MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHNN: Ngân hàng Nhà nước
CBTD: Cán bộ tín dụng
PKH: Phòng khách hàng
LĐPKH: Lãnh đạo phòng khách hàng
CBQLRR: Cán bộ quản lý rủi ro
LĐPQLRR: Lãnh đạo phòng quản lý rủi ro
VNĐ: Việt Nam đồng
CBQLNCVĐ: Cán bộ quản lý nợ có vấn đề
LĐPQLNCVĐ: Lãnh đạo phòng quản lý nợ có vấn đề
PQLRR: Phòng quản lý rủi ro
HĐTD: Hợp đồng tín dụng
HĐBĐTV: Hợp đồng bảo đảm tiền vay
DPRR: Dự phòng rủi ro
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới thầy
giáo hướng dẫn … cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong
khoa Ngân hàng – Tài chính trường Đại học Kinh Tế Quốc
Dân – Hà Nội và toàn thể Ban lãnh đạo cũng như tập thể cán
bộ của ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương chi
nhánh Chương Dương đã tận tình hướng dẫn và tạo điều
kiện thuận lợi cho em hoàn thành chuyên đề này.
LỜI NÓI ĐẦU
Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động cơ bản nhất của ngân
hàng thương mại, thu nhập từ hoạt động này vẫn luôn chiếm tỷ trọng cao
trong tổng thu nhập của ngân hàng. Bên cạnh đó, hoạt động cho vay cũng góp
phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế qua việc cung cấp vốn cho doanh
bất động sản, chứng khoán, bảo hiểm,….
Trên phương diện những loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp thì :
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ
tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán –
và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh
doanh nào trong nền kinh tế” ( Theo Peter S.Rose trong cuốn Quản trị Ngân
hàng thương mại.)
Trên phương diện hoạt động chủ yếu của ngân hàng thì: “Ngân hàng là
loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác có liên quan.Theo tính chất và mục tiêu hoạt động,
các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển,
ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình
ngân hàng khác.” ( Theo khoản 2, điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng số
20/2004/QH11 – sửa đổi Luật các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 ). Trong
đó, tổ chức tín dụng là loại doanh nghiệp được thành lập theo quy định của
Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động
2
kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử
dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Sự đa dạng của các loại hình ngân hàng tùy thuộc vào sự phát triển của
nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng nhưng NHTM thường
chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân
hàng. Mặc dù vậy, khái niệm NHTM mới được qui định tại khoản 3 điều 4
Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 (có hiệu lực thi hành từ ngày
1/1/2011) theo đó : “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực
hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo
qui định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Cũng theo Luật này tại
khoản 12 điều 4 qui định :
“ Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một
hoặc một số các nghiệp vụ sau đây :
-Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN.
Trong đó, huy động vốn qua tài khoản tiền gửi là hình thức huy động vốn
mang tính đặc thù của NHTM – đây chính là điểm khác biệt giữa ngân hàng
và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Thông qua hoạt động này mà NHTM
có thể tập hợp được các khoản tiền nhàn rỗi, phân tán tạm thời chưa sử dụng
với các thời hạn hết sức khác nhau thành nguồn tiền lớn, chiếm tỷ trọng lớn
nhất trong nguồn vốn của NHTM để tài trợ cho nền kinh tế, hoặc cho các cá
nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng.
Một trong những nguồn vốn không kém phần quan trọng là nguồn vốn
hình thành từ việc phát hành các loại giấy tờ có giá ngắn hạn như kỳ phiếu,
chứng chỉ tiền gửi ; dài hạn như trái phiếu, cổ phiếu.Việc phát loại nào phụ
thuộc vào quy mô vốn cần huy động, thời gian huy động vốn, cơ cấu nợ và tài
sản của NHTM.
4
Các hoạt động huy động nguồn vốn trên đây hình thành nên tài sản nợ
của ngân hàng và ngân hàng phải có trách nhiệm chi trả đối với tất cả các
nguồn vốn huy động được theo yêu cầu của khách hàng. Quy mô và cơ cấu
nguồn vốn quyết định đến hoạt động của ngân hàng. Do đó quản lí nguồn vốn
phù hợp và sử dụng vốn có hiệu quả là một vấn đề mang tính chiến lược đối
với từng ngân hàng.
