nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty tnhh tích hợp hệ thống cmc - Pdf 23

LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động trong lĩnh vực nào dù là sản xuất kinh doanh hay kinh doanh
thương mại thì vốn luôn là một nhu cầu tất yếu. Không một ai có thể cung cấp
sản phẩm cho thị trường mà lại không dùng đến một đồng vốn.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì nhu cầu về vốn đối với một
doanh nghiệp lại càng trở nên quan trọng. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát
triển trong một môi trường kinh doanh đầy biến động với sự cạnh tranh ngày
càng khốc liệu thì nhất thiết là phải có một lượng vốn thích hợp và sử dụng
những đồng vốn đó thật hiệu quả.
Xuất phát từ thực tế khi thực tập tại công ty TNHH Tích hợp hệ thống
CMC em đã chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty TNHH
Tích hợp hệ thống CMC” với hy vọng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc
phân tích và rút ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại
Công ty TNHH Tích hợp hệ thống CMC
Kết cấu của đề tài gồm 3 phần:
Phần 1: Giới thiệu chung về công ty
Phần 2: Thực trạng sử dụng vốn của Công ty TNHH Tích hợp hệ thống CMC
Phần 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH Tích hợp hệ
thống CMC
Hoàn thành bài luận văn này em đã được sự chỉ bảo tận tình của giảng
viên – Th.S Lương Thu Hà và các anh chị trong công ty Tích hợp hệ thống. Em
xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của mọi người.
1
PHẦN 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY
1.1. Thông tin chung
Tên đầy đủ: CTCP Tập đoàn công nghệ CMC
Tên tiếng anh: CMC corporation
Tên viết tắt: CMC Corp
Ngày thành lập: 26 tháng 5 năm 1993
Vốn điều lệ: 720 tỷ VNĐ
Vốn chủ sở hữu: 635 tỷ VNĐ

khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép)(
- Sản xuất, buôn bán trang thiết bị y tế
1.3. Lịch sử hình thành và phát triển.
Công ty Tích hợp Hệ thống CMC (CMC SI) được thành lập năm 1995 hoạt
động trong lĩnh vực Tích hợp hệ thống. Trên cơ sở định hướng chiến lược dài
hạn về công nghệ, sản phẩm, dịch vụ và nhân lực, CMC SI đã nhanh chóng trở
thành Nhà cung cấp giải pháp và Tích hợp hệ thống hàng đầu tại Việt Nam. Các
giai đoạn mà công ty đã trải qua để xây dựng nên một CMC SI như ngày nay:
1995 – 1998
Giai đoạn này Phòng Kinh doanh Tích hợp Hệ thống trực thuộc Công ty
TNHH Máy tính Truyền thông – CMC Co., Ltd được thành lập, đặt những viên
gạch đầu tiên cho lĩnh vực tích hợp hệ thống. Giai đoạn này lĩnh vực tích hợp hệ
thống còn rất mới mẻ, cách dịch vụ cũng chưa nhiều công ty cung cấp một số sản
phẩm và tìm hiểu về xu hướng phát triển của sản phẩm và thị trường người tiêu
dùng
1999 – 2005
1999 phòng tích hợp hệ thống đã được nâng cấp thành Trung tâm Tích hợp
Hệ thống đó là một tiền đề để công ty có bước tiến dài khẳng định sự lớn mạnh
của công ty. Có thể nói điều kiện môi trường trong giai đoạn này tạo điều kiện
thuận lợi cho lĩnh vực hệ thống tích hợp có thể phát triển nhanh hơn bao giờ hết
đó là máy tính và mạng internet trở nên phổ biến trong toàn xã hội và không thể
thiếu trong các tổ chức, các doanh nghiệp. Nắm bắt được cơ hội và sự năng động,
công ty đã xây dựng quan hệ với những những doanh nghiệp công nghệ thông tin
hàng đầu thế giới: Cisco; Compaq; HP; IBM; Đối tác Microsoft… điều đó giúp
cho công ty có thể cung cấp một tập hợp các sản phẩm và dịch vụ phong phú, đa
dạng từ cung cấp các thiết bị CNTT, tư vấn xây dựng giải pháp, đến cung cấp các
giải pháp tổng thể cho các hệ thống thông tin điện tử, các dịch vụ đào tạo và
chuyển giao công nghệ tiên tiến trên thế giới, các dịch vụ hỗ trợ sau bán hàng
trên toàn quốc cho thị trường mục tiêu là cơ quan Đảng – Chính phủ, giáo dục –
đào tạo, tài chính – ngân hàng- bảo hiểm, doanh nghiệp và một số tổ chức nước

