Một số giải pháp hoàn thiện công tác chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Ba Đình”. - Pdf 29

Họ và tên: Trần Xuân Hưng
Lớp: NH44B- Mã SV: CQ441186
Lời mở đầu
Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế đang có xu hướng hội nhập
và tiền tệ hoá mạnh mẽ, thì ngân hàng ngày càng trở nên quan trọng đối với
mỗi doanh nghiệp, cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự quan trọng đó
thể hiện ở hoạt động cho vay vốn cuả ngân hàng cho nền kinh tế, mọi doanh
nghiệp không thể phát triển sản xuất nếu không có vốn. Chính vì thế hoạt
động cho vay của ngân hàng ngày nay rất phát triển, nó đem lại phần lớn thu
nhập cho mỗi ngân hàng song cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ro nhất
cho ngân hàng. Đó là rủi ro không thu hồi được vốn hay rủi ro tín dụng.
Các ngân hàng thương mại nói chung hay chi nhánh Ngân hàng Công
thương khu vực Ba Đình (NHCTBĐ) nói riêng luôn phải coi trọng công tác
quản lý rủi ro tín dụng mà cụ thể là rủi ro trong cho vay đối với các doanh
nghiệp. Trong đó coi trọng phòng ngừa rủi ro trước khi chúng phát sinh.
Muốn phòng được rủi ro cho vay một cách hiệu quả, ngày nay đòi hỏi các
ngân hàng phải tìm được đúng đối tượng để cung cấp vốn. Hay nói cách
khác ngân hàng phải tiến hành đánh giá cho điểm để xếp hạng doanh nghiệp
từ cơ sở đó mới ra quyết định cấp hay không cấp vốn, và có biện pháp giám
sát khách hàng sau khi cấp vốn.
Có thể nói việc thực hiện chấm điểm xếp loại các doanh nghiệp là một
công việc còn khá mới mẻ đối với các ngân hàng ở Việt Nam, tuy nhiên
trong tương lai không xa chắc chắn các NH sẽ phải tiến hành việc này vì nó
là một phương thức quản lý rủi ro một cách hiện đại, nó mang lại sự an toàn
cho hoạt động của hệ thống ngân hàng thậm chí nếu NH khai thác tốt hoạt
động này còn mang lại thu nhập không nhỏ cho bản thân ngân hàng.
Chính vì lý do đó, em đã chọn chủ đề cho chuyên đề này là: “Một số giải
pháp hoàn thiện công tác chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh
nghiệp tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Ba Đình”.
Đối tượng mà ngân hàng cho vay trong nền kinh tế là rất đa dạng. Có thể
là các tổ chức Chính phủ, các tổ chức tài chính khác, các cá nhân có nhu cầu,

một qui trình đánh giá khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của một
doanh nghiệp đối với ngân hàng cho vay như trả lãi và gốc khi đáo hạn
nhằm xác định rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng cho vay.
CĐXH luôn được tiến hành bởi các chuyên viên nghiên cứu về doanh
nghiệp tại các chi nhánh ngân hàng, những người thu thập và phân tích các
số liệu từ hồ sơ miêu tả, sổ sách kế toán… và luôn được cập nhật thông tin
một cách thường xuyên.
1.1.2/ Mục đích:
Mục đích của hoạt động CĐXH là đưa ra những nhận xét đánh giá tình
hình hoạt động, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán trong hiện tại và
trong tương lai của doanh nghiệp nhằm hỗ trợ ngân hàng cho vay trong việc:
- Ra quyết định cấp tín dụng: xác định hạn mức tín dụng của một khách
hàng, số tiền vay/ bảo lãnh, thời hạn, mức lãi suất/phí, biện pháp bảo
đảm cho khoản tín dụng đó.
- Giám sát và đánh giá khách hàng tín dụng khi khoản đó đang còn dư
nợ, hạng của doanh nghiệp (DN) cho phép ngân hàng lường trước
những dấu hiệu xấu về chất lượng khoản vay và có những biện pháp
đối phó kịp thời. Trong trường hợp có nhiều khách hàng cùng có nhu
cầu vay vốn mà khả năng cấp tín dụng có hạn thì công tác này sẽ giúp
ngân hàng lựa chon chính xác đối tác của mình để cấp tín dụng dựa
vào điểm và hạng của doanh nghiệp đó.
Xét trên góc độ quản lý toàn bộ danh mục tín dụng, hệ thông chấm điểm
tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp còn nhằm mục đích:
- Phát triển chiến lược Marketing nhằm hướng tới khách hàng có ít rủi
ro hơn.
- Ước lượng mức vốn đã cho vay sẽ không thu hồi được để trích lập dự
phòng rủi ro tín dụng.
1.2/ Sự cần thiết phải chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp.
Hiện nay, các ngân hàng thương mại đã rất quen thuộc và gần gũi với
chúng ta trong cuộc sống hàng ngày bởi những hoạt động của nó ngày càng