1.1.2.2. Hoạt động sử dụng vốn
Sau khi huy động được vốn, NHTM phải sử dụng thế nào để hiệu quả
hoá những nguồn tài sản này nghĩa là tìm cách để những khoản tiền đó được
đầu tư đúng nơi,đúng chỗ, có hiệu quả, an toàn, đem lại nhiều lợi nhuận cho
ngân hàng. Thông thường hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng tập trung vào
các hình thức sau:
• Hoạt động tín dụng
Hiện nay, mặc dù các dịch vụ của NHTM ngày càng phát triển nhưng
hoạt động cơ bản nhất vẫn là hoạt động tín dụng. Tín dụng ngân hàng là quan
hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong
ngân hàng, đồng thời khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đã huy động.
1.1.2.3. Các hoạt động khác
Nhằm mục đích phát triển toàn diện và kiếm thêm những khoản thu
nhập, NHTM còn tiến hành các hoạt động trung gian gồm rất nhiều loại dịch
vụ ngân hàng khác nhau để đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng.Qua các
dịch vụ này, NHTM làm tăng sự thoả mãn của khách hàng đối với 2 loại hoạt
động cơ bản là huy động vốn và sử dụng vốn. Các dịch vụ đó là :
-Dịch vụ thanh toán dưới các hình thức séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi,
thư tín dụng, thẻ thanh toán, ngân phiếu thanh toán.
6
-Dịch vụ thu hộ ngân hàng thay mặt khách hàng nhận tiền theo các
chứng khoán khác nhau như séc, kỳ phiếu, các chứng từ hàng hóa và chứng
khoán có giá.
-Dịch vụ phát hành chứng khoán các công ty cố phần, các doanh nghiệp
hay Nhà nước khi phát hành chứng khoán thường nhờ các NHTM làm trung
gian tiêu thụ các chứng khoán đó và được nhận thù lao theo tỷ lệ quy định từ
người phát hành.
-Dịch vụ tư vấn cho khách hàng các vấn đề tài chính.
-Dịch vụ ủy thác ngân hàng làm theo ủy thác của khách hàng như bảo
quản tài sản ( đá quí, chứng khoán,…), khách hàng phải trả lệ phí cho việc
bảo quản ; thực hiện các ủy nhiệm về chuyển quyền thừa kế tài sản : khách
hàng nhờ ngân hàng thực hiện di chúc sau khi họ qua đời.
-Ngoài ra còn có các dịch vụ như : dịch vụ quản lý ngân quỹ, dịch vụ
bảo hiểm, dịch vụ môi giới,….
Các hoạt động trong NHTM có mối liên hệ khăng khít tương hỗ lẫn
nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Có hoạt động huy động vốn thì mới có
hoạt động sử dụng vốn, sử dụng vốn có hiệu quả mới thu được nhiều lãi lại bổ
sung thêm nguồn vốn. Đồng thời các dịch vụ như: thanh toán, thu hộ, ủy thác,
…sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng tập trung được những khoản tiền ít rủi ro bổ
sung vào nguồn vốn. Chính vì vậy mà người quản trị ngân hàng phải biết bố
cấp trên cơ sở hoàn trả vô điều kiện. Hoạt động cho vay doanh nghiệp còn có
những đặc điểm sau :
-Đối tượng đi vay là các doanh nghiệp – Là một chủ thể kinh tế, tiến
hành các hoạt động kinh tế theo một kế hoạch nhất định nhằm tìm kiếm lợi
nhuận. Trong kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình, doanh nghiệp cần phải
đảm bảo nguồn vốn để chi trả cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt
8
là đảm bảo có đủ vốn cho các dự án. Đặc điểm riêng của khách hàng doanh
nghiệp là khoản vay nhằm đảm bảo các hoạt động, các dự án của doanh
nghiệp diễn ra một cách thuận lợi qua đó kiếm được một khoản lợi nhuận nhất
định. Khoản lợi nhuận này lại được dùng một phần để trả lãi cho ngân hàng
nên khi xem xét cho vay ngân hàng phải đánh giá khả năng thanh toán và khả
năng sinh lời của từng doanh nghiệp cụ thể. Bên cạnh đó, các loại hình doanh
nghiệp lại rất đa dạng với ban quản trị, hoạt động trong rất nhiều lãnh vực
khác nhau nên dễ xảy đến trường hợp ngân hàng đánh giá không chính xác về
khả năng doanh nghiệp.
-Mục đích vay của doanh nghiệp là nhằm phục vụ cho các hoạt động sản
xuất kinh doanh và đầu tư như mua hàng hóa dự trữ, xây dựng nhà máy, mua
sắm trang thiết bị, tài trợ cho các dự án,…Do đó hoạt động cho vay doanh
nghiệp phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh, kế hoạch sản xuất kinh doanh và
các dự án của doanh nghiệp.