một dự án nào đó thì một nhóm dự án được hình thành với nguồn nhân lực
được huy động từ những lĩnh vực khác nhau và có những chức năng bổ sung
cho nhau. Chấm dứt dự án án thì nhóm dự án giải tán, các thành viên trở về với
doanh nơi làm việc cũ của chính mình. Nơi làm việc của công ty áp dụng cách
tổ chức rất chuyên nghiệp như những công ty nước ngoài. Tất cả đều chung một
không gian. Ngăn cách nhau chỉ bới những bàn làm việc cá nhân. Điều đó làm
cho người lao động làm việc có ý thức hơn và cũng không thể lười nhác trốn
tránh, ỷ lại công việc
1.6. Nhân sự
CMC SI là tập hợp của những con người có bản lĩnh, lí trí, khát vọng chiến
thắng, tài năng và tâm huyết với công nghệ. Con người CMC SI luôn sáng tạo,
tính đồng đội và kỷ luật tốt đã tạo nên những thành công, sự tin tưởng và đánh
giá cao của khách hàng trong các lĩnh vực, đồng thời khẳng định vị thế là công ty
Tích hợp Hệ thống hàng đầu Việt Nam. Tính đến hết c009, tổng số cán bộ nhân
viên của CMC SI là gần 500 người làm việc tại T.P Hà Nội và Hồ Chí Minh, và
ngày càng có thêm nhiều nhân tài mới ra nhập CMC SI. Những nhân sự được
đào tạo bài bản, được cập nhật kiến thức mới nhất từ các hãng, dày dặn kinh
nghiệm thực tế là nền tảng vững chắc giúp CMC SI không ngừng tạo nên những
giá trị gia tăng hiệu quả cho khách hàng, đảm bảo sự phát triển bền vững cho
CMC SI. Hàng năm CMC SI có ngân sách đào tạo lớn để phục vụ cho việc tổ
chức các lớp đào tạo nội bộ, cử nhân viên đi đào tạo, thi lấy chứng chỉ nghề
nghiệp. CMC SI thường xuyên kết hợp với các đối tác công nghệ quan trọng để
đào tạo nhân viên của CMC SI, đồng thời, đào tạo qua công việc trở thành một
hoạt động thường kỳ của CMC SI. Ngoài ra, trung tâm đào tạo của CMC SI hiện
có đầy đủ môi trường chuyên nghiệp cho việc đào tạo nhân viên, thi lấy chứng
chỉ
5
PHẦN 2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN
CỦA CÔNG TY TNHH TÍCH HỢP HỆ THỐNG CMC
2.1. Một số vấn đề về vốn

thành nhiều loại với những tiêu thức khác nhau.
6
- Theo hình thái biểu hiện thì TSCĐ bao gồm: Tài sản cố định hữu hình và
tài sản cố định vô hình.
- Theo quyền sở hữu: Tài sản cố định tự có và tài sản cố định đi thuê.
- Theo công dụng: Tài sản cố định dùng cho sản xuất kinh doanh, tài sản cố
định dùng cho mục đích phúc lợi, tài sản cố định bảo quản hộ.
Trong bài viết thì TSCĐ của doanh nghiệp được phân loại theo hình thái
biểu hiện gồm có hai loại là:
- TSCĐ hữu hình: nhà xưởng, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải trực
tiếp hoặc gián tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- TSCĐ vô hình: tài sản không có hình thái vật chất cụ thể (bằng sáng chế,
phát minh, bản quyền, phần mềm ).
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, TSCĐ không thay đổi hình thái hiện
vật, nhưng năng lực sản xuất và giá trị của chúng bị giảm dần - Hao mòn. Có hai
loại hao mòn, hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình. Hao mòn hữu hình là hao
mòn có liên quan đến giảm giá trị sử dụng của TSCĐ. Hao mòn vô hình lại liên
quan tới việc mất giá của TSCĐ. TSCĐ hữu hình thường bị cả hai loại hao mòn
hữu hình và vô hình; còn TSCĐ vô hình thì chỉ bị hao mòn vô hình.
2.1.4.2. Đặc điểm của vốn cố định:
Vốn cố định tham gia nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm và chuyển dần từng
phần vào giá thành sản phẩm tương ứng với phần hao mòn của TSCĐ.
Vốn cố định được thu hồi dần từng phần tương ứng với phần hao mòn của
TSCĐ, đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của nó được thu hồi về đủ thì
vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển.
2.1.4.3. Vốn lưu động:
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền toàn bộ tài sản lưu động (TSLĐ) của
doanh nghiệp phục vụ cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong đó TSLĐ của doanh nghiệp là những đối tượng lao động được sử
dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. TSLĐ của doanh

