Nghiên cứu hoạt động xúc tiến bán một số chương trình du lịch outbound cho khách nội địa tại công ty du lịch việt nam - Pdf 23



PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, du lịch ngày càng phát triển nhanh chóng, trở thành một nhu cầu
không thể thiếu được trong đời sống tinh thần của con người. Du lịch từ lâu đã được
nhắc đến như một ngành công nghiệp quan trọng và phát triển đối với mọi quốc gia
trên thế giới. Phát triển du lịch là một giải pháp cho phát triển bền vững vì nó tạo
điều kiện cho việc trùng tu, tôn tạo các di sản văn hóa cũng như di sản thiên nhiên,
bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần nâng cao đời sống của người dân địa phương.
Thêm vào đó, du lịch mang tính liên ngành rộng lớn, du lịch phát triển kéo theo sự
phát triển của rất nhiều các ngành khác nhau: giao thông vận tải, bưu chính viễn
thông, thủ công mỹ nghệ…
Nhận thấy tầm quan trọng của ngành du lịch, Việt Nam cũng đã từng bước
phát triển ngành và đem lại nhiều kết quả rất khả quan. Từ năm 1990 đến nay, du
lịch Việt Nam ngày càng phát triển với tốc độ đáng kinh ngạc. Hệ thống kinh doanh
du lịch ngày càng đa dạng và phong phú hơn. Trong đó ta không thể không kể đến
một mảng vô cùng quan trọng, đóng vai trò phân phối sản phẩm trong du lịch nói
riêng và các ngành khác nói chung – mảng kinh doanh lữ hành.
Như ta có thể thấy, các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành ở thế giới nói
chung hay ở Việt Nam nói riêng đều đang rất nỗ lực phát triển mang lại niềm tin
cho khách du lịch về sự lựa chọn của họ đã đến với các doanh nghiệp. Trước sự
tăng lên không ngừng của số lượng các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành cùng
với những điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh, sự cạnh tranh giữa các công
ty lữ hành ngày càng trở lên gay gắt. Do đặc tính của sản phẩm du lịch là rất dễ
bị sao chép bắt chước nên việc thu hút khách hàng của các công ty không chỉ dựa
vào tính độc đáo của sản phẩm mà còn phải làm sao để khách hàng tìm đến sản
phẩm của mình nhiều nhất. Do đó, mỗi công ty kinh doanh lữ hành ngoài việc
tạo uy tín cho khách hàng hiện tại họ còn phải mở rộng thêm các khách hàng
mua sản phẩm của công ty mình.Vì thế, việc phát triển kênh phân phối và quảng

vụ của công ty Vietnamtourism thông qua các tài liệu, kết hợp với việc nghiên cứu
thực tiễn tại bộ phận điều hành, kết quả hoạt động kinh doanh của công ty được lấy
trong vòng 3 năm từ 2010-2012. 4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp phân tích tài liệu, số liệu
- Phương pháp điều tra chọn mẫu, khảo sát thực tế
- Phương pháp thống kê toán học sử dụng phần mềm SPSS (16.0)
- Phương pháp quan sát, nghiên cứu thực trạng
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
5. Cấu trúc nội dung của đề tài
Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Phần II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động xúc tiến bán chương trình du lịch
Chương 2: Tình hình hoạt động xúc tiến bán một số chương trình du lịch
outbound cho khách nội địa tại công ty du lịch Việt Nam - Chi nhánh Huế
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy hoạt động xúc tiến bán một số chương trình
du lịch của công ty du lịch Việt Nam - Chi nhánh Huế
Phần III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN BÁN

