Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
Để tiến hành hoạt động kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng
cần phải có một lượng vốn nhất định. Vốn là một tiền đề cần thiết không thể
thiếu cho việc hình thành và phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn bao gồm tổng hợp các biện pháp kinh tế,
kỹ thuật, tài chính, có ý nghĩa góp phần sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn
lực của doanh nghiệp, từ đó tác động mạnh mẽ tới hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Vấn đề hiệu quả sử dụng vốn không phải chỉ riêng
một đối tượng nào mà tất cả các nhà kinh doanh, ngay từ khi thành lập doanh
nghiệp đều phải tính toán kỹ lưỡng các phương hướng, biện pháp làm sao sử
dụng vốn đầu tư một cách có hiệu quả nhất, sinh được nhiều lợi nhuận nhất.
Chính vì vậy, vấn đề bức thiết đặt ra cho các doanh nghiệp hiện nay là phải
xác định và đáp ứng được nhu cầu vốn thường xuyên cần thiết và hiệu quả sử
dụng đồng vốn ra sao? Đây là một vấn đề nóng bỏng có tính chất thời sự
không chỉ được các nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm, mà còn thu hút được
sự chú ý của các nhà đầu tư trong lĩnh vực tài chính, khoa học vào doanh
nghiệp.
Xuất phát từ vị trí, vai trò vô cùng quan trọng của vốn lưu động và thông
qua quá trình thực tập tại công ty Cổ Phần Vật Liệu và Xây Dựng Hà Nội, em
quyết định chọn đề tài " Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công
ty cổ phần Vật Liệu và Xây Dựng Hà Nội" làm đề tài nghiên cứu chuyên đề
thực tập của mình.
Bố cục của chuyên đề gồm 3 phần:
Chương 1: Lý luận chung về hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
SV: An ThÞ T©m Líp : TCDN - K21
1
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Chương 2: Tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ
phần Vật Liệu và Xây Dựng Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công
như bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, chi phí chờ phân bổ…TSLĐ trong
lưu thông bao gồm sản phẩm hàng hóa chưa tiêu thụ được (hàng tồn kho), vốn
bằng tiền và các khoản phải thu. TSLĐ trong sản xuất và trong lưu thông luôn
thay đổi cho nhau, vận động không ngừng nhằm làm cho quá trình sản xuất
diễn ra thường xuyên, liên tục.
Trong quá trình sản xuất, khác với tài sản cố định, TSLĐ của doanh
nghiệp luôn thay đổi hình thái biểu hiện để tạo ra sản phẩm và giá trị của nó
cũng được dịch chuyển một lần vào giá trị sản phẩm tiêu thụ. Đặc điểm này
quyết định sự vận động của vốn lưu thông tức hình thái giá trị của TSLĐ là:
SV: An ThÞ T©m Líp : TCDN - K21
3
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Khởi đầu vòng tuần hoàn vốn, vốn lưu động từ hình thái tiền tệ sang hình thái
vật tư hàng hóa dự trữ, qua giai đoạn sản xuất vật tư được đưa vào chế tạo bán
thành phẩm và thành phẩm. Kết thúc vòng tuần hoàn sau khi hàng hóa được
tiêu thụ vốn lưu động trở lại hình thái tiền tệ như ban đầu
Vậy vốn lưu động của doanh nghiệp được hiểu là số tiền ứng trước về tài
sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một
cách thường xuyên và liên tục. Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay
một lần, tuần hoàn, liên tục và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu
kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2. Đặc điểm của vốn lưu động
Vốn lưu động tuần hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản
xuất. Trong quá trình đó, vốn lưu động chuyển toàn bộ, một lần giá trị vào giá
trị sản phẩm. Khi kết thúc quá trình sản xuất, giá trị hàng hóa được thực hiện
và vốn lưu động được thu hồi.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn lưu động được chuyển qua nhiều
hình thái khác nhau qua từng giai đoạn. Các giai đoạn của vòng tuần hoàn đó
luôn đan xen với nhau mà không tách biệt riêng rẽ, vì vậy trong quá trình sản
xuất kinh doanh, quản lý vốn lưu động có một vai trò quan trong. Việc quản
động là điều kiện đầu tiên để doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất kinh
doanh.
