Thực trạng hoạt động chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng công thương Chi nhánh Chương Dương - Pdf 88

LỜI MỞ ĐẦU
Cả thế giới vẫn đang trong giai đoạn khắc phục những tổn thất nặng nề mà
cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa diễn ra năm 2008 – 2009, khởi nguồn từ sự
sụp đổ của những định chế tài chính lớn trên thế giới, trong đó có những đại gia
ngành ngân hàng.
Có thể nói, ngân hàng thương mại ( NHTM ) là loại hình doanh nghiệp đặc
biệt và bản thân các NHTM cũng giữ vai trò vô cùng quan trọng trong thị trường tài
chính nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Trong đó, quan trọng nhất và cũng
là hoạt động chiếm thị phần lớn nhất của ngân hàng đó là hoạt động tín dụng. Nguyên
nhân dẫn đến sự sụp đổ của các đại gia ngành ngân hàng vừa qua đều xuất phát từ
những khỏan nợ xấu, đó là hồi chuông báo động đến toàn bộ hệ thống NHTM trên
toàn thế giới về vấn đề an ninh tín dụng, trong đó có các NHTM Việt Nam.
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng rủi ro tín dụng chiếm tới 70 % rủi ro trong
hoạt động của ngân hàng. Thực tế hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam trong
thời gian qua là một minh chứng cho nhận định này. Bên cạnh những nỗ lực tạo dựng
một cơ cấu tín dụng lành mạnh như quy trình tín dụng được thực hiện gần với chuẩn
mực thế giới, giảm dần tỷ trọng cho vay đối với doanh nghiệp Nhà nước, tăng dần tỷ
trọng cho vay đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh…thì vẫn tồn tại nhiều vấn
đề bất cập như hiệu quả tín dụng chưa cao, chất lượng tín dụng chưa tốt, tỷ lệ nợ quá
hạn còn cao so với khu vực. Vì vậy, vấn đề nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín
dụng tại các NHTM Việt Nam đang là vấn đề bức xúc cả trên phương diện lý thuyết
và thực tiễn.
Hiện nay, các NHTM Việt Nam hầu hết đang sử dụng “phương pháp dựa trên
đánh gía nội bộ” theo Basel II.Đây là nòng cốt của biện pháp quản trị rủi ro tín dụng.
Đối với khách hàng doanh nghiệp thì đây chính là phương pháp chấm điểm tín dụng
và xếp hạng doanh nghiệp.
Trong quá trình thực tập tại Ngân hàng Công Thương, Chi nhánh Chương
Dương, tôi đã có cơ hội nghiên cứu và tìm hiểu công tác chấm điểm tín dụng và xếp
hạng doanh nghiệp của ngân hàng. Trên cơ sở những gì đã tìm hiểu được tôi chọn đề
tài : “Hòan thiện mô hình chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp tại Ngân
hàng Công Thương Chi nhánh Chương Dương” làm đề tài chuyên đề tốt nghiệp với

thuê tài chính và các hình thức khác theo qui định của Ngân hàng nhà nước”
1.1.2. Phân loại tín dụng ngân hàng
1.1.2.1. Theo thời hạn
Phân chia tín dụng theo thời hạn rất có ý nghĩa với ngân hàng vì nó liên
quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lời của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả
của khách hàng.
- Tín dụng ngắn hạn
Là loại cho vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống tài trợ cho tài sản lưu động
hoặc vốn ngắn hạn.
- Tín dụng trung hạn
Là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm tài trợ cho tài sản cố
định.
- Tín dụng dài hạn
Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm tài trợ cho các công trình xây dựng.
1.1.2.2. Theo hình thức tài trợ
- Chiết khấu thương phiếu
- Cho vay : gồm cho vay thấu chi, trực tiếp từng lần, theo hạn mức, luân
chuyển, trả góp, cho vay gián tiếp.
3
- Cho thuê
- Bảo lãnh : gồm bảo lãnh thực hiện hợp đồng, đảm bảo hoàn trả tiền ứng
trước, hoàn trả vốn vay và bảo lãnh đảm bảo thanh toán.
