MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU
Ngày nay, một trong những yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng đến sự
thành công cũng như sự phát triển của doanh nghiệp chính là văn hóa doanh
nghiệp.
Nhìn nhận một cách tổng quát, chúng ta thấy văn hoá trong các cơ quan và
doanh nghiệp ở nước ta còn có những hạn chế nhất định: Đó là một nền văn hoá
được xây dựng trên nền tảng dân trí thấp và phức tạp do những yếu tố khác ảnh
hưởng tới; môi trường làm việc có nhiều bất cập dẫn tới có cái nhìn ngắn hạn;
chưa có quan niệm đúng đắn về cạnh tranh và hợp tác, làm việc chưa có tính
chuyên nghiệp, còn bị ảnh hưởng bởi các khuynh hướng cực đoan của nền kinh
tế bao cấp, chưa có sự giao thoa giữa các quan điểm đào tạo cán bộ quản lý do
nguồn gốc đào tạo, chưa có cơ chế dùng người, có sự bất cập trong giáo dục đào
tạo nên chất lượng chưa cao. Mặt khác văn hoá doanh nghiệp còn bị những yếu
tố khác ảnh hưởng tới như: Nền sản xuất nông nghiệp nghèo nàn và ảnh hưởng
của tàn dư đế quốc, phong kiến.
Văn hoá doanh nghiệp có vị trí và vai trò rất quan trọng trong sự phát triển
của mỗi doanh nghiệp, bởi bất kỳ một doanh nghiệp nào nếu thiếu đi yếu tố văn
hoá, ngôn ngữ, tư liệu, thông tin nói chung được gọi là tri thức thì doanh nghiệp
đó khó có thể đứng vững và tồn tại được. Trong khuynh hướng xã hội ngày nay
thì các nguồn lực của một doanh nghiệp là con người mà văn hoá doanh nghiệp
là cái liên kết và nhân lên nhiều lần các giá trị của từng nguồn lực riêng lẻ. Do
vậy, có thể khẳng định văn hoá doanh nghiệp là tài sản vô hình quan trọng của
mỗi doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, văn hóa doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất nhiều từ triết học
phương Đông, cụ thể là Nho giáo với ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ Trí, Tín.
Trong phạm vi nhỏ của tiểu luận này, tôi xin trình bày về một khía cạnh của ngũ
thường đối với việc xây dựng hệ giá trị văn hóa doanh nghiệp, đó là chữ Tín.
Sau đây tôi xin được trình bày về đề tài “Luận chứng về chữ Tín trong việc xây
dựng hệ giá trị văn hóa kinh doanh”.
I.MỞ ĐẦU
thể sẽ tăng lên 200%, và có nhiều doanh nghiệp còn đạt được hiệu quả cao hơn
như những công ty General Electric (GE), Southwest Airline, ConAgra, IBM,…
2.Vai trò của văn hóa doanh nghiệp
Một câu hỏi được đặt ra rằng, tại sao văn hóa doanh nghiệp lại có tầm quan
2
trọng đến như vậy? Chúng ta có thể khẳng định:
2.1. Văn hóa doanh nghiệp tạo cho mỗi thành viên hiểu được giá trị
của bản thân họ đối với công ty
Một tổ chức chỉ có thể phát triển khi tất cả mọi thành viên đều hiểu được
họ đang đi đâu? Họ đang làm gì? Và vai trò của họ đến đâu? Với những mục
tiêu rất cụ thể, họ được sống trong một môi trường tự do cống hiến, chia sẻ ý
tưởng, được ghi nhận khi thành công… tất cả đều được hiểu rằng, họ là thành
phần không thể thiếu của công ty. Họ như một mắt xích trong một chuỗi dây
truyền đang hoạt động. Và nếu mắt xích đó ngừng hoạt động, toàn bộ hệ thống
cũng phải ngừng theo.
Một người được mệnh danh là Socrates của Hoa Kỳ, Tiến sỹ Stenphen R.
Convey, tác giả của cuốn sách rất nổi tiếng “Bảy thói quen của những người
hiệu quả” đã khẳng định “Không tham gia, thì sẽ không bao giờ có thi hành”.
Hay nói một cách khác rằng, họ đang thi hành công việc của tổ chức, vì họ đã
được ghi nhận tham gia. Họ có cảm giác như đang được làm cho chính bản thân
họ. Một dẫn chứng hùng hồn cho nhận định này là môi trường làm việc tại hãng
hàng không Southwest Airlines. Hãng hàng không này, là hãng hàng không đầu
tiên trên thế giới thực hiện bán cổ phần cho nhân viên. Ngoài một văn hoá cởi
mở, nhân viên ở đây đã làm việc một cách hăng say, vì họ đang làm việc cho
chính bản thân họ.