-Đặc trưng về khoản vay: Các khoản cho vay đối với khách hàng doanh
nghiệp thường là các khoản có giá trị lớn, đối với cho dự án là các khoản có
giá trị rất lớn nhưng ngân hàng yêu cầu doanh nghiệp phải có lượng vốn với
một tỷ lệ nhất định tham gia vào dự án. Khoản vay có thể được giải ngân một
lần hoặc nhiều lần nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp sử dụng tiền vay đúng
mục đích, ngân hàng không cho rút vốn khi các nhu cầu chi tiêu liên quan
chưa phát sinh.
-Đặc trưng về chất lượng khoản vay: Chất lượng của các khoản vay phụ
thuộc vào quy trình thẩm định, phân tích của ngân hàng để từ đó đưa ra
đảm bảo nếu cần. Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ (khế ước
nhận nợ) khác nhau.
10
Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong
quá trình doanh nghiệp sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và
hiệu quả. Nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ thu nợ trước
hạn hoặc chuyển qua nợ quá hạn. Lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi tùy theo
thời điểm tính lãi.
Ưu điểm của cho vay từng lần là tương đối đơn giản và ngân hàng có thể
kiểm soát từng món vay tách biệt.
1.2.3.2. Cho vay theo hạn mức
Cho vay theo hạn mức là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thoả
thuận cấp cho doanh nghiệp hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính
cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính.
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu
cầu vốn và nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp. Trong kỳ, doanh nghiệp có thể
thực hiện vay – trả nhiều lần, song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín
dụng. Một số trường hợp ngân hàng quy định hạn mức cuối kỳ, theo đó dư nợ
trong kỳ có thể lớn hơn hạn mức. Tuy nhiên, đến cuối kỳ, doanh nghiệp phải
trả nợ để giảm dư nợ sao cho dư nợ cuối kỳ không được vượt quá hạn mức.
Mỗi lần vay doanh nghiệp cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp
các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc các dịch vụ và nêu yêu cầu vay.
Sau khi kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ cấp
tiền cho doanh nghiệp.
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những doanh nghiệp vay mượn
thường xuyên, vốn tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong nghiệp vụ này, ngân hàng không xác định trước kỳ hạn nợ và thời hạn
tín dụng. Khi doanh nghiệp có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo sự
chủ động quản lý ngân quỹ cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, do các lần vay
không tách biệt thành kỳ hạn nợ cụ thể khiến ngân hàng khó kiểm soát hiệu
thụ thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của
khoản vay không được quy định rõ ràng.
1.2.3.4. Cho vay trả góp
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép doanh
nghiệp trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Cho vay
trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài rợ
cho tài sản cố định hoặc hàng lâu bền. Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao
phù hợp với khả năng trả nợ (thường là khấu hao và thu nhập sau thuế của dự
án hoặc từ thu nhập hàng kỳ của người tiêu dùng).
Cho vay trả góp là hình thức tiềm ẩn rủi ro cao do doanh nghiệp thường
thế chấp bằng hàng hoá mua trả góp, vì vậy nên lãi suất cho vay trả góp
thường là lãi suất cao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng.
1.2.3.5. Cho vay theo dự án đầu tư
Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát
triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ, hình thức này áp dụng cho các trường hợp
vay vốn trung và dài hạn. Đây là khoản cho vay tài trợ cho việc đầu tư vào
những tài sản cố định dự tính sẽ mang lại thu nhập trong tương lai. Tuy chiếm
tỷ trọng lớn trong cơ cấu cho vay mang lại lợi nhuận lớn nhưng cũng có rất
nhiều rủi ro đối với ngân hàng như: quy mô vốn lớn, các dự án được cấp vốn
có thể bị hoãn lại, lãi suất thị trường có thể thay đổi ảnh hưởng tới việc thu
hồi vốn của người vay hoặc ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của dự án,…
Lượng vốn ban đầu để đầu tư cho dự án là rất lớn nên các khoản vay
thường được ngân hàng cung cấp cùng với một số công ty tham gia dự án và
các ngân hàng, tổ chức tài chính khác.
Các khoản cho vay dự án có thể được chấp nhận trên cơ sở bảo lãnh
theo đó người ngân hàng cho vay có thể đảm bảo vốn qua những tổ chức thực
13
hiện bảo lãnh nếu như dự án không trả được nợ đúng như kế hoạch đã định.