1.1.2.3. Theo tài sản đảm bảo
- Tín dụng không có tài sản đảm bảo : thường cấp cho khách hàng có uy tín,
làm ăn lâu năm…
- Tín dụng có tài sản đảm bảo: thế chấp, cầm cố…
1.1.2.4. Theo rủi ro
Gồm tín dụng có độ an toàn cao, khá, trung bình và thấp. Cách phân loại
này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại khoản mục tín dụng, dự trữ cho các
khoản tín dụng.

cao hơn.
Một nền kinh tế bị khủng hoảng, tỷ lệ lạm phát cao, sản xuất bị đình trệ, đầu
tư bị giảm sút sẽ có tác động xấu đến khả năng thu hồi vốn của ngân hàng.
Không chỉ giới hạn trong nền kinh tế của một nước mà các biến động về
kinh tế thế giới đều có tác động xấu đến hoạt động tín dụng của ngân hàng, nhất là
trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay.
- Môi trường pháp lý
Đây là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới khả năng phát sinh rủi ro tín
dụng của ngân hàng. Hệ thống pháp luật ban hành không đồng bộ, chưa đáp ứng
được nhu cầu sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường, ý thức tuân thủ pháp luật
của chủ thể tham gia kinh doanh và các ngành có liên quan còn yếu kém. Chính
những nhân tố này đã không đảm bảo một môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các
doanh nghiệp, không tạo ra tính an toàn cho hoạt động kinh doanh, là nguyên nhân
trực tiếp dẫn đến rủi ro trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, gây nên nợ
quá hạn cho ngân hàng. Một môi trường pháp lý không hoàn chỉnh vừa gây khó khăn,
vừa tạo khe hở cho những kẻ xấu lợi dụng gây rủi ro cho doanh nghiệp và ngân hàng.
- Môi trường xã hội
Là một nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng. Tín dụng là sự vay mượn dựa
trên cơ sở lòng tin, do đó đạo đức xã hội có liên quan tới rủi ro tín dụng trong trường
hợp lợi dụng lòng tin để lừa đảo. Trình độ dân trí kém hiểu biết hay thay đổi tâm lý
xã hội cũng có khả năng hạn chế trả nợ của người vay.
- Nguyên nhân bất khả kháng
Ngoài những nguyên nhân trên, rủi ro tín dụng còn chịu tác động của các
nhân tố khác như: thiên tai, chiến tranh hay những thay đổi ở tầm vĩ mô như thay đổi
chính phủ, thay đổi chính sách kinh tế, hàng rào thuế quan…những nhân tố này vượt
quá tầm kiểm soát của cả người vay và cho vay.
5
 Nguyên nhân từ phía ngân hàng
- Sự yếu kém về trình độ nghiệp vụ, tư cách đạo đức của cán bộ tín dụng
trong ngân hàng

vốn của ngân hàng:
6
Bằng cách cung cấp thông tin không chính xác, mua chuộc cán bộ tín dụng để
vay được nhiều. Thậm chí có những khách hàng kinh doanh có lãi song vẫn không
chịu trả nợ ngân hàng đúng hạn, chây ì với kỳ vọng được quỵt nợ hoặc có thể sử
dụng vốn vay càng lâu càng tốt. Đây là trường hợp tồi tệ nhất trong các nguyên nhân
chủ quan dẫn đến rủi ro tín dụng, nó biểu hiện một hành động có chủ ý xấu của người
vay đã được tính toán, chuẩn bị trước nhằm chiếm đoạt tiền vay, loại nguyên nhân
này được coi là rủi ro về tư cách đạo đức của người vay.
1.1.3.3. Các công cụ quản lý rủi ro tín dụng ngân hàng:
Đứng trước quyết định cho vay cán bộ tín dụng phải cân nhắc mâu thuẫn
giữa sinh lời và rủi ro. Vì vậy, quản lý rủi ro tín dụng được coi là nội dung quản lý
quan trọng của ngân hàng thương mại. Dưới đây là một số công cụ để quản lý rủi ro
tín dụng của ngân hàng thương mại:
 Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là các bước mà cán bộ tín dụng, các phòng ban có liên
quan trong ngân hàng phải thực hiện khi tiến hành tài trợ cho khách hàng. Một quy
trình tín dụng hợp lý, thống nhất sẽ giúp cán bộ tín dụng quản lý khoản vay một cách
chặt chẽ, tránh sự chủ quan, duy ý chí. Về cơ bản, một quy trình tín dụng được chia
làm 3 giai đoạn: trước, trong và sau khi cho vay:
- Giai đoạn trước khi cho vay: thu thập thông tin và xử lý các thông tin có
liên quan đến khách hàng để đánh giá tổng thể về khách hàng, phương án
và khả năng trả nợ của khách hàng.