- Ngoài ra vốn lưu động còn đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh
nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục. Bởi trong quá trình sản xuất
kinh doanh, vốn tham gia vào tất cả các khâu từ sản xuất đến tiêu thụ và cuối
cùng nó trở lại hình thái ban đầu là tiền tệ, như vậy sự luân chuyển của vốn
lưu động giúp doanh nghiệp thực hiện được hoạt động sản xuất và tái sản xuất
SV: An ThÞ T©m Líp : TCDN - K21
5
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
của mình một cách liên tục. Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh đánh giá
quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp.
- Vốn lưu động có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh
nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong
việc sử dụng vốn nên khi muốn mở rộng quy mô của doanh nghiệp phải huy
động một lượng vốn nhất định để đầu tư ít nhất là đủ để dự trữ vật tư hàng
hóa. Vốn lưu động còn giúp doanh nghiệp chớp được thời cơ kinh doanh và
tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay -
một nền kinh tế phát triển theo xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập
- Vốn lưu động còn là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm
do đặc điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. Giá trị của
hàng hóa bán ra được tính toán trên cơ sở bù đắp được giá thành sản phẩm
cộng thêm một phần lợi nhuận. Do đó vốn lưu động đóng vai trò quyết định
trong việc tính giá cả hàng hóa bán ra.
1.2. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
a) Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế
phản ánh trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn lưu động làm sao
cho chúng sinh lời tối đa nhằm mục đích tối đa hóa khả năng sinh lời của
doanh nghiệp.
vốn triệt để, tức là vốn phải vận động sinh lời không để nhàn rỗi, bên cạnh đó
việc sử dụng vốn phải tiết kiệm và phù hợp với việc dùng vốn vào mục đích
sao cho hiệu quả. Quản lý vốn chặt chẽ chống thất thoát.
b) Tầm quan trọng của nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Để tiến hành bất cứ hoạt động kinh doanh nào thì vốn lưu động là điều
kiện không thể thiếu được, nhưng khi đã có vốn thì vấn để đặt ra là sử dụng
vốn như thế nào để đem lại hiệu quả cao, đem lại lợi ích tối đa cho doanh
SV: An ThÞ T©m Líp : TCDN - K21
7
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
nghiệp. Để đảm bảo được lợi ích của doanh nghiệp, đòi hỏi doanh nghiệp phải
quản lý, sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồng vốn, tiết kiệm được vốn tăng tích
lũy để thực hiện tái sản xuất và mở rộng quy mô sản xuất ngày càng lớn.
Một là: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động sẽ đảm bảo an toàn tài
chính cho doanh nghiệp, việc sử dụng vốn có hiệu quả giúp doanh nghiệp có
uy tín huy động vốn dễ dàng, khả năng thanh toán cao từ đó giúp doanh
nghiệp hạn chể rủi ro và đảm bảo cho sự phát triển của doanh nghiệp.
Hai là: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động giúp doanh nghiệp nâng
cao uy tín của mình trên thị trường. nâng cao mức sống của cán bộ công nhân
viên. Khi doanh nghiệp làm ăn có lãi thì tác động tích cực không chỉ đóng
góp đầy đủ vào ngân sách nhà nước mà cải thiện việc làm cho người lao
động, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tự khẳng định mình trong môi
trường cạnh tranh lành mạnh.
Bà là: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp
tăng khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường. Từ khi đất nước chuyển
sang nền kinh tế thị trường thì kéo theo đó là sự cạnh tranh ngày càng khốc
liệt, cạnh tranh là quy luật tất yếu của thị trường, cạnh tranh để tồn tại. Khi
doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, doanh nghiệp mở rộng quy mô, đầu tư vào
công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, đào tạo đội
ngũ cán bộ chất lượng tay nghề cao.
theo công thức:
VLĐ bình quân
trong kỳ =
Tổng VLĐ sử dụng bình quân các quý
trong năm
Số quý trong năm (4)
hoặc:
VLĐ bình quân
trong kỳ =
Tổng VLĐ sử dụng bình quân các tháng
trong năm
12 tháng
Tỷ số này phụ thuộc rất nhiều vào kết quả kinh doanh trong kỳ và đặc
điểm của các ngành sản xuất kinh doanh. Các ngành như dịch vụ, thương
mại…có vốn lưu động nhiều tỷ số này thường rất thấp, trong khi các ngành
như công nghiệp chế tạo, sản xuất… sử dụng vốn cố định nhiều tỷ số này
SV: An ThÞ T©m Líp : TCDN - K21
9
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
thường rất cao. Do đó để đánh giá chính xác cần phải so sánh với doanh
nghiệp tương tự trong một ngành.
b) Vòng quay vốn lưu động
Phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.Về ý nghĩa tỷ
số này cho biết mỗi đồng tài sản lưu động của doanh nghiệp tạo ra được bao
nhiêu đồng doanh thu.