- Khách du lịch theo đoàn: các thành viên tham dự đi theo đoàn và có sự
chuẩn bị chương trình từ trước.
- Khách du lịch đi lẻ: là những người đi du lịch một mình hoặc đi cùng với
người thân, bạn bè. Họ có những chương trình riêng, có thể họ tự sắp xếp hoặc đăng
ký với công ty du lịch về chương trình dành riêng cho họ.
 Theo độ dài thời gian chuyến đi
- Khách du lịch ngắn ngày
- Khách du lịch dài ngày
1.1.3 Công ty lữ hành
1.1.3.1 Định nghĩa công ty lữ hành
Ở Việt Nam, công ty lữ hành được định nghĩa như sau:
“Doanh nghiệp lữ hành là đơn vị có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập,
được thành lập nhằm mục đích sinh lợi bằng việc giao dịch, kí kết các hợp đồng du
lịch và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch đã bán cho khách du lịch.” (Theo
thông tư chính phủ về tổ chức và quản lý các doanh nghiệp du lịch TCDL – Số
715/TCDL ngày 9/7/1994).
1.1.3.2 Phân loại công ty lữ hành
Theo quy chế quản lý lữ hành – TCDL ngày 29/4/1995 và theo cách phân
loại của Tổng cục du lịch Việt Nam thì các công ty lữ hành gồm 2 loại: công ty lữ
hành quốc tế và công ty lữ hành nội địa, được quy định như sau:
- Doanh nghiệp lữ hành quốc tế: Có trách nhiệm xây dựng, bán các chương
trình du lịch trọn gói hoặc từng phần theo yêu cầu của khách để trực tiếp thu hút
khách đến Việt Nam và đưa công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt
Nam đi du lịch nước ngoài, thực hiện các chương trình du lịch đã bán hoặc kí hợp
đồng ủy thác từng phần, trọn gói cho lữ hành nội địa.
- Doanh nghiệp lữ hành nội địa: Có trách nhiệm xây dựng, bán và tổ chức
thực hiện các chương trình du lịch nội địa, nhận ủy thác để thực hiện dịch vụ chương
trình du lịch cho khách nước ngoài đã được các doanh nghiệp lữ hành quốc tế đưa
vào Việt Nam.


a. Nhóm các dịch vụ trung gian: Các dịch vụ trung gian hay còn gọi là các dịch vụ đơn lẻ ví dụ như dịch vụ
đăng kí đặt chổ bán vé máy bay, vé tàu hỏa, vé tàu thủy, thuê ôtô, tư vấn thiết kế lộ
trình, vv… Các dịch vụ này không có sự gắn kết với nhau, thỏa mãn độc lập từng
nhu cầu của khách. Lúc này, các công ty lữ hành đóng vai trò là các đại lý hoặc
điểm bán sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch.
b. Các chương trình du lịch trọn gói:
Các chương trình du lịch trọn gói là những sản phẩm đặc trưng nhất của công
ty lữ hành. Các chương trình này là sản phẩm của sự liên kết tất cả các sản phẩm
của các nhà sản xuất riêng lẻ để tạo thành một sản phẩm hoàn chỉnh và bán cho
khách hàng với một mức giá gộp.
Khi tổ chức các chương trình du lịch trọn gói, các công ty lữ hành có trách
nhiệm đối với khách du lịch cũng như các nhà sản xuất ở một mức độ cao hơn nhiều
so với hoạt động trung gian.
c. Các sản phẩm lữ hành tổng hợp:
Những hãng lữ hành có khả năng lớn về tài chính, vừa đóng vai trò là Tour
Operator đồng thời là chủ sở hữu của các tập đoàn khách sạn, nhà hàng, các khu vực
vui chơi giải trí,…và hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực có liên quan đến du lịch.
1.2 Khái quát về hoạt động kinh doanh lữ hành
1.2.1 Khái niệm về kinh doanh lữ hành
Để có thể hiểu rõ hơn về kinh doanh lữ hành, ta có thể xem khái niệm về
kinh doanh lữ hành dưới hai cách tiếp cận chính sau:
Theo cách tiếp cận thứ nhất: Theo nghĩa rộng thì lữ hành bao gồm tất cả
những hoạt động di chuyển của con người cũng như những hoạt động liên quan đến
sự di chuyển đó. Với phạm vi này thì hoạt động du lịch bao gồm yếu tố lữ hành
nhưng ngược lại không phải tất cả các hoạt động lữ hành đều là du lịch. Tại các
nước phát triển, đặc biệt tại các nước Bắc Mỹ thì thuật ngữ “lữ hành” và “du lịch”
được hiểu một cách tương tự như “du lịch”.