- Giai đoạn trong khi cho vay: trong giai đoạn này CBTD tiến hành kiểm
soát khách hàng xem khách hàng có sử dụng vốn đúng mục đích không,
quá trình sản xuất kinh doanh có bất lợi gì không, các khoản lãi có được
trả đúng hạn không…
- Giai đoạn sau khi cho vay: nội dung cần làm trong giai đoạn này là thu nợ
hoặc đưa ra các phán quyết tín dụng mới. Quan hệ tín dụng kết thúc khi
ngân hàng thu đủ gốc và lãi. Các khoản tín dụng được hoàn trả đầy đủ và

+ Conditions: các điều kiện
Cán bộ tín dụng phải đánh giá được những yếu tố ảnh hưởng đến khoản cho
vay như : xu hướng công việc, ngành nghề kinh doanh, điều kiện kinh tế …
+ Control: kiểm soát
Tập trung vào các vấn đề: thay đổi trong luật pháp, quy chế…
- Mô hình định lượng
Để thực hiện quản trị rủi ro tín dụng, Hiệp ước Basel II cho phép các ngân
hàng lựa chọn giữa “ Phương pháp dựa trên đánh gía tiêu chuẩn” và “ Phương pháp
dựa trên đánh giá nội bộ”. Đến nay, hầu hết các ngân hàng đều đang xây dựng
phương pháp đánh giá nội bộ, đây chính là nòng cốt của quản trị rủi ro tín dụng.
8
Phương pháp đánh giá nội bộ hay còn gọi là xếp loại nội bộ, đối với khách hàng
doanh nghiệp thì đây chính là phương pháp xếp hạng tín dụng.
1.2. Mô hình chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng doanh
nghiệp tại NHTM
1.2.1. Khái niệm chấm điểm tín dụng
Ngay từ năm 1909, Công ty John Moodys của Mỹ đã bắt đầu công việc xếp
hạng các trái phiếu đường sắt của Mỹ. Cho đến ngày nay, Moodys vẫn là một tổ chức
xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới. Không chỉ có Moodys, trên thế giới đã ra đời
nhiều tổ chức xếp hạng nổi tiếng khác như Standard & Poors, Fitch’s…Cho đến năm
1960 thì xếp hạng tín nhiệm đã trở thành một hoạt động phổ biến ở các nước phát
triển. Tuy nhiên, ở Việt Nam hoạt động này vẫn còn khá mới mẻ.
Xếp hạng doanh nghiệp là đánh giá một cách có hệ thống khả năng trả nợ
của khách hàng trong tương lai dựa vào tình hình tài chính của họ trong quá khứ và
hiện tại, tính khả thi của dự án, uy tín trong quan hệ tín dụng, môi trường kinh
doanh. Hay nói cách khác xếp hạng doanh nghiệp chính là xếp hạng mức độ tín
nhiệm của doanh nghiệp.
Tín nhiệm doanh nghiệp là ý kiến về khả năng của doanh nghiệp trong việc
thực hiện các nghĩa vụ tài chính được đưa ra bởi một tổ chức định mức tín nhiệm. Ý
kiến này tập trung vào việc đánh giá khả năng và mong muốn của doanh nghiệp trong

dụng.
Trong quy trình chấm điểm tín dụng, CBCĐTD sử dụng các bảng tiêu
chuẩn đánh giá các tiêu chí tín dụng theo nguyên tắc:
- Đối với mỗi tiêu chí trên bảng đánh giá các tiêu chí, chỉ số thực tế gần với
trị số nào nhất thì áp dụng cho loại xếp hạng đó, nếu nằm giữa hai trị số thì
ưu tiên nghiêng về phía loại tốt nhất.
