trách nhiệm điều hành, thực hiện và giám sát hoạt động của dự
án. Một dự án thành công đòi hỏi một kế hoạch xây dựng hiệu quả, bao gồm việc
thiết kế và thi công đảm bảo phù hợp với địa điểm xây dựng và đúng với ngân
sách đề ra trong dự toán; tổ chức thi công hợp lý, thuận tiện cho việc chuyên chở,
lưu trữ vật liệu xây dựng; đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường, an toàn lao động;
giảm thiểu những ảnh hưởng tới cộng đồng...
Từ các định nghĩa trên, có thể khái niệm chung về trật tự xây dựng là việc
thiết kế và thi công các cơ sở hạ tầng hoặc công trình, nhà ở theo một thứ tự, một
6
quy tắc nhất định với tình trạng ổn định, có tổ chức, có kỷ luật.
của mình nhằm đảm bảo cho các quy phạm vật chất của Luật Hành chính được triển
khai thực hiện có hiệu lực và hiệu quả trong thực tế.
Ở một khía cạnh khác, đo tính chất đa dạng của hoạt động quản lý hành
chính nhà nước nên không thể có thủ tục hành chính duy nhất mà có rất nhiều thủ
tục hành chính khác nhau tương ứng với từng hoạt động quản lý cụ thể. Tùy từng
trường hợp mà thủ tục hành chính được dùng để tổ chức, điều hành các hoạt động
mang tính nội bộ bộ máy nhà nước, do cơ quan nhà nước xây dựng và công bố để
thực hiện chức năng quản lý của nền hành chính nhà nước và đòi hỏi các cơ quan
hành chính nhà nước có trách nhiệm thực thi các thủ tục đó; hay để trực tiếp giải
quyết các công việc liên quan đến quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức trong xã hội.
Do đó, có thể thấy rằng: thủ tục hành chính vừa quy định cách thức thực hiện nhiệm
vụ trong quá trình tiếp nhận, xử lý và giải quyết công việc thuộc thẩm quyền của
các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước vừa quy định cho các cá nhân, tổ chức,
doanh nghiệp các quyền, nghĩa vụ và cách thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó của
mình trong quá trình quan hệ với các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước để giải
quyết nhu cầu cũng như công việc của mình. Xuất phát từ điều đó, thủ tục hành
chính hợp lý sẽ tạo nên sự hài hòa, thống nhất trong bộ máy nhà nước, bảo vệ
quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức, rút ngắn thời gian giải quyết công
việc, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, tạo điều kiện đảm bảo cho pháp chế được
giữ vững, mở rộng dân chủ, công khai trong quản lý nhà nước theo một quy trình
được xác định cụ thể. Ngược lại, thủ tục hành chính bất hợp lý là mảnh đất tốt cho
tệ tham nhũng, quan liêu, sách nhiễu, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà, tốn kém
nhân dân, làm giảm lòng tin của nhân dân vào chính quyền.
Như vậy, thủ tục hành chính là cách thức thực hiện hoạt động quản lý hành
chính nhà nước theo đó cơ quan, cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ, cá nhân, tổ
chức thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật trong quá trình giải
quyết các công việc của quản lý hành chính nhà nước.
Bên cạnh đó, theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 06
thành nền hành chính; đem lại những lợi ích thiết thực cho nhân dân, củng cố lòng
tin của nhân dân vào sự sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; góp phần hoàn thiện
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa "của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân";
đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển đất nước đồng thời
góp phần mở rộng quan hệ và hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế của nước ta trên
10
trường quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành xu thế
chung của thời đại ngày nay.
Cho đến nay cải cách hành chính đã trở thành một thuật ngữ quen thuộc
trong đời sống chính trị - xã hội. Tùy theo phạm vi và mức độ tiếp cận mà khái
niệm cải cách hành chính có thể được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Nhưng
hiểu cải cách hành chính một cách đầy đủ, khái quát và toàn diện nhất thì đó là hành
vi hành chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của nền hành chính bằng việc cải
biến chế độ, phương pháp hành chính cũ xây dựng chế độ và phương pháp hành
chính mới trên các phương diện: thể chế hành chính, thủ tục hành chính, bộ máy
hành chính, đội ngũ cán bộ, công chức hành chính và tài chính công. Đây là một
hoạt động tự giác, có mục đích, có định hướng rõ ràng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu
quả tổ chức và hoạt động của nền hành chính để đáp ứng nhu cầu quản lý ngày càng
cao các quá trình xã hội bằng những thay đổi căn bản, mạnh mẽ, đồng bộ đối với
các yếu tố cấu thành của nó. Theo khái niệm nêu trên thì cải cách hành chính phải
tiến hành một cách có hệ thống chặt chẽ, đồng bộ và toàn diện đối với 6 yếu tố cấu
thành đó là: Cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính, cải cách tổ chức bộ máy
hành chính, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách tài chính công và hiện đại
hóa nền hành chính.