để có thể thỏa mãn những nhu cầu về cuộc sống cho những người tham gia vào
doanh nghiệp. Đó chính là quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn và nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn.
Trong thực tế, càng ngày doanh nghiệp càng cần nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn không chỉ để doanh nghiệp có thể tồn tại mà nó còn cần để cho doanh
nghiệp có thể nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường và đạt được mục tiêu
khác của như nâng cao uy tín của sản phẩm trên thị trường, nâng cao mức sống
của người lao động
Thông thường các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn cố định và vốn lưu động
được xác định bằng cách so sánh giữa kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất
kinh doanh như doanh thu, lợi nhuận … với số vốn cố định, vốn lưu động để đạt
được kết quả đó. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh cao nhất khi bỏ vốn ít nhưng
thu được hiệu quả cao.
8
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tức là đi tìm biện pháp làm cho chi phí về
vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh ít nhất mà đem lại kết quả cuối cùng cao
nhất.
Ta có công thức: Lợi nhuận = Doanh thu – chi phí
Với một lượng doanh thu nhất định, chi phí càng nhỏ lợi nhuận càng lớn.
Các biện pháp giảm chi phí tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn phải
dựa trên cơ sở phản ánh chính xác, đầy đủ các loại chi phí trong điều kiện nền
kinh tế luôn biến động về giá. Do đó để đảm bảo kết quả hoạt động sản suất kinh
doanh của doanh nghiệp. Vì hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng được
xác định bằng cách so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra trong đó chi
phí về vốn là chủ yếu.
2.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của công ty
2.3.1. Yếu tố bên ngoài
2.3.1.1. Chính sách nhà nước
Những chính sách của Nhà nước Đối đặc biệt là các chính sách như thuế có
tác động rất lớn tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Các chính sách về

mòn vô hình rất lớn. Đây là một nguyên nhân quan trọng làm cho doanh nghiệp
bị mất vốn. Tuy nhiên sự tiến bộ khoa học cũng đem đến cho doanh nghiệp vô
vàn cách để thỏa mãn được những nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng.
Đó là một cớ hội rất lớn để thu về những nguồn lợi khổng lồ nếu doanh nghiệp
biết nhanh nhạy nắm bắt.
2.3.2. Những yếu tố bên trong
2.3.2.1. Lĩnh vực hoạt động
Lĩnh vực hoạt động của công ty là một trong những nhân tố ảnh hưởng
quyết định tới hiệu quả sử dụng vốn. Lượng vốn lưu động và vốn cố định sử
dụng chiểm tỷ lệ khác nhau trong tổng vốn kinh doanh của những lĩnh vực khác
nhau. Doanh ngiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất luôn có vốn cố đinh chiếm
một tỷ lệ khá cao trong khi đó thì doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương
thì vốn cố định chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Hơn nữa cũng do đặc điểm của lĩnh vực hoạt
động mà cơ cấu nguồn vốn khác nhau, đặc điểm trong nợ phải trả cũng khác
nhau do vậy mà hiệu quả sử dụng vốn cũng bị ảnh hưởng.
2.3.2.2. Trình độ lao động
Trình độ lao động ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn. Trình độ
của người sử dụng khi sử dụng vốn của và ý thức trách nhiệm doanh nghiệp đặc
biệt là vốn lưu động có thể gây sự lãng phí hoặc cũng có thể tiết kiệm được vốn.
Điều này thể hiện rõ nét và cụ thể trong quá trình sử dụng vốn để mua sắm vật tư,
kỹ thuật không phù hợp với quy trình sản xuất, không đúng chất lượng quy định,
không tận dụng hết phế phẩm., phế liệu nghĩa là hiệu quả sử dụng vốn ở đây
không tốt.
2.3.2.2. Chiến lược của doanh nghiệp
Doanh nghiệp lựa chọn cho mình khác hàng mục tiêu là các Bộ, Cơ quan
Chính Phủ, các Tổng công ty, các tổ chức Giáo dục Đào tạo, các cơ quan trong
10
lĩnh vực Tài chính, các Ngân hàng, Chứng khoán, Bảo hiểm, Viễn thông, các
công ty đa quốc gia trên toàn quốc. Khối lượng hàng hóa thường rất lớn nếu nhận
được quyền cung cấp sản phẩm qua hình thức đấu thầu. Nên lượng tiền lưu động