nghiệp thực hiện kinh doanh lữ hành tổng hợp được gọi là các công ty du lịch.
1.2.3 Vai trò của kinh doanh lữ hành
Kinh doanh lữ hành có vị trí trung gian chắp nối để cung cầu du lịch gặp
nhau, thúc đẩy sự phát triển du lịch nội địa và du lịch quốc tế đồng thời kinh doanh
lữ hành cũng tác động đến cả cung và cầu trong du lịch, giải quyết những mâu thuẫn cản trở vốn có trong quan hệ cung cầu du lịch.
Chức năng thông tin: thực hiện chức năng này có nghĩa là doanh nghiệp lữ
hành cung cấp thông tin cho khách du lịch, nhà kinh doanh du lịch, điểm đến du
lịch. Nội dung thông tin cần cung cấp cho khách du lịch bao gồm:
 Thông tin về giá trị tài nguyên, thời tiết, thể chế chính trị, tôn giáo, luật
pháp, phong tục tập quán, tiền tệ, giá cả của nơi đến du lịch.
 Thông tin về giá, thứ hạng, chủng loại dịch vụ, hệ thống phân phối dịch vụ
của nhà cung cấp.
Chức năng tổ chức: thực hiện chức năng này nghĩa là doanh nghiệp phải
thực hiện các công việc tổ chức nghiên cứu thị trường, tổ chức sản xuất và tổ chức
tiêu dùng.
Chức năng thực hiện: thực hiện chức năng này có nghĩa là các doanh nghiệp
lữ hành thực hiện các khâu như vận chuyển khách theo các điều kiện đã thỏa thuận
trong hợp đồng, hướng dẫn tham quan, kiểm tra giám sát các dịch vụ của các nhà cung
cấp khác trong chương trình.
1.3 Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch ra nước ngoài (Outbound)
1.3.1 Khái quát về hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế
Kinh doanh lữ hành quốc tế là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện các
chương trình du lịch cho khách du lịch quốc tế. Khách du lịch quốc tế ở đây bao gồm:
 Khách du lịch quốc tế đến (Inbound tourist): gồm những người từ nước
ngoài đến du lịch một quốc gia.
 Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound tourist): gồm những người
đang sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài.

khách du lịch.
(Nguồn: điều 50, Luật du lịch, NXB Chính trị quốc gia năm 2005)
1.4 Bốn con đường để thu hút khách của doanh nghiệp lữ hành
1.4.1 Chất lượng cao của sản phẩm
Trên quan điểm của các doanh nghiệp lữ hành thì chất lượng chương trình du
lịch chính là mức độ phù hợp của những đặc điểm thiết kế so với chức năng và
phương thức sử dụng chương trình và cũng là mức độ mà chương trình thực sự đạt
được so với thiết kế ban đầu của nó.
Trên quan điểm của khách du lịch: chất lượng chương trình du lịch là mức phù hợp của nó đối với yêu cầu của người tiêu dùng du lịch hay là mức thỏa mãn của chương
trình du lịch nhất định đối với một động cơ đi du lịch cụ thể, là sự thể hiện mức độ hài
lòng của khách khi tham gia vào chuyến đi của một chương trình du lịch nào đó.
Theo Philip Kotler: Sự thỏa mãn là mức độ trạng thái cảm giác của một người bắt
nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm với những kỳ vọng của người đó.
“ Sự hài lòng đối với một sản phẩm được quyết định bởi mức độ đáp ứng của sản
phẩm so với những gì mà khách hàng mong đợi. Hay nói cách khác, sự hài lòng là chênh
lệch giữa kỳ vọng và đánh giá của khách hàng sau khi tiêu dùng sản phẩm hàng hóa hay
dịch vụ ” (Trương Đình Chiến, Quản trị Marketing, Nhà xuất bản Thống kê, 2002).
Sự hài lòng của du khách được hiểu một cách chung nhất là sự thỏa mãn và
sự được đáp ứng tất cả những nhu cầu cũng như sự trông đợi trong chuyến hành
trình của họ ( hay người ta còn gọi đó là chất lượng của chương trình du lịch).
Ta có thể cụ thể hóa dưới dạng phương trình sau:
S = P – E
Trong đó:
S (Satisfaction): mức độ hài lòng của khách.
P (Perception): Cảm nhận được của khách sau khi thực hiện chuyến đi du lịch.
E (Expectation): Mức độ mong đợi của khách, được hình thành trước khi
khách thực hiện chuyến đi chương trình du lịch.