2.2. Văn hóa doanh nghiệp tạo cho tất cả mọi người trong công ty cùng
chung thân làm việc, vượt qua những giai đoạn thử thách, những tình thế
khó khăn của công ty và họ có thể làm việc quên thời gian.
Một sự đoàn kết, một khí thế làm việc của công ty cần thiết nhất khi công
ty ấy đang ở trong thời kỳ khó khăn, thử thách, đặc biệt là những công ty đang
cùng chung sức để thực hiện. Tinh thần tập thể đều phấn chấn. Đó là chìa khoá
cho sự thành công và cũng là chìa khoá cho sự đoàn kết. Và để có được một tập
thể chiến thắng ấy chỉ khi có một Văn hóa doanh nghiệp.
3.Nho giáo – Ngũ thường và chữ Tín trong ngũ thường
3.1.Nho giáo
Quá trình hình thành và phát triển
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng
góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn
lạc, Đức Khổng Tử (sinh năm 551 trước công nguyên) phát triển tư tưởng của
Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó. Chính vì thế mà
người đời sau coi ngài là người sáng lập ra Nho giáo.
Cũng giống như nhiều nhà tư tưởng khác trên thế giới như Phật Thích Ca,
Chúa Jesus, Thánh Alla người đời sau không thể nắm bắt các tư tưởng của
Đức Khổng Tử một cách trực tiếp mà chỉ được biết các tư tưởng của ngài bằng
các ghi chép do các học trò của ngài để lại. Khó khăn nữa là thời kỳ "đốt sách,
chôn Nho" của nhà Tần, vào khoảng hai trăm năm sau khi Đức Khổng Tử qua
4
đời, khiến cho việc tìm hiểu tư tưởng gốc của Đức Khổng Tử càng khó khăn.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đời sau vẫn cố gắng tìm hiểu và hệ thống các tư
tưởng và cuộc đời của ngài.
Nội dung cơ bản của Nho giáo
Nho giáo là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội. Để tổ chức xã
hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được người cai trị kiểu
mẫu - người lý tưởng này gọi là quân tử. (quân là kẻ làm vua, quân tử là chỉ tầng
lớp trên trong xã hội, phân biệt với "tiểu nhân", những người thấp kém về điạ vị
xã hội; sau Khổng Tử dùng từ "quân tử" để chỉ phẩm chất đạo đức: "Quân tử sở
tính Nhân nghĩa lễ trí" phân biệt với "tiểu nhân" là những người thiếu đạo đức).
Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải "tự đào tạo", phải "tu
thân". Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải "hành đạo"
(Đạo không đơn giản chỉ là đạo lí. Đạo ở đây là con đường để hoàn thiện chính
trong thế kỷ 20, nên đời sống vật chất cải thiện rất nhiều. Nhưng đời sống vật
chất càng tiến bộ, thì nền đạo đức và quan hệ giữa người với người càng xấu đi,
nhất là làm cho mọi người mất niềm tin với nhau. Nho giáo từ hơn 2.500 năm
trước đã thấy rõ được điều này.
3.2.Ngũ thường
Đức Khổng Tử dạy: "Con người nếu không hiếu cha mẹ, không kính tổ tiên
thì bất cứ việc xấu nào họ cũng dám làm. Một người hiếu cha mẹ, kính tổ tiên
thì không những là lời nói việc làm mà khởi tâm động niệm họ đều nghĩ rằng,
nếu như việc này ta làm mà không đúng pháp thì có lỗi với cha mẹ, làm nhục tổ
tiên thì họ sẽ không dám làm."
Đức Khổng Tử nêu lên ngũ luân với thuyết chính danh và chữ “Nhân” để
làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội.
Ngũ thường: ngũ là năm, thường là hằng có. Người ta phải giữ năm đạo đó
làm thường, không nên để rối loạn. Ngũ thường gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
Nhân: Là lòng từ thiện. Khổng Tử nói: Khi ở nhà giữ gìn dung mạo khiêm
cung; khi ra làm việc thi hành một cách kính cẩn; khi giao thiệp với người, giữ
lòng trung thành. Dẫu đi tới các đoàn rợ phương đông và phương bắc, cũng
chẳng bỏ ba đức hạnh cung, kính và trung ấy, như vậy là người có đức nhân
Nghĩa: Là việc nên làm hay là cách xử sự phải đường hoàng, hào hiệp.