Vòng quay VLĐ trong
kỳ
=
Doanh thu thuần
VLĐ bình quân trong kỳ
Vòng quay VLĐ
kỳ trước
f) Chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán xem xét mức độ biến thiên của các
khoản phải thu và các khoản phải trả trên bảng cân đối tài sản của doanh
nghiệp, từ đó phản ánh khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp. Nó
phản ánh mối quan hệ giữa các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với
các khoản phải thanh toán trong kỳ. Bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Khả năng thanh toán chung ( thanh toán ngắn hạn)
Chỉ tiêu này được xác định dựa vào số liệu từ bảng cân đối tài sản của
doanh nghiệp bằng cách lấy giá trị TSLĐ chia cho giá trị nợ ngắn hạn phải
trả.
Giá trị TSLĐ bao gồm tiền, chứng khoán ngắn hạn, khoản phải thu và
hàng tồn kho. Giá trị nợ ngắn hạn bao gồm khoản phải trả người bán, nợ ngắn
hạn ngân hàng, nợ dài hạn đến hạn trả, phải trả thuế, các khoản chi phí phải
trả ngắn hạn khác.
Tỷ số thanh toán ngắn
hạn
=
TSLĐ
Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng nợ ngắn hạn phải trả của doanh nghiệp có
bao nhiêu đồng tài sản lưu động có thể sử dụng để thanh toán.
Để đánh giá tình hình thanh khoản của doanh nghiệp cần phải so sánh với
bình quân ngành, tỷ số thanh khoản năm trước và với 1.
Nếu khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp > 1 điều này có nghĩa
là giá trị TSLĐ của donah nghiệp lớn hơn giá trị nợ ngắn hạn, hay nói khác đi
là TSLĐ của doanh nghiệp đủ đảm bảo cho việc thanh toán các khoản nợ
SV: An ThÞ T©m Líp : TCDN - K21
11
Tỷ số thanh toán nhanh của doanh nghiệp cho biết mỗi đồng nợ ngắn hạn
của doanh nghiệp có bao nhiêu đồng TSLĐ có thể huy động ngay để thanh
toán.
SV: An ThÞ T©m Líp : TCDN - K21
12
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Căn cứ vào việc so sánh với tỷ số bình quân ngành, tỷ số thanh khoản
nhanh năm trước và so sánh với 1.
Tỷ số thanh toán nhanh <1: Tái sản ngắn hạn có thể sử dụng ngay của
doanh nghiệp không đủ đảm bảo cho việc thanh toán ngay các khoản nợ ngắn
hạn, nếu như chủ nợ đòi tiền cùng 1 lúc. Cho thấy khả năng thanh toán của
doanh nghiệp không tốt lắm, nhưng nếu chủ nợ không đòi tiền ngay cùng một
lúc thì doanh nghiệp vẫn có thể tiếp tục hoạt động.
Nhưng cần phải so sánh giữa tỷ số thanh toán hiện hành và tỷ số thanh
toán nhanh để thấy được mức độ ảnh hưởng của hàng tồn kho và chính sách
dự trữ của doanh nghiệp. Bên cạnh đó cũng phải so sánh với tỷ số thanh toán
nhanh của năm trước và với bình quân ngành.
- Tỷ số thanh toán tức thời
Tỷ số thanh toán tức
thời
=
Tiền
Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong trường
hợp khẩn cấp khi mà chủ nợ đòi nợ gấp thì doanh nghiệp có khả năng thanh
toán cho chủ nợ là bao nhiêu.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng VLĐ tại các doanh nghiệp ta cần
phải xem xét đến các nhân tố ảnh hưởng đến nó.
a) Nhân tố khách quan
nước và chính phủ. Các cơ chế, chính sách này có tác động không nhỏ tới tình
hình tài chính của doanh nghiệp nới chung và sử dụng VLĐ nói riêng. ví dụ
như cơ chế giá vốn, đánh giá lại tài sản, thay đổi các chính sách thuế (thuế
GTGT, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp…) chính sách cho
vay, bảo hộ… đều ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
SV: An ThÞ T©m Líp : TCDN - K21
14
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
nghiệp từ đó ảnh hưởng đến tình hình tài chính nói chung và sử dụng vốn lưu
động nói riêng.