 Chiến lược giá cho sản phẩm hiện tại: Ngoài chiến lược về giá cho sản
phẩm mới, doanh nghiệp cũng cần phải xây dựng các chiến lược về giá cho sản
phẩm hiện tại để có thể thu hút khách hàng, cũng như đối phó lại với những biến
động của thị trường. Các chiến lược về giá cho sản phẩm hiện tại trong du lịch bao
gồm: Định giá cho gói sản phẩm; chiến lược điều chỉnh giá (chiết giá vì mua với số
lượng lớn, chiết giá mùa vụ); định giá theo nguyên tắc tâm lý; định giá khuyến mại.
1.4.3 Mở rộng và tăng cường kênh phân phối
1.4.3.1 Vai trò của kênh phân phối trong việc thu hút khách của các công ty lữ hành
Kênh phân phối sản phẩm trong du lịch được hiểu như một hệ thống tổ chức
dịch vụ nhằm tạo ra các điểm bán hoặc các cách tiếp cận sản phẩm thuận tiện cho
khách du lịch, ở ngoài địa điểm diễn ra quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm.
Trong du lịch, chiến lược phân phối có vai trò đặc biệt quan trọng và có sắc thái
riêng. Cụ thể:
 Các kênh phân phối giúp cho các doanh nghiệp tạo thêm điểm bán và cách tiếp cận thuận tiện cho khách du lịch khi họ muốn mua hoặc đặt trước các sản phẩm du lịch.
 Việc mở rộng các kênh phân phối sẽ giúp các doanh nghiệp kinh doanh lữ
hành phân phối các ấn phẩm quảng cáo, tập gấp,… đến nhiều khách hàng hơn giúp
doanh nghiệp lữ hành tăng lượng khách tìm đến sản phẩm của công ty mình hơn.
 Một doanh nghiệp lữ hành có hệ thống kênh phân phối rộng lớn sẽ dễ
dàng tạo uy tín cho khách hàng, làm cho khách biết nhiều hơn đến công ty đó và
tăng mức tiêu thụ các sản phẩm du lịch của công ty.
 Các kênh phân phối còn giúp cho khách hàng có nhiều cơ hội để lựa chọn
các sản phẩm du lịch thích hợp, đồng thời tư vấn và giúp đỡ họ trong việc lựa chọn
sản phẩm mang lại sự hài lòng cho họ.
 Việc mở rộng kênh phân phối cũng là một hình thức để khách hàng được
quan tâm nhiều hơn. Thông qua các kênh phân phối, du khách được chăm sóc chu
đáo hơn bằng các dịch vụ như tư vấn, đặt chỗ thuận tiện hơn, các dịch vụ bổ sung
phục vụ chu đáo hơn như dịch vụ về bảo hiểm, visa, hộ chiếu,…hay trong việc giải