nguyên nhân chủ yếu của rủi ro tín dụng.
- Những nguyên nhân thuộc về ngân hàng: là những nguyên nhân liên
quan đến trình độ nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của nhân viên
ngân hàng mà chủ yếu là các cán bộ tín dụng. Cán bộ tín dụng không
am hiểu khách hàng, không am hiểu về ngành nghề kinh doanh của
họ, về môi trường họ sống và làm việc hay nói cách khác cán bộ tín
dụng đó không thể đưa ra những đánh giá chính xác về khách hàng,
phương án sử dụng tiền vay cũng nhưn đự báo trước về các vấn đề có
liên quan thì rủi ro tín dụng dễ dàng xảy ra. Ngoài ra còn có những
cán bộ tín dụng giỏi còn tiếp tay cho khách hàng để lừa đảo ngân hàng
nếu anh ta không thắngđược những cám dỗ của tiền bạc, và không giữ
được đạo đức nghề nghiệp của mình. Nhóm nguyên nhân này thường
kết hợp với nhóm thứ hai gây nên những tổn thất lớn cho ngân hàng.
Như vậy, chúng ta có thể thấy rủi ro tín dụng luôn luôn thường trực
trong hoạt động của ngân hàng. Và nều quả thật chúng xảy ra một cách đồng
loạt thì ngân hàng đó sẽ rơi vào tình trạng mất vốn, gây mất lòng tin của
người gửi tiền và tất yếu sẽ phá sản. Suy cho cùng để có một quyết định cấp
tín dụng chính xác, hay nói cách khác để hạn chế được rủi ro tín dụng các
NHTM phải thực hiện một quá trình phân tích tài chính khách hàng thật tỉ
mỉ chính xác và khoa học, cả những yếu tố tài chính cũng như phi tài chính.
Quá trình này không phải đơn giản, nó đòi hỏi phải có một cơ sở khoa học
chính xác chứ không thể chỉ đánh giá chung chung hay dựa vào lượng thông
tin ít ỏi mà ngân hàng nhận được từ khách hàng mà đa số chúng ta đều
không biết chúng chính xác bao nhiêu %?
Và hệ thống đó chính là hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh
nghiệp. Thông qua hệ thông này, ngân hàng có thể phân tích tỉ mỉ mọi yếu tố
tài chính cũng như phi tài chính của khách hàng, cán bộ tín dụng sẽ thấy
được hạng tín dụng của doanh nghiệp là loại gì tối ưu, loại ưu, tốt, khá, trung
bình hay yếu kém. Trên cơ sở đó cán bộ tín dụng có thể so sánh hạng của
doanh nghiệp đạt được với các mức phân hạng của ngân hàng ở vị trí nào, có