Hành vi của con người phải tuân theo tính chính đáng, chú trọng quy tắc, tiêu
chuẩn, trọng tâm là nghĩa vụ và trách nhiệm. Trước khi làm gì phải xem xét
hành vi đó có hướng đến điều “thiện” hay không, có thể hiện tiêu chuẩn đạo
nghĩa, ý thức trách nhiệm với cộng đồng hay không.
Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người, mở rộng ra là
việc tuân thủ các quy tắc, nguyên tắc đạo đức xã hội và pháp luật. Một cách căn
6
bản, chính nghi lễ và nghi thức làm cho cuộc sống quân bình. Lễ làm bền vững
nền văn hiến của một nước, lễ mà ại hoại thì văn hiến cũng tiêu tan. Khổng Tử
nói: "Cung kính mà thiếu lễ thì làm thân mình lao nhọc. Cẩn thận mà thiếu lễ thì
trở thành nhút nhát. Dũng cảm mà thiếu lễ sẽ trở thành rối loạn. Ngay thẳng mà
Người có quyền chức phải giữ Tín với dân, trong đó có cấp dưới của mình.
Biết bao triều đại suy tàn, mục nát bởi đã bội tín với lời thể thuở dựng cờ khởi
nghĩa, mang gươm mở nước hoặc trong các cuộc hưng phế cung đình. Nguyễn
Trãi nói: làm lật thuyền mới biết sức dân là nước. Đẩy thuyền qua sóng cả hay
lật thuyền đều là dân.
Ngẫm như thế mới hay những kẻ thoái hóa biến chất tham nhũng, quan
liêu, hà hiếp dân lành đều thuộc loại bội tín với ân nhân của mình. Những kẻ
hống hách, độc tài trong công sở, tu sở, những kẻ bán đúng hạn hàng trong các
doanh nghiệp cũng thuộc loại này.
Nhưng người bình thường, nói rộng hơn là mọi thành viên trong xã hội,
cũng phải trọng chữ Tín. Làm sao có thể có một người lãnh đạo tốt, một tổ chức
xã hội lành mạnh nếu các thành viên không nghiêm túc chấp hành mệnh lệnh,
không tôn trọng lời hứa, lừa gạt cấp trên và lừa gạt nhau. Trên chiến trường hay
trong cuộc sống, nguy hiểm nhất không phải là đối phương trước mặt, mà là
những kẻ phản bội. Không phải vô cớ mà đạo lý Việt Nam coi lừa thầy phản bạn
là một tội ác về đạo đức không thể tha thứ.
Đề cao chữ Tín nhưng xưa nay người ta lại chê cười kẻ ngu tín. Ngu tín là
nhắm mắt mà tin, không kể gì đến lẽ phải. Ngu tín là một nhược điểm lớn của
con người, nguồn gốc của biết bao bi kịch cá nhân và của cả nhũng giai đoạn
lịch sử không ngắn. Ngu tín cũng là nguồn gốc của sự trì trệ, bảo thủ đến nỗi
con người mới chỉ đến được trình độ phát triển ở mức này.
Đức Tín tuy đứng ở hàng thứ năm trong Ngũ thường nhưng lại rất quan
trọng bởi vì hỗ trợ cho cả bốn đức trên. Không có niềm Tin không thể thành tựu
được điều gì. Có niềm tin mãnh liệt và tạo được niềm tin nơi mọi người, người
ta mới có khả năng “dời núi lấp biển”.