- Trong trường hợp khách hàng có bảo lãnh toàn phần ( lớn hơn hoặc bằng
100% giá trị khoản tín dụng ) của một số tổ chức có năng lực tài chính
mạnh hơn, thì khách hàng có thể được xếp hạng tín dụng tương đương
hạng tín dụng của bên bảo lãnh ( nếu bên bảo lãnh cũng được ngân hàng
cho vay chấm điểm ).
Quy trình chấm điểm của bên bảo lãnh cũng giống như quy trình áp dụng
cho khách hàng. Trường hợp bảo lãnh một phần thì chỉ tiến hành chấm điểm tín dụng
và xếp hạng cho chính khách hàng.
CBCĐTD sử dụng các bảng tiêu chuẩn đánh giá các tiêu chí chấm điểm tín
dụng theo nguyên tắc đối với mỗi tiêu chí trên bảng tiêu chuẩn và trường hợp khách
hàng có bảo lãnh.
10
1.2.4. Quy trình chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng doanh
nghiệp
1.2.4.1. Thu thập thông tin
Có thể nói đây là bước quan trọng nhất của công tác chấm điểm tín dụng và
xếp hạng khách hàng doanh nghiệp. Thông tin về doanh nghiệp sẽ quyết định tất cả
các bước tiếp theo.
Thu thập thông tin được càng nhiều càng tốt, thông tin phải đảm bảo độ
trung thực, chính xác. Để thực hiện được bước này một cách chính xác thì đòi hỏi sự
thận trọng của cán bộ tín dụng, sự phán đoán, phân tích hợp lý dựa trên những thông
tin khách hàng cung cấp, cũng như sự trung thực của khách hàng. Các nguồn cung
cấp thông tin chủ yếu bao gồm:
- Hồ sơ do khách hàng cung cấp: giấy tờ pháp lý, các báo cáo tài chính và các

ban lãnh đạo, công nhân, xem xét tài sản và thậm chí là tiếp xúc với khách hàng của
doanh nghiệp đó một cách đột xuất, hoặc có báo trước.
Mức độ tin cậy của nguồn thông tin này rất cao tuy nhiên còn phụ thuộc vào
trình độ và ý thức đạo đức của CBCĐTD.
- Thông tin từ ngân hàng nhà nước
Trung tâm thông tin tín dụng thuộc NHNN ra đời xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi
thực tế hoạt động ngân hàng. Trung tâm thông tin tín dụng cung cấp những thông tin
thu thập được từ các doanh nghiệp, đồng thời tiến hành phân tích xếp hạng doanh
nghiệp.
Các NHTM có thể sử dụng nguồn thông tin từ trung tâm này để bổ sung thêm
thông tin về khách hàng bằng cách: CBTD với mật mã được cung cấp vào mạng CIC
của NHNN đăng ký xin thông tin về doanh nghiệp mà mình muốn có và sẽ nhận
được thông tin sau 3 ngày làm việc.
- Thông tin từ bạn hàng và đối thủ cạnh tranh
Quan hệ thương mại với bạn hàng, vị thế của doanh nghiệp có thể đưa đến
những thông tin vô cùng hữu ích. Thông tin qua các bạn hàng của khách hàng giúp
ngân hàng đánh giá được tình hình sản xuất kinh doanh cũng như đạo đức tín dụng
của doanh nghiệp.
Vị thế của doanh nghiệp cho thấy doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao
hay thấp, chính sách điều hành quản lý của doanh nghiệp, dự đoán tương lai của
doanh nghiệp.
- Ngoài ra ngân hàng có thể thu thập thông tin từ báo chí, các phương tiện
thông tin đại chúng khác, báo cáo nghiên cứu thị trường của các tổ chức
chuyên nghiệp, các tổ chức tín dụng khác mà khách hàng có quan hệ…
1.2.4.2. Xác định ngành nghề lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
12
Do đặc trưng của mỗi ngành nghề khác nhau về chu kỳ kinh doanh, về triển
vọng tăng trưởng, về mức vốn đầu tư, cơ cấu chi phí, khả năng sinh lời, khả năng
cạnh tranh, sản phẩm thay thế…nên việc xây dựng hệ thống phân loại ngành nghề có

hạn và tài sản nợ ngắn hạn để xem xét sự an toàn của việc tài trợ cho nợ ngắn hạn.