thì không những không phát huy được tác dụng mà còn làm hao hụt, mất mát dần
làm cho hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh giảm.
11
Công tác quản lý trong khâu thanh toán cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến
hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua quá trình
quản lý những khoản vốn bị chiếm dụng do nợ nần dây dưa khó đòi hay khoản
vốn chiếm dụng được
2.4. Nguồn hình thành vốn và cơ cấu vốn
2.4.1. Khái quát chung về nguồn vốn của công ty
Vốn của công ty được hình thành từ hai nguồn: vốn chủ sở hữu và nợ phải
trả
Vốn chủ sở hữu là số tiền do các nhà đầu tư sáng lập viên đóng góp hoặc
được hình thành từ kết quả hoạt động. Đây không phải là một khoản nợ và do đó
doanh nghiệp không có trách nhiệm phải thanh toán.
Nợ phải trả: là các khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh
nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân trong nền kinh tế như: nợ
tiền vay ngân hàng, nợ vay các tổ chức kinh tế khác, tiền vay từ vệc phát hành
trái phiếu, các khoản nợ phải trả cho Nhà nước, phải trả cho người bán, phải trả
công nhân viên
2.4.2. Cơ cấu nguồn vốn
12
Nguồn: Báo cáo tài chính các năm
STT Chỉ tiêu 2007 2008 2009 2008 so với 2007 2009 so với 2008
GT % GT % GT % GT % GT %
A Nợ phải trả 96978 57,16 190844 71.63 163187 68,21 93866 96,79 -27657 -14,49
I Nợ ngắn hạn 96909 57,12 190366 71,45 163023 68,14 93457 96,44 -27343 -14,36
1 Vay & nợ ngắn hạn 20200 11,91 44890 16,85 64910 27,13 24690 122,22 20020 44,6
2 Phải trả người bán 36848 21,72 61110 22,94 40992 17,13 24262 65,84 -20118 -32,92
3 Người mua trả tiền trước 863 0,51 1898 0,71 1855 0,78 1035 120 -43 -2,27
4 Thuế & các khoản phải nộp Nhà nước 10700 6,29 13803 5,18 7100 2,97 3103 29 -6703 -48,56

Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn
Hệ số tụ tài trợ tài sản cố định
Chỉ tiêu 2007 2008 2009
Hệ số tự tài trợ 0,4284 0,2837 0,3179
Hệ số tự tài trợ tài
sản dài hạn
17,44 11,03 12,9
Hệ số tự tài trợ tài
sản cố định
35,18 22 19,23
Ta thấy doanh nghiệp có hệ số tự tài trợ là thấp. Doanh nghiệp thiếu vốn và
khả năng chủ động về vốn của doanh nghiệp thấp. Đây là thực trạng khá phổ biến
ở Việt Nam
Tuy nhiên công ty lai có hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn và hệ số tự trợ tài
sản cố định rất cao. Điều này chứng tỏ rằng doanh nghiệp có thừa khả năng đảm
bảo cho tài sản dài hạn và tài sản cố định nên doanh nghiệp ít gặp khó khăn khi
thanh toán nợ đáo hạn. Điều này tuy giúp doanh nghiệp tự bảo đảm về mặt tài
chính nhưng hiệu quả kinh doanh sẽ không cao do vốn đầu tu chủ yếu vào tài sản
dài hạn, tài sản cố định, ít sử dụng vào kinh doanh quay vòng để sinh lợi.
Nợ phải trả trong công ty luôn chiếm phần lớn trong tổng nguồn vốn. Trong
nợ phải trả thì chủ yếu là nợ ngắn hạn, nợ dài hạn chiếm không quá 1%. Những
khoản về vay và nợ ngắn hạn, phải trả người bán, phải trả nội bộ đóng vai trò chủ
đạo trong việc huy động vốn vay ngắn hạn ( tổng những khoản này chiếm hơn
14
84% trong cả 3 năm). Việc quản lý những khoản này ảnh hưởng rất lớn đến
nghĩa vụ trong ngắn hạn của các tài sản lưu động của doanh nghiệp
Trong năm 2009 có khá nhiều biến động so với năm 2008 và 2007. Nợ phải
trả có sự thay đổi so với năm 2007 và 2008. Nều như trong những năm 2007 và
2008 trong nợ ngắn hạn phải trả người bán luôn chiểm tỷ lệ cao nhất, thứ hai là
đến các khoản phải thu nội bộ và cuối cùng là nợ và vay ngắn hạn thì đến năm

3 Phải thu nội bộ ngắn hạn 77997 45,98 42049 15,78 74469 31,13
4 Các khoản phải thu khác 52 0,03 246 0,09 114 0,04
IV Hàng tồn kho 13668 8,06 29879 11,21 16136 6,74
1 Hàng tồn kho 13728 8,09 32341 12,13 16354 6,84
2 Dự phòng giảm giá hàng tồn kho -60 -0,03 -2462 -0,92 -218 -0,09
3 Tài sản lưu động 4240 6341 16690 6,27 10284 4,29
4 Chi phí trả trước ngắn hạn 0 0 5357 2,01 970 0,4
5 Thuế GTGT được khấu trừ 125 0,07 909 0,35 471 0,2
6 Thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước 0 0 0 0 0 0
V Tài sản lưu động khác 4116 2,43 7100 2,66 6870 2,87
B TÀI SẢN CỐ ĐỊNH 2066 1,22 3338 1,25 3995 1,67
A. TSCĐ hữu hình 2048 3326 3989
1 Máy móc thiết bị 1804 2717 3020
2 Phương tiện vận tải 0 448 864
3 Thiết bị DCQL 244 161 106
B. TSCĐ vô hình 18 12 6
Phần mềm máy vi tính 18 12 6
( Nguồn: Báo cáo tài chính của cô
16
Nhận xét:
Hàng tồn kho trong công ty chiếm tỷ lệ không cao trong vốn lưu động.
Năm 2008 có tỷ lệ hàng tồn kho cao nhất cũng chỉ là chiếm 11,49% trong vốn
lưu động. Năm 2007 là 8,26% trong tổng vốn lưu động. Và năm 2009 thì giảm
rõ rệt so với hai năm trước, chỉ còn 6.9% trong vốn lưu động Với một công ty
hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thương mại mà hàng tồn kho chỉ chiếm con
số khá nhỏ so với con số trung bình của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực thương mại là 60 – 65% trong vốn lưu động thì đây là một con số khá lý
tưởng. Sở dĩ có điều này là do doanh nghiệp bán hàng thông qua hình thức đấu
thầu. Công ty tham gia đấu thầu để có thể cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách
hàng của mình. Khi đã thắng thầu thì công ty sẽ đặt hàng với bên cung ứng sản