- Nhà cung cấp
Muốn sản xuất kinh doanh thì ngoài các yếu tố như vốn, máy móc công
nghệ… thì doanh nghiệp phải có các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu,
muốn vậy thì doanh nghiệp phải mua từ các doanh nghiệp khác. Việc thanh
toán các khoản này sẽ tác động trực tiếp đến tài chính của doanh nghiệp. Ví
dụ nhà cung cấp đòi hỏi doanh nghiệp phải thanh toán tiền ngay khi giao hàng
sẽ dẫn đến lượng tiền mặt của doanh nghiệp giảm xuống.
b) Nhân tố chủ quan
- Cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Cơ cấu vốn của doanh nghiệp là thuật ngữ chỉ một doanh nghiệp sử dụng
các nguồn vốn khác nhau với một tỷ lệ nào đó của mỗi nguồn để tài trợ cho
tổng tài sản. Các doanh nghiệp khác nhau sẽ có cơ cấu vốn khác nhau, do đó
chi phí vốn sẽ khác nhau. Cơ cấu vốn liên quan đến việc tính chi phí vốn. Để
sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động thì ban quản lý phải tìm ra một cơ cấu
vốn phù hợp với tình hình cụ thể của doanh nghiệp.
Do đó khi doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn lưu động không chính xác
và một cơ cấu vốn không hợp lý cũng gây ra ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu
quả sử dụng vốn.
- Nhân tố con người
Con người là chủ thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, do vậy
16
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT LIỆU VÀ XÂY DỰNG
HÀ NỘI
2.1. Giới thiệu tổng quan về công ty
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty cổ phần vật liệu xây dựng Hà Nội là một doanh nghiệp nhà
nước, hạch toán độc lập, thuộc Tổng công ty xây dựng Sông Hồng, tiền thân
của nó là Xí Nghiệp Cát Sỏi Sông Lô được thành lập ngày 18-04-1969 theo
quyết định của Đảng và Chính phủ.
Những thông tin chung về công ty:
Tên gọi:Công ty cổ phần vật liệu và xây dựng Hà Nội
Tên giao dịch quốc tế: Ha Noi Contruction And Materials joint stock
company
Tên viết tắt: HACMA-JSC
Địa chỉ: xã Thụy Phương-Huyện Từ Liêm-Thành Phố Hà Nội
Giám đốc: Ông Nguyễn Giang Đông kiêm chủ tịch hội đồng quản trị
Số đăng ký kinh doanh:3076680-DNNN
Tel: (04)-7572839
Fax: (04)-8389258
Email:
Sự hình thành và phát triển của công ty là một quá trình dài với các giai
đoạn sau:
- 18/04/1969 theo quyết định của Đảng và Chính Phủ, Xí nghiệp Cát Sỏi
Sông Lô được thành lập và đi vào hoạt động là một bộ phận quan trọng đối
với ngành xây dựng, chức năng nhiệm vụ chính của nó là khai thác và kinh
doanh cát sỏi.
SV: An ThÞ T©m Líp : TCDN - K21
17
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
không tiến hành khai thác mà chuyển sang kinh doanh các vật liệu xây dựng
trong đó mặt hàng chính là cát, sỏi, đá…Nhờ vậy mà kết quả kinh doanh của
công ty không ngừng được nâng cao và trở thành một công ty vững mạnh như
ngày nay.
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ chính của công ty
Công ty Khai Thác và Kinh Doanh Vật Liệu Xây Dựng Hà Nội trực
thuộc tổng công ty xây dựng Sông Hồng hoạt động chính của nó là kinh
doanh các vật liệu xây dựng: Cát, sỏi, đá…nhằm cung cấp các loại vật liệu
cho ngành xây dựng
Các mặt hàng kinh doanh của công ty
ĐÁ CÁT SỎI
Đá 1x2 Cát đen đổ nền sỏi xô
Đá 2x4 Cát vàng sỏi chọn
Đá 4x6 Cát xây
Đá 0,5x1 cát thường (cát chưa sàng)
Đá dăm cấp phối lớp trên (subase)
Đá dăn cấp phối lớp dưới (base)
(Theo nguồn: Công ty cổ phần vật liệu xây dựng Hà Nội)
Cát, đá, sỏi, xi măng, sắt, thép…đây là những mặt hàng bổ sung cho nhau
trong lĩnh vực xây dựng, đặc biệt là các công trình xây dựng nhà ở, cầu
đường…do vậy những biến động của những mặt hàng này thường tỷ lệ thuận
với nhau .