tiêu chuẩn đánh giá các tiêu chí chấm điểm theo nguyên tắc sau:
- Đối với mỗi tiêu chí trên bảng tiêu chuẩn đánh giá, chỉ số thực tế gần
trị số nào nhất thì áp dụng cho loại xếp hạng đó, nếu nằm giữa hai trị
số thì ưu tiên nghiêng về phía loại tốt nhất.
- Trong trường hợp khách hàng có bảo lãnh toàn phần ( lớn hơn hoặc
bằng giá trị khoản tín dụng) của một tổ chức có năng lực tài chính
mạnh hơn, thì khách hàng có thể được xếp hạng tín dụng tương đương
hạng tín dụng của bên bảo lãnh nếu bên bảo lãnh cũng được ngân
hàng chấm điểm. Qui trình chấm điểm tín dụng của bên bảo lãnh cũng
giống như qui trình áp dụng cho khách hàng. Trong trường hợp bên
bảo lãnh một phần thì chỉ tiến hành chấm điểm tín dụng và xếp hạng
cho chính khách hàng.
1.3.2/ Xếp hạng khách hàng:
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng hệ thống chấm điểm tín
dụng, bảng xếp loại khách hàng được xây dựng dưới dạng một hệ thống các
ký hiệu. Bảng xếp hạng khách hàng doanh nghiệp được sắp xếp theo thứ tự
giảm dần về độ an toàn ( giảm dần về khả năng trả nợ) hay tăng dân về độ
rủi ro ( khả năng không trả được nợ). Sau đây là một ví dụ mà một số các
ngân hàng xếp hạng doanh nghiệp theo 10 hạng sau:
Bảng 1.1: Bảng xếp hạng các doanh nghiệp
Loại Đặc điểm Mức độ rủi ro
AA+: loại tối ưu.
Điểm tín dụng tốt
nhất dành cho
khách hàng có
chất lượng tín
dụng tốt nhất
- Tiềm lực tài chính rất mạnh
- Năng lực quản trị rất tốt
- Hoạt động đạt hiệu quả rất cao, ổn định

- Tiềm lực tài chính trung bình, có những nguy
cơ tiềm ẩn
- Hoạt động kinh doanh tốt trong hiện tại nhưng
dễ bị tổn thương bởi nhưng biến động lớn trong
kinh doanh do các sức ép trong cạnh tranh và
sức ép từ nền kinh tế.
- Đã xuất hiện những sự cố về thanh toán như
thanh toán nợ không đúng hạn tuy với số lần
không nhiều.
Trung bình, khả
năng trả nợ gốc và
lãi trong tương lai
ít được đảm bảo
hơn doanh nghiệp
loại BB+
BB-: Loại trung
bình
- Khả năng tự chủ tài chính thấp, dòng tiền biến
động theo chiều hướng xấu.
- Hiệu quả hoạt động kinh doanh không cao,
chịu nhiều sức ép cạnh tranh mạnh mẽ hơn, dễ bị
tác động lớn từ những biến động kinh tế nhỏ.
Cao do khả năng tự
chủ tài chính thấp.
Ngân hàng chưa có
nguy cơ mất vốn
ngay nhưng về lâu
dài sẽ khó khăn nếu
tình hình hoạt động
kinh doanh của

những biện pháp
kịp thời, ngân hàng
có nguy cơ mất
vốn.
CC-: Loai yếu
kém
- Hiệu quả hoạt động rât thấp, bị thua lỗ, không
có triển vọng phục hồi.
- Năng lực tài chính yếu kém, đã có nợ quá hạn.
- Năng lực quản lý kém,
Rất cao, ngân hàng
sẽ phải mất nhiều
thời gian và công
sức để thu hồi vốn
cho vay.
C: Loại rất yếu
kém
Các doanh nghiệp bị thua lỗ kéo dài, tài chính
yếu kém, có nợ khó đòi, năng lực quản lý kém,
có những tranh chấp pháp lý, các doanh nghiệp
đang đợi phán quyết của Toá án…
Đặc biệt cao, ngân
hàng hầu như
không thể thu hồi
được vốn.
1.4/ Các điều kiện để áp dụng phương pháp chấm điểm tín dụng và xếp
hạng doanh nghiệp.
Để có thể tiến hành công tác CĐXH, không phải bất cứ một ngân hàng
nào cũng có thể áp dụng được. Do đó, để hoạt động này đạt được mục đích
đề ra, các NHTM phải đáp ứng đủ 4 điều kiện sau:

diện mọi mặt về doanh nghiệp.
- Về chất lượng: thông tin phải đảm bảo chính xác, có độ tin cậy cao,
phản ánh trung thực, khách quan tình hình thực tế của khách hàng.
- Tính liên tục: phải thu thập thông tin theo một chuỗi thời gian từ quá
khứ đến hiện tại. Chuỗi thời gian thích hợp thường là 3 năm. Tuy
nhiên thông tin quan trọng nhất vẫn là thông tin phản ánh tình hình
hiện tại của doanh nghiệp.
Tóm lại nguồn thông tin thu thập phong phú và đa dạng, có độ tin cậy cao
là điều kiện thứ hai để một ngân hàng có thể tiến hành chấm điểm tín dụng
và xếp hạng doanh nghiệp.
1.4.3/ Cơ sở vật chất kỹ thuật
Hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp bao gồm khối
lượng lớn các chỉ tiêu cần chấm điểm, gồm 2 loại lớn là nhóm các chỉ tiêu
tài chính và nhóm chỉ tiêu phi tài chính. Vì vậy đòi hỏi phải có hệ thông
phần mềm tin học tự động chấm điểm nhằm đảm bảo tính chính xác của kết
quả, tránh sai sót không đáng có trong việc tính toán thủ công. Đồng thời hệ
thống chấm điểm tự động cho phép rút ngắn thời gian, làm giảm khối lượng
công việc cho cán bộ tín dụng. Như vậy cơ sở vật chất ký thuật hiện đại là 1
điều kiện để đảm bảo thực hiện tốt phương pháp CĐXH khách hàng.
1.4.4/ Đội ngũ cán bộ
Hoạt động chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp là một quá
trình tổng hợp nhiều yếu tố từ những yếu tố vi mô trong nội bộ công ty cho
đến những yếu tố vĩ mô của nền kinh tế bên ngoài. Nếu quá trình này không
được thực hiện chính xác, cung cấp những thông tin hữu ích cho việc ra
quyết định tín dụng thì phương pháp CĐXH là vô ích, thậm chí mang lại
những tiêu cực. Do vậy chúng ta phải đặc biệt chú trọng đến đội ngũ cán bộ
chấm điểm tín dụng. Đội ngũ cán bộ là yếu tố có tính quyết định đến hiệu
quả của phương pháp này cũng như mọi công việc khác. Quả thật nếu một
hệ thống chấm điểm tín dụng có được xây dựng hoàn thiện có phần mềm tự
động chấm điểm, với lượng thông tin lớn nhưng cán bộ tín dụng không đủ