Theo Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của Nhà xuất bản Công an nhân
dân năm 2009 thì: “Cải cách thủ tục hành chính là một bộ phận của cải cách hành
chính Nhà nước nói chung nhằm xây dựng và thực thi thủ tục hành chính theo
những chuẩn mực nhất định, đơn giản, gọn nhẹ, vận hành nhịp nhàng; hoạt động
nhập của nước ta. Điều này đã được Đảng ta khẳng định trong Văn kiện Đại hội XII
“Đẩy mạnh cải cách hành chính nhất là thủ tục hành chính, giảm mạnh và bãi bỏ
các loại thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân”.
Thực tế hiện nay cho thấy, mặc dù trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta
luôn xác định công tác thủ tục hành chính nói chung và cải cách thủ tục hành chính
trong lĩnh vực trật tự xây dựng nói riêng vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp quan
trọng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, cải thiện môi trường đầu tư, góp phần
phòng ngừa và hạn chế tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy chính quyền các cấp,
giúp cho các cơ quan hành chính nhà nước phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu của
12
người dân, từng bước xây dựng nền hành chính dân chủ, minh bạch, chuyên nghiệp,
hiệu quả hơn, tuy nhiên, vẫn còn đó sự rườm rà, chồng chéo, cứng nhắc (hợp pháp
nhưng chưa hợp lý, chưa phù hợp với thực tế); các loại thủ tục cũ, mới lẫn lộn; bên
cạnh đó việc ban hành thủ tục hành chính có lúc có nơi còn tùy tiện, kể cả ban hành
“giấy phép con”; cách thức giải quyết thủ tục vẫn còn hiện tượng cửa quyền, hạch
sách, chậm trễ theo lối “dân cần, quan không vội” và vẫn qua nhiều khâu trung
gian; việc quy định thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết thủ tục hành chính trong
một số lĩnh vực nhiều khi không rõ; vẫn còn tình trạng người dân và doanh nghiệp
đi lại nhiều lần, tốn kém ; công tác rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính vẫn còn
nhiều hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu trong giai đoạn hiện nay; vẫn còn một bộ phận
cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ quyền hạn gây khó khăn, phiền hà cho người
dân và doanh nghiệp trong quá trình tiếp nhận và giải quyết các thủ tục hành
chính…Chính vù vậy, cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực trật tự xây dựng là
một việc làm hết sức cấp thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm đưa công tác quản lý
nhà nước trong lĩnh vực trật tự xây dựng đi vào chiều sâu, có những bước tiến vượt
bật nhằm xây dựng nền hành chính thật sự dân chủ, thống nhất, trong sạch, hiện đại,
hiệu lực, hiệu quả và phục vụ tốt nhu cầu của nhân dân; cải thiện và tạo môi trường
đầu tư đề thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp
thống các cơ quan hành chính; là nơi thuận lợi cho nạn tham nhũng, lãng phí phát
sinh, hoành hành. Mặt khác, việc cải cách thủ tục hành chính vẫn còn nhiều hạn chế
bất cập, chưa đáp ứng được mong đợi của người dân, còn là lực cản ảnh hưởng đến
môi trường đầu tư, kinh doanh cũng như đời sống của nhân dân. Chính vì vậy, cải
cách thủ tục hành chính được xem là một trong những nội dung trọng tâm, xuyên
suốt của Đảng, nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo đồng
thời đó cũng chính là yêu cầu bức xúc của nhân dân, doanh nghiệp, các tổ chức, cá
nhân và nhà đầu tư nước ngoài, là khâu đột phá của tiến trình cải cách nền hành
chính. Thực tế cho thấy, chính việc không cải cách, chậm cải cách, hoặc cải cách
một cách hình thức, không có định hướng, không có chiến lược và phương pháp cụ
thể đối với nền hành chính nói chung và thủ tục hành chính nói riêng sẽ là một rào
cản rất lớn kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, ảnh hưởng rất lớn đến
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Cải cách thủ tục hành chính sẽ tạo ra được sự