Trong một số trường hợp, các khoản vay này cũng có thể được cung cấp
không dựa trên cơ sở bảo lãnh, ngân hàng cho vay phải đối mặt với những rủi
đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ
thay thế cái lạc hậu. Phát triển là khuynh hướng của sự quá trình vận động của
sự vật.
Theo kinh tế học phát triển thì phát triển kinh tế thì phát triển không chỉ
đơn giản là sự gia tăng thuần túy về mặt lượng mà nó còn có một nội hàm
phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến đối về mặt chất của nền
kinh tế - xã hội.
Như vậy, phát triển hoạt động cho vay trong phạm vi nghiên cứu của đề
tài là sự tăng trưởng theo chiểu rộng cũng như theo chiều sâu của các khoản
vay. Theo chiều rộng là sự mở rộng về quy mô, khối lượng và số lượng sản
phẩm cho vay doanh nghiệp, theo chiếu sâu là hiệu quả tài chính, phản ánh
trình độ và chất lượng sử dụng các yếu tố của sản xuất kinh doanh nhằm đạt
được kết quả cao nhất. Đây là sự thống nhất lợi ích giữa doanh nghiệp, ngân
hàng và nền kinh tế quốc dân :
-Về phía doanh nghiệp: hoạt động cho vay của ngân hàng phải thỏa mãn
được ngày càng nhiều các yêu cầu hợp lý của doanh nghiệp về các khoản vay,
hình thức và loại hình cho vay để sử dụng vốn vay một cách hiệu quả.
- Về phía ngân hàng: hoạt động cho vay doanh nghiệp là việc tăng khối
lượng khoản vay; thu nợ đúng hạn, giảm thiểu tối đa rủi ro tín dụng, hoạt
động cho vay đạt được các tiêu chuẩn về hiệu qua đặt ra và phù hợp với mục
tiêu phát triển của ngân hàng.
-Về phía xã hội: là những khoản lợi ích tăng lên mà xã hội có được nhờ
15
sự phát triển của hoạt động cho vay của ngân hàng như giúp tăng trưởng và
phát triển kinh tế của các ngành cũng như nền kinh tế nói chung. Khoản cho
vay phải thúc đẩy lưu thông hàng hóa, góp phần giải quyết công ăn việc làm,
khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và
tập trung sản xuất. Phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp phải gắn liền
với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Tóm lại, phát triển hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp
mới đảm bảo được sự phát triển bền vững và hoạt động cho vay mới thực hiện
được các mục tiêu mà Nhà nước đã đề ra.
• Sự hài lòng của doanh nghiệp khi nhận dịch vụ cho vay của ngân hàng
Sự thỏa mãn thực sự của doanh nghiệp sẽ có khi ngân hàng có khả năng
luôn thu hút và giữ được khách hàng cũng như luôn tăng cường củng cố mối
quan hệ với doanh nghiệp. Điều này không đơn giản và không chỉ gói gọn
trong các chỉ số về sự thỏa mãn của khách hàng mà các ngân hàng thực sự cần
biết những thông tin về chất lượng khoản vay doanh nghiệp tiếp nhận. Những
thông tin này sẽ giúp ngân hàng điều chỉnh và tìm ra phương án cho vay thích
hợp đối với các khoản vay sau, qua đó ngân hàng nâng cao và tăng cường khả
năng cạnh tranh cũng như khả năng sinh lợi của mình.
Chỉ tiêu này dựa trên tiêu chí thái độ của doanh nghiệp đối với ngân
hàng, sự thỏa mãn về các dịch vụ được cung cấp, cụ thể như doanh nghiệp sẽ
ngày càng tăng cường mở rộng mối quan hệ và giữ vững sự trung thành, niềm
tin đối với ngân hàng.
• Sự tồn tại và phát triển của ngân hàng
Do hoạt động cho vay doanh nghiệp chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng
tài sản của ngân hàng nên nó phải mang lại đủ thu nhập để trang trải các chi
17
phí liên quan và có lãi đồng thời phải hạn chế tối thiểu rủi ro. Ngân hàng có
tồn tại và phát triển tốt thì mới chứng minh được chất lượng của khoản vay
doanh nghiệp là tốt.
• Hiệu quả từ việc sử dụng vốn vay của doanh nghiệp
Khi doanh nghiệp sử dụng vốn vay vào hoạt động sản xuất kinh doanh
đạt được những mục tiêu đề ra và thu được lợi nhuận thì hoạt động cho vay
của ngân hàng mới đạt được hiệu quả.
• Đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
Qua việc đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, tăng kim ngạch xuất nhập khẩu,
tạo và duy trì việc làm cho người lao động,…khoản vay của ngân hàng mới
góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.
Hai chỉ tiêu trên cho phép ngân hàng đánh giá việc mở rộng quy mô và
so sánh số lượng doanh nghiệp giữa năm nay và năm trước đó.
Chỉ tiêu số lượt doanh nghiệp: là số lần doanh nghiệp đến giao dịch
trong vòng một năm. Trong hoạt động, cho vay doanh nghiệp số lượt doanh
nghiệp thể hiện số lần doanh nghiệp thực hiện các khoản vay. Khi số lượt
doanh nghiệp tăng lên thể thiện hoạt động cho vay doanh nghiệp của ngân
hàng được mở rộng, đồng thời cũng cho biết sự tin tưởng của doanh nghiệp
đối với ngân hàng.
Chỉ tiêu phản ánh cơ cấu doanh nghiệp vay
Số lượng doanh nghiệp vay ngân hàng x100
Tỷ trọng doanh nghiệp vay =
ngân hàng
Tổng số khách hàng
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ khách hàng là doanh nghiệp trong tổng số
khách hàng có quan hệ cho vay với ngân hàng. Nếu chỉ tiêu này tăng phản
ánh số lượng khách hàng là doanh nghiệp được ngân hàng cho vay vốn trong
tổng số khách hàng có quan hệ cho vay với ngân hàng tăng. Ngược lại, nếu
chỉ số này giảm sẽ phản ánh việc ngân hàng thu hẹp cho vay đối với doanh
nghiệp hoặc mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp ít hơn các thành phần
kinh tế khác.
Chỉ tiêu phản ánh doanh số cho vay doanh nghiệp
Doanh số cho vay doanh nghiệp trong kỳ
19
Là tổng số tiền ngân hàng cho doanh nghiệp vay trong kỳ, tính cho ngày,
tháng, quý, năm. Doanh số cho vay phản ánh dung lượng hoạt động cho vay
trong kì. Chỉ tiêu này nói nên khả năng cung ứng của ngân hàng cho các
doanh nghiệp và nền kình tế. Đây là chỉ tiêu phản ánh chính xác, tuyệt đối về
hoạt động cho vay trong một thời gian dài, thấy được khả năng cho vay trong
các năm. Nếu trong năm doanh số cho vay của ngân hàng lớn, đạt tỷ lệ cao và
tăng so với năm trước thì điều đó nói lên hoạt động cho vay doanh nghiệp của
Còn nếu tỷ lệ này giảm mà vẫn dương có nghĩa là ngân hàng đã hạn chế cho
vay đối với doanh nghiệp hơn trước.
Chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng về tỷ trọng cho vay doanh nghiệp
Tổng doanh số cho vay doanh nghiệp x100%
Tỷ trọng cho vay =
doanh nghiệp Tổng doanh số của hoạt động cho vay
Chỉ tiêu này cho biết doanh số của hoạt động cho vay doanh nghiệp
chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng doanh số của hoạt động cho vay của ngân
hàng. Nếu tỷ lệ này tăng chứng tỏ Ngân hàng mở rộng doanh số cho vay đối
với doanh nghiệp. Nhưng nếu tỷ lệ này giảm chứng tỏ ngân hàng thu hẹp cơ
cấu cho vay đối với doanh nghiệp. Khi tỷ trọng của cho vay doanh nghiệp
tăng lên qua các năm chứng tỏ hoạt động cho vay doanh nghiệp đã được mở
rộng.
Chỉ tiêu phản ánh dư nợ cho vay doanh nghiệp
Dư nợ cho vay doanh nghiệp
Dư nợ tín dụng phản ánh sổ tiền mà khách hàng đang nợ ngân hàng tại
một thời điểm nên chỉ tiêu này là một con số thời điểm. Căn cứ vào mức dư
nợ và tỷ lệ dư nợ có thể cho ta biết rằng ngân hàng có thực hiện mở rộng tín
dụng hay không. Bởi khi ngân hàng thực hiện chính sách mở rộng cho vay thì
dư nợ cho vay thường ở mức cao. Tuy nhiên để có thể đánh giá chính xác việc
mở rộng cho vay tại ngân hàng phải kết hợp giữa chỉ tiêu dư nợ cho vay với
chỉ tiêu doanh số cho vay của ngân hàng.
21