trong một số năm ( thông thường là bảng cân đối kế toán, báo cáo kết
quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài
chính) và các bảng kế hoạch tài chính trong tương lai; hồ sơ kế hoạch,
chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai; và cuối cùng
là dự án hoặc phương án vay đi kèm với kế hoạch chi tiết sử dụng tiền
vay và kế hoạch trả nợ.
- Thông tin lưu trữ tại ngân hàng: là các thông tin trên nhiều phương
diện mà ngân hàng theo dõi và lưu trữ về những người đi vay trong
các lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Nếu khách hàng đang có nhu cầu
vay vốn của ngân hàng đã từng có quan hệ với ngân hàng hay có quan
hệ làm ăn, quan hệ tín dụng thương mại với một trong những khách
hàng của ngân hàng hoặc kinh doanh trong lĩnh vực mà ngân hàng
thường xuyên tài trợ thì ngân hàng có thể sử dụng những thông tin lưu
trữ của mình để bổ sung cho công tác chấm điểm tín dụng. Đây là một
nguồn thông tin đáng tin cậy mà cán bộ chấm điểm có thể dễ dàng thu
thập được.
- Thông tin từ các cuộc điều tra, phỏng vấn trực tiếp: các thông tin này
rất cần thiết để bổ sung thêm cho hoạt động chấm điểm tín dụng và
xếo hạng doanh nghiệp, đặc biệt giúp ngân hàng xác minh lại tính
chính xác và trung thực của các thông tin thu thập được từ 2 nguồn
trên. Việc điều tra, phỏng vấn trực tiếp bao gồm thăm quan nhà
xưởng, văn phòng, tiếp xúc, trò chuyện trực tiếp với lãnh đạo và
người lao động trong doanh nghiệp, xem xét tài sản, vật thế chấp.
Bằng khả năng quan sát, tổng hợp và phân tích các luồng thông tin từ
nhiều phía cán bộ tín dụng sẽ nắm được hiện trạng của doanh nghiệp,
thấy được những gì thực tế diễn ra mà các báo cáo của đơn vị không
đề cập hoặc đề cập một cách chưa chính xác, đặc biệt là các mặt hạn
chế, tiêu cực của khách hàng, để loại trừ các báo cáo “ma”.
- Các nguồn thông tin khác: ngoài 3 nguồn chính kể trên, cán bộ tín
dụng có thể sử dụng một số nguồn thông tin khác. Đó là thông tin từ

* Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán (BCĐKT) là một báo cáo tài chính mô tả tình
trạng tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó( thường
là cuối kỳ, quý hoặc năm). Thông thường, BCĐKT được trình bày dưới
dạng bảng cân đối số dư của các tài khoản kế toán, một bên phản ánh tài sản,
một bên phán ánh nguồn vốn của doanh nghiệp. Bên tài sản phán ánh quy
mô và kết cấu các loại tài sản hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền
quản lý của đơn vị. Các khoản mục tài sản được sắp xếp theo thứ tự tính
lỏng giảm dần. Bên nguồn vốn phản ánh số vốn để hình thành các loại tài
sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo, thể hiện cơ cấu tài trợ, cơ
cấu vốn cũng như khả năng độc lập về tài chính của đơn vị. Các khoản mục
bên nguồn vốn được sắp xếp thành nợ và vốn chủ sở hữu hoặc theo thời hạn
thành nguồn vốn ngắn hạn và dài hạn. BCĐKT thường gồm:
Bảng 1.2: Bảng cân đối kế toán ngày… tháng… năm…
Đơn vị tính:…
Tài sản Nguồn vốn
Khoản mục N-1 N Khoản mục N-1 N
I. Tài sản lưu động, đầu tư
TC ngắn hạn
I. Nợ
1. Tiền và tương đương tiền 1. Nợ ngắn hạn
2. Phải thu 2. Nợ dài hạn
3. Dự trữ 3. Nợ khác
4. TSLĐ khác
II. Tài sản cố định, đầu tư tài
chính dài hạn
II. Vốn chủ sở hữu
1. Tài sản cố định hữu hình 1. Vốn ban đầu
2. Tài sản cố định vô hình 2. Quỹ
3. Tài sản tài chính 3. Lợi nhuận chưa phân