chuyển biến căn bản trong quan hệ và thủ tục giải quyết công việc của công dân, tổ
14
chức, kịp thời phát hiện và xóa bỏ những thủ tục hành chính thiếu tính đồng bộ,
chồng chéo, rườm rà, phức tạp đã và đang gây trở ngại trong việc tiếp nhận và xử lý
công việc giữa cơ quan nhà nước với nhau và giữa cơ quan nhà nước với tổ chức,
công dân; xây dựng và thực hiện các thủ tục hành chính giải quyết công việc đơn
giản, rõ ràng, thống nhất, đúng pháp luật và công khai; vừa tạo thuận tiện cho cá
nhân, tổ chức có yêu cầu giải quyết công việc; vừa có tác dụng ngăn chặn tệ cửa
quyền, sách nhiễu, tham những của một bộ phận cán bộ công chức nhà nước; đồng
thời đảm bảo được trách nhiệm quản lý Nhà nước, giữ vững được kỷ cương, pháp
luật. Những năm qua, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong hội nhập
kinh tế quốc tế. Chính hội nhập kinh tế quốc tế cùng với nỗ lực cải cách thủ tục
hành chính, tạo sự thông thoáng và thuận lợi nhất trong môi trường đầu tư, kinh
doanh đã từng bước đưa Việt Nam khẳng định được vị thế trên trường quốc tế và
thu hút các đầu tư nước ngoài. Muốn thu hút đầu tư, muốn phát triển đất nước thì
tục hành chính, từ đó giúp chúng ta đề ta những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể cần thiết
phải thực hiện trong công tác cải cách thủ tục hành chính. Cải cách thủ tục hành
chính nói riêng và nền hành chính nhà nước nói chung được xác định là trọng tâm
của việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước, với mục tiêu là xây dựng một
nền hành chính trong sạch có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước
hiện đại hoá để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc của nhà nước, thúc đẩy xã
hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng
nếp sống và làm việc theo pháp luật trong xã hội. Lần đầu tiên 3 nội dung chủ yếu
của cải cách hành chính nhà nước được trình bày một cách hệ thống trong Nghị
quyết Trung ương 8 khoá VII , đó là cải cách thể chế của nền hành chính, chấn
chỉnh tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức. Thông qua Nghị
quyết này, Đảng ta cũng xác định cải cách thủ tục hành chính là một khâu đột phá
cần phải tăng cường và tập trung đẩy mạnh nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước, tạo môi trường thông thoáng, minh mạch cho mọi tổ chức và cá nhân
trong và ngoài nước tiếp cận và yêu cầu giải quyết công việc. Việc ban hành và thực
hiện Nghị quyết Trung ương 8 khoá VII đã mở ra một giai đoạn mới, giai đoạn
chuyển biến thật sự trong cải cách hành chính ở nước ta.
Tiến hành rà soát các thủ tục hành chính trên tất cả các lĩnh vực, cần thiết
16
phải loại bỏ những thủ tục rườm rà, các khâu xin phép, xét duyệt không cần thiết,
những quy định không còn phù hợp để kiên quyết sửa đổi, giảm phiền hà cho cho cá
nhân và tổ chức, đồng thời từng bước ngăn chặn và đi đến giảm thiểu tình trạng
quan liêu, sách nhiễu, cửa quyền và vấn nạn tham nhũng cũng như lợi dụng chức vụ
quyền hạn trong thi hành công cụ để trục lợi của một bộ phận cán bộ, công chức
trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp. Chính vì vậy, tạo ra được sự
chuyển biến thực sự, căn bản trong quan hệ và giải quyết công việc của các cá nhân
và tổ chức để từ đó mỗi cá nhân, tổ chức khi tham gia vào các quan hệ này ý thức
được nghĩa vụ, trách nhiệm của mình, nhằm góp phần vào việc thực thi tốt các quy
Qua đó, từng lĩnh vực sẽ được xác định các mục tiêu cụ thể, gắn với đặc thù của
công tác quản lý nhà nước và đặc điểm riêng của từng lĩnh vực. Việc cải cách thủ
tục hành chính trong lĩnh vực trật tự xây dựng cũng vậy, phải nằm trong mục tiêu
chung của công tác cải cách thủ tục hành chính mang tính định hướng, tổng quát
của giai đoạn hiện nay đó là: “Thủ tục hành chính liên quan đến cá nhân, tổ chức