thuế
23064 27154 29546
3. Vốn cố định
bình quân
1033 2702 3666,5
4. Sức sản xuất
của vốn cố định
247,2 301,2 204,8
5. Suất hao phí
của vốn cố định
0,004 0,0033 0,0048
6. Lợi nhuận sinh
lợi của vốn cố
định
22,33 10,05 8,06
Nhận xét:
Doanh thu của doanh nghiệp rất cao song lợi nhuận thu được lại rất thấp.
Điều này hoàn toàn hợp lý vì lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp là kinh doanh
thương mại. Trong 3 năm doanh thu không có xu hướng ổn định. Năm 2008 tăng
vượt bậc là 558337 triệu đồng tương đương với hơn 200% so với 2007 vậy
nhưng đến 2009 năm so với 2007 thì vẫn tăng lên 495352 triệu tương đương với
194% nhưng lại giảm so vơi 2008 là 62985 triệu đồng. Tuy nhiên về lợi nhuận
sau thế thì những biến đổi diễn ra không thuận chiều so với doanh thu. Năm 2008
khi doanh thu tăng lên hơn 200% thì lợi nhuân sau thuế tăng lên có 17,33%. Đến
2009 dù thì tốc độ tăng của lợi nhuận đã xich lại gần hơn một chút. Doanh thu
tăng so với 2007 là 194% còn lợi nhuận thì tăng lên 28,10%. Như vậy nếu chỉ
nhìn vào những con số lợi nhuận thì chỉ thấy được rằng lợi nhuận là tăng qua các
năm mà không thấy được lợi nhuận có mức tăng quá khập khiễng với doanh thu.
Doanh nghiệp có sức sản xuất của VLĐ rất cao. Năm 2007 một đồng VLĐ
làm ra 1033 đồng doanh. Năm 2008 một đồng VLĐ làm ra được 301,2 đồng

6. Nợ ngắn hạn 96907 190366 163023
7. Khả năng thanh toán tổng
quát
1.75 1.4 1.47
8. Khả năng thanh toán chung
của TSLĐ
1.69 1.35 1.41
9. Khả năng thanh toán nhanh
của TSLĐ
1.55 1.33 1.38
10. Khả năng thanh toán ngay
của TSLĐ
0.155 0.29 0.24
Nhận xét:
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp thấp.
Khả năng thanh toán bằng tiền rất khó khăn nhưng khả năng thanh toán
nhanh thì lại rất tốt.
19
Điều này chỉ ra hạn chế là doanh nghiệp nắm giữ các khoản tiền mặt quá ít.
Không đủ khả năng thanh toán ngay khi đến hạn thanh toán nợ.
Số vòng quay của hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán/Tồn kho bình quân
Chỉ tiêu 2007 2008 2009
1. Giá vốn hàng
bán
200163 648975 638413
2. Tồn kho bình
quân trong kỳ
6834 21773,5 23007,5
3. Vòng quay dự
trữ, tồn kho

tiền bình quân tăng lên 20,8 ngày. Điều này ảnh hưởng đến tốc độ luân chuyển
của vốn lưu động. Công ty cần tìm biện pháp trong thanh toán tiền hàng để tăng
tốc độ thu tiền của khách hàng và tăng vòng quay các khoản phải thu.
2.4.2.2.2. Hiệu quả sử dụng VLĐ
Ta lập bảng tính sau:
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu 2007 2008 2009
1. Doanh thu 255373 813710 750725
2. Lợi nhuận sau thuế 23064 27154 29546
3. Vốn lưu động bình quân 85411 215337,5 249169
4. Sức sản xuất của vốn lưu động (1/3) 2,99 3,78 3
5. Suất hao phí của vốn lưu động (3/1) 0,334 0,26 0,332
6. Sức sinh lợi của vốn lưu động (2/3) 0,27 0,126 0,12
Nhận xét:
Vốn lưu động bình quân của doanh nghiệp tăng qua các năm. Còn hiệu quả
sử dụng vốn lưu đông thì lại giảm qua các năm cụ thể là về:
Sức sản xuất của doanh nghiệp cao nhất ở năm 2008 là 3,78 có nghĩa là một
đồng VLĐ năm 2008 làm ra được 3,78 đồng so doanh thu. Năm 2009 thì một
đồng VLĐ chỉ tạo ra được 3 đồng doanh thu.
Do sức sản xuất VlĐ của năm 2008 cao nhất nên suất hao phí của 2008 là
thấp nhất. Tuy nhiên sức sinh lợi của các năm vẫn giảm dần theo thời gian. Vẫn
chính như nguyên nhân giống như khi sử dụng TSCĐ
Lợi nhuận sau thuế tăng nhưng tăng chậm hơn so với VLĐ. Điều này cũng
chứng tỏ rằng Công ty đã sử dụng VLĐ không được hiệu quả như trước.
2.4.2.3. Hiệu quả sử dụng tổng vốn
Đơn vị: Triệu đồng
21
Chỉ tiêu 2007 2008 2009
1. Doanh thu thuần 255373 813710 750725
2. Lợi nhuận trước thuế và lãi