13
Hệ số này giúp kiểm tra trạng thái vốn lưu động và tính thanh khoản của
doanh nghiệp, cho biết doanh nghiệp có đủ tài sản ngắn hạn để đáp ứng nghĩa vụ nợ
ngắn hạn hay không.
- Khả năng thanh toán nhanh
Công thức:
Khả năng thanh toán nhanh = ( Tài sản lưu động – Hàng tồn kho ) / Nợ ngắn
hạn
Trong chỉ tiêu Khả năng thanh toán ngắn hạn, tài sản lưu động có bao gồm cả
hàng tồn kho, đây là một khoản mục rất khó chuyển đổi thành tiền để đảm bảo khả
năng thanh toán nợ tức thời ( khả năng thanh khỏan thấp ), vì vậy để khắc phục
nhược điểm này ta sử dụng Hệ số Khả năng thanh tóan nhanh.
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh tóan các khoản nợ ngắn hạn của doanh
nghiệp bằng tài sản lưu động nhưng không phụ thuộc vào việc bán hàng tồn kho.
Chỉ tiêu này càng cao thì mức độ rủi ro về thanh tóan của doanh nghiệp càng
thấp.
- Vòng quay hàng tồn kho
Công thức
Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán / Hàng tồn kho bình quân
Chỉ tiêu này thể hiện sự luân chuyển hàng tồn kho tại doanh nghiệp, phần nào
phản ánh tốc độ tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp.
- Kỳ thu tiền bình quân
Công thức
Kỳ thu tiền bình quân = Các khỏan phải thu bình quân / ( Doanh thu thuần /
365 )
Trong đó:
Các khỏan phải thu là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ giá trị của các khoản phải thu
của doanh nghiệp.
Doanh thu thuần là doanh thu từ bán hàng hóa, thành phẩm, cung cấp dịch vụ

tiêu này để so sánh với tỷ lệ lãi trung bình trên thị trường để có quyết định đầu tư
đúng đắn hiệu quả. Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ lợi ích đem lại cho chủ sở hữu của
doanh nghiệp kém.
Với mỗi ngành nghề sản xuất kinh doanh khác nhau thì mức độ quan trọng
của từng chỉ tiêu tài chính là khác nhau, vì vậy sau khi chấm điểm cho các chỉ tiêu tài
chính này, ngân hàng sẽ căn cứ vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà gắn trọng số cho
từng chỉ tiêu là khác nhau sao cho phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực.
1.2.4.5. Chấm điểm các chỉ số phi tài chính
Nếu đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp chỉ dựa trên các chỉ tiêu tài
chính thì chưa thể đầy đủ, ngân hàng còn đánh giá dựa trên các chỉ tiêu phi tài chính.
Chỉ tiêu phi tài chính là các chỉ tiêu định tính, khó có thể chuyển thành định lượng.
15
Các chỉ tiêu phi tài chính bao gồm:
Chấm điểm theo uy tín giao dịch với ngân hàng
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, chữ “tín” là vô cùng quan trọng.
Một ngân hàng có chữ tín thì khách hàng sẽ yên tâm gửi tiền, và với ngân hàng cũng
vậy, một khách hàng biết giữ chữ tín thì ngân hàng mới cho vay.
Uy tín trong quan hệ tín dụng là một tiêu chí rất quan trọng và được đánh giá
thông qua một số chỉ tiêu như:
- Lịch sử trả nợ của khách hàng.
- Số lần cơ cấu lại nợ.
- Tỷ trọng nợ cơ cấu lại trên tổng dư nợ.
- Tình hình nợ quá hạn của dư nợ hiện tại.
- Lịch sử quan hệ các cam kết ngoại bảng ( thư tín dụng, bảo lãnh, các cam kết
thanh toán khác…).
- Tình hình cung cấp thông tin của khách hàng theo yêu cầu của ngân hàng.
- Tỷ trọng số dư tiền gửi bình quân trên tổng dư nợ bình quân của doanh
nghiệp tại ngân hàng.