30 = 20-
(21+22)-
(24+25)
11 Thu nhập khác 811 31
12 Chi phí khác 32
13 Lợi nhuận thuần khác 40
14 Tổng thu nhập trước thuế 50
15 Thuế thu nhập doanh nghiệp 51
16 Tổng thu nhập sau thuế 60
Dựa vào báo cáo tài chính, cán bộ tín dụng có thể đánh giá tình hình
hoạt động của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu: Vòng quay hàng tồn
kho; Kỳ thu tiền bình quân; Doanh thu thuần/ Tổng tài sản. Xem xét về các
chỉ tiêu thu nhập: tổng thu nhập trước thuế/ doanh thu thuần; tổng thu nhập
trước thuế/ tổng tài sản; Tổng thu nhập trước thuế/ Vốn chủ sở hữu.
Song bên cạnh đó, người chấm điểm cần lưu ý rằng số liệu phản ánh
trên BC là giá trị kế toán chứ không phải là giá trị bằng tiền. Hãy nhớ rằng
doanh thu khác với thu và chi phí khác với chi! Cụ thể, doanh thu được hiểu
là số tiền thu được từ việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ mà khách hàng thanh
toán hay chấp nhận thanh toán cho đơn vị; còn chi phí được hiểu là số tiền
doanh nghiệp thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán cho đơn vị khác để phục
vụ cho quá trình sản xuất. Các khoản này thường được ghi nhận tại thời
điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế nhưng trên thực tế doanh nghiệp chưa
thanh toán tiền cho đối tác và ngược lại khi doanh nghiệp bán thì DN cũng
chưa nhận được 1 đồng tiền nào từ người mua. Điều này là do việc mua bán
chịu hay tín dụng thương mại. Do đó, có những doanh nghiệp nhìn vào
BCKQKD ta thấy có lợi nhuận thậm chi lợi nhuận còn cao nhưng vẫn bị phá
sản vì DN đó không có lợi nhuận bằng tiền, mất khả năng thanh toán khi các
khoản nợ đáo hạn. Do đó, cán bộ tín dụng hết sức chú ý, phải kết hợp với
những báo cáo khác nữa đặc biệt là báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
* Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Trên đây là 3 BCTC quan trọng mà không một hoạt động chấm điểm
tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp nào bỏ qua được. Tuy nhiên, không thể
chỉ dựa vào mỗi 3 BCTC trên mà cán bộ tín dụng còn phải nắm được những
thông tín khác nữa sẽ được nêu lên trong phần sau.
b/ Những thông tin khác
Như đã nêu ở phần trên, không thể chỉ dựa vào 3 BCTC trên của DN
nộp cho ngân hàng. Để đánh giá được khả năng tín dụng của khách hàng, để
có thể chấm điểm chính xác, cán bộ tín dụng còn phải thu thập những thông
tin phi tài chính như năng lực và kinh nghiệm của ban lãnh đạo, vị trí trên thị
trường, quan hệ với khách hàng, với ngân hàng, …Những thông tin này
không sẵn có, lại khó định lượng do vậy đòi hỏi người cán bộ tín dụng phải
có khả năng thu thập, phân tích và tổng hợp tốt. Những tài liệu cần thiết đó
bao gồm:
* Tìm hiểu chung về khách hàng:
- Lịch sử công ty
- Những thay đổi về góp vốn
- Những thay đổi về cơ chế quản lý
- Những thay đổi về công nghệ hoặc thiệt bị
- Những thay đổi trong sản phẩm
- Lịch sử về các quá trình liên kết, hợp tác, giải thể
- Khía cạnh chính trị và xã hội đằng sau các hoạt động kinh doanh này
- Điều kiện địa lý
Những thông tin này được dùng để đánh giá chung về khả năng hiện tại
cũng như tính cạnh tranh của công ty trong tương lai. Đây là điều kiện
cần để chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính của công ty.
* Tìm hiểu chung về khả năng quản trị điều hành của ban lãnh đạo
- Danh sách ban lãnh đạo công ty
- Trình độ chuyên môn của ban lãnh đạo công ty
- Khả năng, kinh nghiệm, cách thức quản lý, đạo đức của người lãnh
đạo cao nhất và ban điều hành. Các kết quả thể hiện qua: Giá trị doanh