SV: An ThÞ T©m Líp : TCDN - K21
19
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Quá trình kinh doanh của công ty diễn ra như sau:
Quy trình nhập
Phòng kinh doanh dựa trên cơ sở bán hàng dự kiến và khối lượng vật
liệu tồn kho (cát) sẽ tiến hành lập kế hoạch mua hàng cho công ty. Phòng kinh
2.1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty
Trên cơ sở quyền hạn và chức năng của công ty, tổ chức bộ máy
quản lý và sản xuất kinh doanh của công ty như sau:
- Đại hội đồng cổ đông
- Hội đồng quản trị
- Ban kiểm soát
- Giám đốc công ty
- Các phó giám đốc công ty.
- Các phòng ban chuyên môn nghiệp vụ
- Các đơn vị trực thuộc.
Sơ đồ bộ máy tổ chức công ty cổ phần và vật liệu xây dựng Hà Nội
SV: An ThÞ T©m Líp : TCDN - K21
21
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Hình 2.1 Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của công ty
cổ phần vật liệu và xây dựng Hà Nội
(nguồn: Phòng hành chính)
SV: An ThÞ T©m Líp : TCDN - K21
P. Tài
chính kế
toán
P. tổ chức
hành
chính
Đại hội đồng cổ đông
Ban kiểm soát
Giám đốc
Hội đồng quản trị
PGĐ
P.kinh tế
tài chính và trong việc quản lý và điều hành của HĐQT.
- Giám Đốc
Là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty theo
đúng quy định của pháp luật, theo điều lệ của công ty.Chụi trách nhiệm trước
pháp luật và trước tổng công ty về hoạt động kinh doanh của công ty.
- Phó giám đốc
Do giám đốc bổ nhiệm và miễn nhiệm. Phó giám đốc được ủy quyền
điều hành một số lĩnh vực của công ty và chụi trách nhiệm về kết quả công
việc của mình trước pháp luật và trước giám đốc.
SV: An ThÞ T©m Líp : TCDN - K21
23
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Phó giám đốc có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc và cùng với giám
đốc điều hành quá trình kinh doanh của công ty.
- Phòng tổ chức hành chính
Gồm 1 trưởng phòng lãnh đạo chung, 1 phó phòng giúp việc và 3 nhân
viên. Chức năng của phòng là quản lý và giải quyết mọi vấn đề có liên quan
đến nhân sự
Ngoài ra phòng còn có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề về mặt hành
chính của các văn phòng công ty.
- Tài chính kế toán
Gồm 1 trưởng phòng và 4 nhân viên.
Trong đó, Kế toán trưởng kiêm trưởng phòng, 4 kế toán viên mỗi
người phụ trách một mảng.
Chức năng của phòng tài chính kế toán là tham mưu giúp việc cho giám
đốc công ty trong công tác quản lý tài chính kế toán của công ty, thực hiện
hạch toán kế toán doanh thu, chi phí, tiền lương, tính giá thành sản phẩm,
quản lý và theo dõi tình hình sử dụng vốn và tài sản của công ty. Thực hiện
đầy đủ công tác nghi chép sổ sách các nghiệp vụ phát sinh trong toàn công ty.
Kiểm tra xét duyệt báo cáo của các đơn vị phòng ban, tổng hợp số liệu để lập
máy bốc xếp hàng được nhanh và hạn chế hao hụt sản phẩm do máy không có
khả năng gom vét sản phẩm ở xà lan.
2.2. Thực trạng sử dụng VLĐ tại công ty
2.2.1. Nguồn vốn của công ty
Muốn biết được tình hình hoạt động của công ty đặc biệt là tình hình sử
dụng VLĐ thì trước hết ta đi xem xét nguồn vốn của công ty.
SV: An ThÞ T©m Líp : TCDN - K21
25