- Tỷ trọng doanh số chuyển qua ngân hàng trong tổng doanh thu so với tỷ
trọng tài trợ vốn của ngân hàng trong tổng số vốn được tài trợ của doanh nghiệp.

sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp trình ngân hàng vay vốn. Một phương án kinh
doanh cụ thể rõ ràng với các kế hoạch tài chính thận trọng hợp lý thì sẽ được ngân
hàng đánh giá cao.
Năng lực quản lý còn được thể hiện qua công tác kiểm soát nội bộ được thiết
lập một cách chính thống, ghi chép và kiểm tra thường xuyên làm cơ sở để những
chính sách của ban lãnh đạo thực hiện quản lý đúng hướng và kịp thời sửa chữa
những vấn đề bất hợp lý. Có như vậy doanh nghiệp mới hoạt động có hiệu quả, đảm
bảo khả năng trả nợ ngân hàng.
 Chấm điểm theo tiêu chí lưu chuyển tiền tệ
Nếu chỉ đánh giá báo cáo tài chính của doanh nghiệp dựa trên bảng cân đối kế
toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thì chưa đủ. Vì giá trị trên báo cáo kết
quả hoạt động kinh doanh là doanh thu và chi phí nhưng thực chất dòng tiền của
doanh nghiệp cần phải đánh giá thông qua thu và chi tức là đánh gía trên báo cáo lưu
chuyển tiền tệ.
Để biết được chính xác khả năng trả nợ của doanh nghiệp, CBCĐTD cần phải
xem xét nguồn trả nợ chính của doanh nghiệp. Nguồn này thông thường là từ lợi
nhuận hay chính xác hơn là từ dòng tiền thuần mỗi năm của doanh nghiệp đó.
Dòng tiền thuần là chênh lệch tạo ra bởi dòng tiền ra và dòng tiền vào. Nếu
dòng tiền vào lớn hơn dòng tiền ra thì doanh nghiệp mới có khả năng trả nợ cho ngân
hàng.
17
Bản thân lợi nhuận trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh nếu chỉ là lợi
nhuận trên giấy tờ mà thực chất là các khoản phải thu khó đòi thì doanh nghiệp dù có
lợi nhuận cũng không có khả năng trả nợ ngân hàng khi đến hạn, vì vậy CBCĐTD
cần đánh giá thông qua dòng tiền thuần thực tế phát sinh.
Một số chỉ tiêu để chấm điểm tiêu chí lưu chuyển tiền tệ bao gồm:
- Hệ số khả năng trả lãi = LNTT và chi phí trả lãi vay / Chi phí trả lãi vay
- Hệ số khả năng trả nợ gốc = Lưu chuyển tiền tệ thuần từ hoạt động kinh
doanh / ( Tiền trả nợ gốc vay + tiền trả nợ thuê tài chính )
- Tiền và các khoản tương đương tiền / VCSH

Về vấn đề đối thủ cạnh tranh: các doanh nghiệp độc quyền có rất nhiều thuận
lợi, được Nhà Nước hỗ trợ và ngân hàng ưu tiên cho vay vốn. Với những doanh
nghiệp không độc quyền thì doanh nghiệp nào có ít đối thủ cạnh tranh hơn sẽ được
ưu tiên hơn.
 Chấm điểm theo tiêu chí các đặc điểm hoạt động khác
Ngân hàng chấm điểm các tiêu chí hoạt động khác dựa trên một số chỉ tiêu
như:
- Đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh theo ngành, thị trường, vị trí địa
lý…
- Sự phụ thuộc vào nhà cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào
- Sự phụ thuộc vào số lượng người tiêu dùng ( đầu ra )
- Tốc độ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận.
- Mức độ bảo hiểm tài sản…
1.2.4.6. Tổng hợp điểm và xếp hạng doanh nghiệp
Ngân hàng sẽ tổng hợp điểm cho doanh nghiệp dựa vào các bảng tiêu chuẩn
chấm điểm của các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính có gắn trọng số cho từng chỉ
tiêu.
Tùy theo quan điểm chấm điểm của mỗi ngân hàng, tùy vào loại hình sở hữu
của doanh nghiệp và báo cáo tài chính có được kiểm toán hay không mà trọng số cho
từng chỉ tiêu là khác nhau ở mỗi ngân hàng.