được cải cách cơ bản theo hướng gọn nhẹ, đơn giản; mỗi năm đều có tỷ lệ giảm chi
phí mà cá nhân, tổ chức, phải bỏ ra khi giải quyết thủ tục hành chính tại cơ quan
hành chính nhà nước; Cơ chế một cửa, một cửa liên thông được triển khai 100%
vào năm 2013 tại tất cả các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; bảo đảm sự
hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước
đạt mức trên 60%; Từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ sự nghiệp công, bảo
đảm sự hài lòng của cá nhân đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp
trong các lĩnh vực giáo dục, y tế đạt mức trên 60% vào năm 2015” và hiện nay là
“Thủ tục hành chính được cải cách cơ bản, mức độ hài lòng của nhân dân và doanh
nghiệp về thủ tục hành chính đạt mức trên 80% vào năm 2020; Sự hài lòng của cá
nhân đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp trên các lĩnh vực giáo dục,
y tế đạt mức trên 80% vào năm 2020; sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp
đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước đạt mức trên 80% vào năm
2020”. (theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 của Chính phủ)
Với đặc thù là một lĩnh vực hết sức phức tạp và nhạy cảm, ngoài mục tiêu
chung về cải cách thủ tục hành chính, thì cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực
18
xây dựng và trật tự xây dựng luôn được xác định những mục tiêu cụ thể theo từng
giai đoạn, từng thời kỳ, cụ thể:
- Tại Quyết định số 242/QĐ-BXD, ngày 19 tháng 3 năm 2012 về việc việc
Ban hành Kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2011-2015, Bộ Xây dựng đã xác
định: “tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện thể chế; rà soát, chuẩn hóa
và công bố công khai thủ tục hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của
tục hành chính khi ban hành đáp ứng đầy đủ các tiêu chí: Sự cần thiết, tính hợp lý,
hợp pháp và các chi phí thực hiện thấp nhất; Thường xuyên rà soát, đơn giản hóa để
nâng cao chất lượng thủ tục hành chính thuộc phạm vi, chức năng quản lý của Bộ
Xây dựng; Công khai, minh bạch tất cả các thủ tục hành chính: kịp thời thống kê
đưa các thủ tục hành chính mới ban hành, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ/hủy bỏ lên
Cơ sở dữ liệu Quốc gia và Trang thông tin điện tử về cải cách hành chính của Bộ để
tổ chức và cá nhân tiện tra cứu và thực hiện; niêm yết công khai TTHC tại Trụ sở
cơ quan Bộ Xây dựng; Nâng cao tinh thần phối hợp trong việc giải quyết, thực hiện
các thủ tục hành chính giữa các đơn vị thuộc Bộ và các Bộ, ngành liên quan; Tăng
cường đối thoại, khảo sát mức độ hài òng của tổ chức, cá nhân thông qua Trang
thông tin điện tử về cải cách hành chính của Bộ, đường dây nóng và các cuộc hội
thảo để kịp thời điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp; kiểm tra tại các cơ quan,
đơn vị thuộc Bộ và một số địa phương về tình hình thực hiện, giải quyết thủ tục
hành chính thuộc phạm vi chức năng quản của Bộ Xây dựng”
Trên cơ sở mục tiêu chung của công tác cải cách thủ tục hành chính trong
lĩnh vực xây dựng và trật tự xây dựng mang tính định hướng của từng giai đoạn
được xác định trong kế hoạch, Bộ Xây dựng đã ban hành kế hoạch cải cách thủ tục
hành chính của từng năm, trong đó xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể sẽ triển
khai thực hiện trong năm nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các cấp, các ngành tổ chức
thực hiện, chẳng hạn:
- Tại Quyết định số 202/QĐ-BXD ngày 27 tháng 02 năm 2014 về việc Ban
hành Kế hoạch cải cách hành chính năm 2014, Bộ Xây dựng xác định mục tiêu :
“Đảm bảo sự quản lý, điều hành thông suốt, chuyên nghiệp, minh bạch, hoạt động
có hiệu quả, từng bước hiện đại hóa để đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của tổ chức, cá
nhân trong ngành nghề, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng;
20