hiệu quả sử dụng của năm sau lại không còn được như lúc trước. Điều này là do
doanh thu và lợi nhuận đã không tăng cùng một tỷ lệ so với sự gia tăng của VCĐ
và VLĐ. Tuy nhiên điều này chứng tỏ rằng công ty đã rất đầu tư đẻ có thể mở
rộng quy mô kinh doanh. Mặc dầu trong điều kiện hiện tại thì quy mô đó đã chưa
22
phát huy được tác dụng của mình là lợi thế theo quy mô nhưng nó tạo cho Công
ty có được một nguồn lực dồi dào đẻ có thể đáp ứng được mục tiêu phát triển
trong tương lai khi những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính dần được
khắc phục
Năm 2008 là một năm mà doanh nghiệp có được bước tiến dài trong số vốn
huy động được, doanh thu thu về tuy nhiên nó cũng ẩn chứa nhiều điều phải suy
nghĩ là tại sao doanh thu tăng đến hơn 200% mà lợi nhuận lại chỉ tăng co vỏn vẹn
chỉ có 17%. Ta xem xét bảng sau
Chỉ tiêu 2008 2007 2008/2007
1. Doanh thu thuần 813709 255373 558336
2. Thu nhập khác 413 38 375
2. Giá vốn hàng bán 648975 200163 448812
3. Chíphí tài chinh
– trong đó chi phí lãi vay
14799
8223
472
216
14327
8007
5. Chi phí bán hàng 98239 19488 78751
6. Chi phí quản lý doanh nghiệp 14839 3350 11489
Chi phí khác 72 0 72
ta có thể thấy nêu ra một vài nguyên nhân gây ra việc lợi nhuận sau thuế tăng
chậm là do những khoản về giá vốn hàng bán, chi phí lãi vay, chi phí bán hàng,

các tổ chức, doanh nghiệp, đặc biệt một số dự án lớn thuộc khối tài chính công,
bị chậm so với dự kiến ban đầu. Tổng giá trị các dự án xây dựng này ước khoản
gần 200 tỷ đồng sẽ được hoàn thành và quyết toán vào đầu năm 2010.
Dựa trên khảo sát và đánh giá về nhu cầu đầu tư khối doanh nghiệp và cơ
quan nhà nước, dịch vụ tích hợp hệ thống tại Việt Nam nói chung sẽ duy trì tốc
độ tăng trưởng bình quân trên 30% trong 3 năm tới. Công ty đang đầu tư nhiều
vào phát triển các dịch vụ tích hợp chuyên nghiệp có hàm lượng công nghệ cao,
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sẽ là định hướng của dịch vụ này trong thời
gian tới sẽ khiến tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu sẽ có bước cải thiện mạnh mẽ.
Để thực hiện được điều đó thì chiến lược của công ty trong những năm sắp tới là
Phát huy thế mạnh là một trong những công ty cung cấp giải pháp và dịch
vụ tích hợp hàng đầu Việt Nam công ty đang phát triển theo hai hướng:
Thứ nhất là đầu tư mạnh mẽ vào các thị trường dọc có nhu cầu lớn, chuyên
nghiệp và phực tạp về CNTT như Tài chính, Ngân hàng, Bảo hiểm, Viễn thông
và các doanh nghiệp sản xuất lớn.
Thứ hai là triển khai các dịch vụ hạ tầng và giải pháp chuyên nghiệp, phục
vụ theo chiều ngang tới cả những mảng khách hàng như các doanh nghiệp lớn,
khối chính phủ, Dịch vụ công, Giáo dục và đào tạo
Công ty sẽ là đầu mối của cả tập đoàn để cung cấp những giải pháp
tổng thể và trọn gói cho khách hàng bao gồm tư vấn chuyên nghiệp, dịch vụ
hạ tầng, ứng dụng chung và chuyên ngành, phát triển theo yêu cầu, dịch vụ
viễn thông, dịch vụ an ninh an toàn thông tin. Nhu cầu này đang có mức độ
tăng trưởng rất mạnh mẽ.
25

Trích đoạn Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status