Sau khi tổng hợp điểm xong, ngân hàng sẽ căn cứ vào điểm của doanh nghiệp
để xếp hạng như sau:
XẾP HẠNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP
HẠNG SỐ ĐIỂM ĐẠT ĐƯỢC
AA+ 92.4 – 100
AA 84.8 – 92.3
AA- 77.2 – 84.7
BB+ 69.6 – 77.1
BB 62 – 69.5
BB- 54.4 – 61.9

cho việc đánh giá xếp loại. Ngân hàng nên xây dựng phần mềm chấm điểm tín dụng
phù hợp với từng loại ngân hàng.
Xử lý thông tin không chính xác sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ các bước chấm
điểm và sẽ cho kết quả xếp hạng không chính xác vì vậy hiện đại hóa công nghệ
ngân hàng là yêu cầu thiết yếu hiện nay.
20
1.3.2. Nhóm nhân tố từ bên ngoài
1.3.2.1. Điều kiện về nguồn thông tin
Thông tin đầu vào là yếu tố quan trọng, quyết định đến tính chính xác của kết
quả chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp. Vì vậy, thông tin sử dụng để
chấm điểm phải chính xác và trung thực. Muốn vậy, khi thu thập thông tin phải sàng
lọc và kiểm tra kỹ trước khi sử dụng.
Chất lượng thông tin phụ thuộc vào nguồn thu thập thông tin và số lượng
thông tin thu thập được. Thông tin thu thập từ chính khách hàng có độ tin cậy thấp vì
khi khách hàng muôn vay vốn thì thường có xu hướng cung cấp thông tin tốt cho
ngân hàng, che dấu điểm yếu của mình. Thông tin thu thập từ điều tra trực tiếp thì
phụ thuộc vào đạo đức của CBTD.
Số lượng thông tin thu thập được càng nhiều thì việc đánh giá càng có độ tin
cậy cao và ngược lại.
1.3.2.2. Các vấn đề về cơ chế, thủ tục, chính sách
Để áp dụng được phương pháp chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp
ngân hàng cần phải xây dựng hệ thống chấm điểm tín dụng: các bước của quy trình
chấm điểm tín dụng, hệ thống các chỉ tiêu dùng để chấm điểm và cách cho điểm các
chỉ tiêu đó đều phải phù hợp với thực tiễn và những quy định do Nhà Nước ban hành.
Một hệ thống cơ chế chính sách thông suốt, đồng bộ sẽ giúp thực hiện công tác chấm
điểm tín dụng được áp dụng rỗng rãi và đồng bộ.
Chương 2: Thực trạng hoạt động chấm điểm tín dụng và xếp hạng
khách hàng doanh nghiệp tại NHCT chi nhánh Chương Dương
2.1. Giới thiệu về NHCT Chi nhánh Chương Dương
Ngân hàng công thương Việt Nam ( tên tiếng Anh là Vietinbank : Vietnam

NHCTVN. Từ tháng 4 năm 2008, Vietinbank sử dụng logo mới mang biểu tượng
hình trái đất bao trùm đồng tiền cổ với hai màu đặc trưng là xanh dương và đỏ.
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển NHCT Chi nhánh Chương
Dương
Tháng 8 năm 1988, theo quyết định số 53 – HĐBT, Ngân hàng nhà nước
huyện Gia Lâm tách thành Ngân hàng Công thương Chương Dương và Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Trâu Quỳ.
Ngày 1/4/1993, NHCT Chương Dương chuyển thành chi nhánh trực thuộc
Ngân hàng Công Thương Việt Nam cùng với 5 chi nhánh khác của NHCT thuộc các
khu vực Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, khu vực I Hai Bà Trưng và khu vực II Hai
Bà Trưng.
NHCT chi nhánh Chương Dương là đơn vị hạch toán phụ thuộc, có con dấu
và bảng tổng kết tài sản riêng, hách toán kế toán và quản lý tài chính theo quy định
22
chung của Ngân hàng nhà nước ( NHNN ) và pháp luật. Chi nhánh có quyền tự chủ
kinh doanh và ký kết các hợp đồng kinh tế, tổ chức nhân sự theo phân cấp ủy quyền
của NHCTVN.