Việt Nam hiện nay, hệ thống chấm điểm tín dụng phân thành 4 loại ngành
nghề/ lĩnh vực kinh doanh khác nhau gồm:
- Nông, lâm và ngư nghiệp
- Thương mại và dịch vụ
- Xây dựng
- Công nghiệp
Việc phân loại các doanh nghiệp rất đa dạng trong thực tế, có thể các
ngân hàng khác nhau lại có những cách phân loại khác nhau, chẳng hạn
NHCTBĐ còn phân loại các doanh nghiệp thành DN vừa vừ nhỏ, các doanh
nghiệp lớn. Tuy nhiên, cách phân loại theo ngành nghề là chính xác và tổng
quát nhất. Trong trường hợp doanhnghiệp hoạt động đa ngành nghề thì phân
loại theo ngành nào đem lại tỷ trọng doanh thu lớn nhất cho doanh nghiệp.
Bảng 1.5: Hướng dẫn phân loại doanh nghiệp theo ngành nghề KD
Nông, lâm ngư
nghiệp
-Chăn nuôi
- Trồng trọt: cây lương thực, hoa màu, cây ăn quả, cây công nghiệp…
- Trồng rừng
- Khai thác lâm sản
- Đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản
- Làm muối
Thương mại và
dịch vụ
- Cảng sông, biển
- Khách sạn, nhà hàng, giải trí du lịch
- Siêu thị, đại lý phân phối, kinh doanh bán buôn, bán lẻ các loại nông
sản, lâm sản, thuỷ hải sản, văn hoá phẩm, mỹ phẩm, phương tiện
GTVT…
- In ấn, xuất bản sách báo, tạp chí…
- Sửa chữa nhà cửa, các loại máy móc, PTGT

doanh, lao động, doanh thu thuần, và giá trị nộp ngân sách cho Nhà nước.
- Lao động: là số người thực tế mà DN sử dụng (được trình bày trong
thuyết minh báo cáo tài chính) tính bình quân trong 3 năm gần nhất.
- Giá trị nộp ngân sách: bao gồm các khoản thuế và các khoản nộp khác
theo quy định của Nhà nước chẳng hạn như: bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, kinh phí công đoàn, các khoản tiền phạt…
Bảng 1.6: Hướng dẫn chấm điểm qui mô doanh nghiệp
Stt Tiêu chí Trị số Điểm
1 Nguồn vốn kinh
doanh
Từ 50 tỷ đồng trở lên
Từ 40 tỷ đồng đến dưới 50 tỷ đồng
Từ 30 tỷ đồng đến dưới 40 tỷ đồng
Từ 20 tỷ đồng đến dưới 30 tỷ đồng
Từ 10 tỷ đồng đến dưới 20 tỷ đồng
Dưới 10 tỷ đồng
30
25
20
15
10
5
2 Lao động Từ 1500 người trở lên
Từ 1000 người đến 1500 người
Từ 500 người đến 1000 người
Từ 100 người đến dưới 500 người
Từ 50 người đến dưới 100 người
Dưới 50 người
15
12