4.Vai trò của chữ Tín trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp
Chữ Tín thể hiện niềm tin của người khác đối với doanh nghiệp đáng giá
vàng ròng, vậy mà chưa thấy ai mua bảo hiểm cho chữ Tín. Hành vi nào được
xem bảo hiểm chữ Tín? Đó là bán giá phải chăng, cân đong đầy đủ, có sao nói
vậy, chất lượng phù hợp, hứa thế nào thực hiện thế nấy… Vũ khí bí mật của mọi
cũng nhờ chữ Tín, phát triển hay ì ạch cũng do chữ Tín. Khách hàng đến mua
sản phẩm giống như mua chữ Tín công ty, họ có niềm tin và sản phẩm, dịch vụ
và bản thân công ty mới đưa ra quyết định mua hàng. Con người tham gia vào
quá trình xây dựng chữ Tín doanh nghiệp bao gồm tất cả mọi thành viên từ giám
đốc đến nhân viên, từ hội sở đến chi nhánh, từ cấp cao đến cấp thấp và từ người
trẻ đến người già. Các điều kiện nội tại của doanh nghiệp cần chuẩn bị kỹ lưỡng
kết hợp với việc xây dựng tinh thần trách nhiệm của từng thành viên. Tất cả biểu
tượng, hành vi hay chính sách đề ra đều phục vụ chữ Tín, tạo thành phản xạ tự
nhiên, phản ứng bình thường và nhu cầu bản thân. Nhu cầu của doanh nghiệp
trong việc xây dựng chữ Tín là hiển nhiên, có tính chất cầu tiến, thỏa mãn khát
vọng và tự thân làm đẹp. Kinh doanh dựa vào chữ Tín giúp doanh nghiệp sống
9
thọ và đi vào lòng người, lợi ích của nó không nói ai cũng biết. Trong thời đại
toàn cầu hóa, phạm vi ảnh hưởng có sức lan tỏa mạnh, chữ Tín không nằm cục bộ
địa phương hay một quốc gia, chữ Tín doanh nghiệp ảnh hưởng đến thương hiệu
của doanh nghiệp đó, doanh nghiệp cùng ngành nghề, doanh nghiệp khác ngành
nghề và có khi hình ảnh cả quốc gia. Ngược lại, uy tín của ít nhất một doanh
nghiệp tác động mạnh thương hiệu doanh nghiệp khác và thương hiệu quốc gia.
Tính trung thực cả dân tộc xác định từ yếu tố của tính trung thực từng cá nhân,
từng doanh nghiệp và từng tổ chức. Một con sâu có thể làm rầu cả nồi canh. Chữ
Tín vượt ra tầm doanh nghiệp và thể hiện tầm quốc gia. Với toàn cầu hóa, chỉ cần
một hành vi lừa đảo hay gian dối ở một bộ phận, hậu quả thật khó lường.
Chữ Tín có thể hiểu là kinh doanh lành mạnh, là chiến lược phát triển và
đứng vị trí hàng đầu trong mọi ứng xử. Đây không là thứ đem ra nói đầu môi
cho vui mà là thứ thẩm thấu vào tận xương tuỷ. Kinh doanh có đạo đức đồng
nghĩa với bảo hộ chữ Tín. Kinh doanh bạt mạng, trá hình làm xói mòn chữ Tín.
Chữ Tín khiến doanh nhân ít tiền vẫn làm ăn được và tạo ra của cải dồi dào vì
nhờ nó mà doanh nhân được tin cậy, được ký thác, được giao kèo. Doanh nghiệp
nước ngoài tìm đến doanh nghiệp trong nước bắt đầu bằng tìm hiểu và khảo sát
chữ Tín thông qua một số đơn đặt hàng thử. Họ không bao giờ đặt quan hệ hợp
lĩnh vực khác bao giờ phạm trù uy tín cũng được đề cao, một người cho dù có
rất nhiều tiền nhưng chưa chắc gì có tầm ảnh hưởng đến cộng đồng, nhưng
ngược lại người có uy tín thì tầm ảnh hưởng của họ rất lớn và điều này thể hiện
rõ rệt nhất trong lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực chính trị.
Theo nhiều nhà phân tích đánh giá rằng, cái thành công lớn nhất của các
nhà làm kinh tế không phải là làm lợi đem về được nhiều hay ít mà chính là tầm
ảnh hưởng để có thể chi phối đến nền kinh tế như thế nào, vì thế với uy tín trong
hoạt động kinh doanh nhất là trong xu thế kinh tế thị trường như ở nước ta hiện
nay, thì hơn bao giờ hết chữ Tín cần phải được đặc biệt nâng cao và gìn giữ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đoàn Quang Thọ(2012), Giáo trình triết học, nhà xuất bản Chính trị-
Hành chính.
2. Đỗ Minh Cương(2001), Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh, nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
11
3. Đỗ Thị Phi Hoài(2009), Văn hóa doanh nghiệp, nhà xuất bản Tài chính.
4. Nguồn Internet
- />nghiep/332-van-hoa-doanh-nghiep.html
- />nghiep vai-tro-quan-trong.aspx
- />- />qid=20090303001625AAbXGeJ
- />360/Gia_tri_cua_chu_tin_trong_kinh_doanh/
- />doanh-nghiep/phan-3-nhung-net-dep-khon-ngoan-cua-han-10
12