Để mở rộng mạng lưới và tăng khả năng cạnh tranh, tháng 6 năm 1993 NHCT
Chương Dương thành lập thêm phòng kiểm soát và phòng giao dịch Yên Viên. Tháng
1 năm 1995, chi nhánh thành lập thêm phòng kinh doanh ngoại tệ và phòng giao dịch
Đông Anh. Đến tháng 1 năm 1997, phòng giao dịch Đông Anh được nâng cấp thành
chi nhánh trực thuộc NHCTVN. Tháng 2 năm 2002, phòng giao dịch Yên Viên và
phòng giao dịch Đức Giang cũng được nâng thành 2 chi nhánh trực thuộc NHCT
Chương Dương và đến tháng 4 năm 2003 thì trực thuộc NHCTVN.
Từ một chi nhánh ngân hàng có quy mô nhỏ, nguồn vốn huy động khi mới
thành lập chỉ có 13 tỷ đồng, tính đến ngày 31/12/2009 đã lên tới 6863 tỷ đồng, tổng
dư nợ cho vay ngày mới thành lập là 5,7 tỷ đồng tính đến ngày 31/12/2009 đã lên tới
4265 tỷ đồng. Trong những năm đầu hoạt động chủ yếu của chi nhánh là cho vay
ngắn hạn đối với DNNN, nay hoạt động của ngân hàng phát triển rất đa dạng bao
gồm: huy động vốn tiền gửi từ các tổ chức kinh tế, tiết kiệm của dân cư, phát hành kỳ

cường công tác kiểm soát nội bộ…chi nhánh đã đảm bảo an toàn trong mọi mặt hoạt
động; hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu do NHCTVN giao.
Năm 2008, nền kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn và biến động hết sức
phức tạp: những tháng đầu năm lạm phát tăng cao buộc Chính phủ đã phải thực hiện
các biện pháp kiềm chế lạm phát, nhất là thắt chặt tiền tệ và cắt giảm đầu tư công;
Những tháng cuối năm khủng hoảng tài chính Mỹ và toàn cầu đã làm cho nền kinh tế
thế giới suy giảm và tăng gấp bội những khó khăn của Việt Nam.
Diễn biến của Thị trường chứng khoán Việt Nam cũng được coi là xấu nhất
trong suốt hơn 8 năm hoạt động. Việc huy động vốn trên TTCK cũng giảm tới 75 –
80 %.
Sau khi các ngân hàng áp dụng chính sách thắt chặt tín dụng, thị trường bất
động sản đóng băng, sụt giảm về giá bình quân từ 20 – 40 %.
Lãi suất ngân hàng những tháng đầu năm tăng cùng với tỷ lệ lạm phát, do
thiếu vốn, có những thời điểm các ngân hàng thương mại phải huy động vốn trên thị
trường liên ngân hàng với lãi suất trên 30 – 40 %, lãi suất huy động cũng lên sát mức
21%. Những tháng cuối năm, NHNN liên tục điều chỉnh hạ lãi suất cơ bản từ cao
nhất 14% xuống mức thấp nhất 8,5%. Do phải huy động vốn với mức lãi suất quá
cao, khi lãi suất cho vay giảm mạnh đã làm cho tình trạng thua lỗ trở nên phổ biến
trong hệ thống ngân hàng thương mại.
Tình hình ngoại tệ cũng biến động mạnh có thời điểm xảy ra tình trạng sốt
USD với tỷ giá chạm mốc 19500đ/ USD
24
Hoạt động của các doanh nghiệp cũng gặp khó khăn, hiệu quả kinh doanh sụt
giảm thậm chí thua lỗ hoặc mất thị trường.
Trong bối cảnh thị trường tài chính đầy biến động như vậy, với quyết tâm và
những nỗ lực trong các mặt hoạt động kinh doanh, chi nhánh NHCT Chương Dương
vẫn hoàn thành tốt các chỉ tiêu cơ bản do NHCTVN giao, hoạt động kinh doanh vẫn
tăng trưởng so với năm trước.
Bước vào năm 2009, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách
thức. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế làm thu hẹp đáng kể thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status