Bảng 1.7: Xác định qui mô doanh nghiệp
Điểm Qui mô
Từ 70- 100 điểm Lớn
Từ 30- 69 điểm Vừa
Dưới 30 điểm Nhỏ
Sau khi đã chấm điểm qui mô của doanh nghiệp chúng ta tiến hành bước
tiếp theo, chấm điểm các chỉ số tài chính. Đây là bước rất quan trọng bởi
hơn ai hết ngân hàng hiểu được tầm quan trọng của các chỉ số tài chính
doanh nghiệp.
1.5.4/ Chấm điểm các chỉ số tài chính
Trên cơ sở đã xác định được qui mô và ngành nghề/ lĩnh vực sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, cán bộ tín dụng chấm điểm các chỉ số tài
chính của doanh nghiệp theo các bảng sau:
Ta có thể xem xét một ví dụ sau: chẳng hạn một doanh nghiệp X hoạt
động trong lĩnh vực xây dựng, thuộc qui mô doanh nghiệp lớn, đạt chỉ số
khả năng thanh toán ngắn hạn là 0.9. Như vậy theo bảng 1.10 và theo
nguyên tắc chấm điểm, cán bộ tín dụng xác định điểm tín dụng tiêu chí khả
năng thanh toán ngắn hạn của DN X trên là 80, trọng số 8%. (vì nó nằm
trong khoảng từ 0.8 đến 1 nên điểm 60- 80, theo nguyên tắc chấm điểm thì
nghiêng về giá trị có lợi hơn)
Đối với ngân hàng, mối quan tâm chủ yếu là khả năng trả nợ của doanh
nghiệp thế nào, nên khi phân tích tình hình tài chính khách hàng, các NHTM
sử dụng phổ biến 11 chỉ tiêu cơ bản thuộc 4 nhóm sau:
* Nhóm 1: Chỉ tiêu thanh khoản:
Có 2 tỷ số quan trọng là tỷ số khả năng thanh toán ngắn hạn và khả
năng thanh toán nhanh.
- Khả năng thanh toán ngắn hạn = Tài sản lưu động/ Các khoản nợ ngắn hạn
Trong đó, tài sản lưu động gồm tiền và tương đương tiền, các khoản
phải thu và dự trữ (hàng trong kho, hàng đi trên đường, hàng trên quầy). Còn
nợ ngắn hạn gồm nợ phải trả người cung cấp, phải trả, phải nộp khác, vay

tiền mặt để đáp ứng nghĩa vụ nợ hiện tại và khoản vay đang được xếp
hạng nhưng ở mức độ ít chênh lệch ít để sử dụng thanh toán dự
phòng. Các yếu tố quan trọng để doanh nghiệp đạt hạng 3 là lợi
nhuận, khả năng đáp ứng nghĩa vụ nợ của ngân hàng, có đủ luồng tiền
mặt dự kiến cho các nhu cầu trong tương lai nhưng mức độ ít chênh
lệch để thanh toán nợ dự phòng.
• Hạng 4: cho thấy doanh nghiệp cần có sự củng cố trong hoạt động
tài chính của công ty hoặc công ty sẽ không thể tiếp tục kinh doanh
thông thường nếu đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ nợ. Bất kỳ phỏng đoán nào
cho rằng công ty có khả năng đáp ứng nghĩa vụ nợ chỉ mang tính lạc
quan. Khoản vay này nằm trong danh sách các khoản vay cần theo dõi
vì cán bộ tín dụng cho rằng công ty sẽ không đủ luồng tiền mặt trong
tương lai để thực hiện kế hoạch trả nợ. Cán bộ tín dụng sẽ phải tích
cực tìm các nguồn trả nợ thứ cấp để thu hồi món vay.
• Hạng 5: cho thấy cán bộ tín dụng tin rằng người đi vay sẽ không thể
trả nợ. Ngân hàng cần phải dựa vào người bảo lãnh hoặc tài sản thế
chấp để thu hồi khoản nợ.
* Nhóm 2: Chỉ tiêu hoạt động
- Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán/ Hàng tồn kho bình quân
Đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ thì không
có chỉ tiêu giá vốn hàng bán ta sử dụng chỉ tiêu doanh thu thuần để đánh giá.
Hệ số này đo lường mức doanh số bán liên quan đến mức độ tồn kho của
hàng hoá thành phẩm, nguyên vật liệu. Khối lượng hàng tồn kho phụ thuộc
nhiều yếu tố như ngành kinh doanh, thời điểm nghiên cứu, mùa vụ…
- Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu bình quân/ Doanh thu thuần

Trích đoạn Tình hình và uy tín giao dịch với NH Định hướng phát triển của NHCT Ba Đình Giải pháp hoàn thiện công tác chấmđiểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp tại NHCTBĐ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status