Kênh phân phối sản phẩm trực tiếp: bao gồm kênh (1) và kênh (2). Thông
qua các kênh này, doanh nghiệp giao dịch trực tiếp với khách không qua bất cứ một
trung gian nào. Các kiểu tổ chức kênh như sau:
 Sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp để chào và bán hàng trực tiếp cho
khách du lịch đặc biệt chú ý tới bán hàng cá nhân.
 Trực tiếp sử dụng văn phòng hoặc chi nhánh trong và ngoài nước để làm
cơ sở bán chương trình du lịch.
 Mở các văn phòng đại diện, các đại diện bán lẻ của doanh nghiệp.
 Sử dụng hệ thống thông tin liên lạc, đặc biệt là hệ thống nối mạng tổ chức
Chi nhánh, văn
phòng đại diên
Đại lý
du lịch
bán lẻ

Đại
lý du
lịch
bán
buôn
Công ty
lữ hành
du lịch

2

3

doanh nghiệp lữ hành khác làm đại lý tiêu thụ hoặc với tư cách là doanh nghiệp lữ
hành gửi khách. Doanh nghiệp lữ hành sản xuất chương trình du lịch sẽ chịu hoàn
toàn trách nhiệm về sản phẩm mà mình ủy thác, về chất lượng các dịch vụ có trong
chương trình đã bán cho khách.
Đối với các kênh tiêu thụ gián tiếp, chủ thể hoạt động là những doanh nghiệp
kinh doanh độc lập, họ có quyền hạn và chiến lược kinh doanh riêng, trong nhiều
trường hợp quan điểm của các doanh nghiệp lữ hành gửi khách, các đại lý lữ hành
rất khác với quan điểm của doanh nghiệp lữ hành nhận khách. Vì vậy để tiêu thụ
được nhiều chương trình du lịch trọn gói, doanh nghiệp lữ hành nhận khách cần
giành nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp lữ hành gửi khách, các đại lý lữ hành tức là
thực hiện chiến lược đẩy.
Để quản lý các kênh tiêu thụ, doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nhận khách
cần sử dụng 3 phương pháp phổ biến là hợp tác, thiết lập quan hệ thành viên, xây
dựng kế hoạch tiêu thụ và đặt mức tiêu thụ cho các doanh nghiệp gửi khách và các
đại lý lữ hành độc lập. Việc đánh giá hoạt động của các kênh tiêu thụ cần theo
những tiêu chuẩn như số chuyến du lịch, số lượt khách, số ngày khách, doanh thu
đạt được, độ chính xác của các hợp đồng, mức độ hợp tác trong các chương trình
xúc tiến và các thông tin thị trường mà họ cung cấp.
1.4.3.4 Hình thức tổ chức kênh phân phối – kênh phân phối liên kết ngang
Các kênh phân phối không chỉ là sự tập hợp thụ động các tổ chức có liên
quan với nhau trong phân phối lưu thông sản phẩm dịch vụ mà chúng là những hệ
thống hoạt động phức tạp trong đó các thành viên kênh tương tác lẫn nhau để đạt
những mục tiêu riêng của mình. Một số hệ thống kênh chỉ có những quan hệ kết nối
lỏng lẻo giữa các thành viên, một số hệ thống kênh khác lại có những quan hệ chính
thức và sự kết nối chặt chẽ cao độ. Các hệ thống kênh cũng không cố định mà
thường xuyên có những thay đổi như xuất hiện những tổ chức trung gian mới hay
hình thành những cấu trúc kênh mới. Theo mối quan hệ giữa các thành viên kênh và cách thức thực hiện công việc phân phối của họ, có thể chia các kênh phân phối trên


phối sản phẩm du lịch thường có kích thước lớn.
 Đặc điểm của trung gian: Khi lựa chọn kênh phân phối, doanh nghiệp
cũng cần phải quan tâm đến đặc điểm của các trung gian phân phối sẽ trở thành các
thành viên của hệ thống. Việc xem xét về các trung gian trước hết là khả năng nổi
trội của các trung gian trong việc thực hiện mục tiêu của kênh.
 Phân phối của đối thủ cạnh tranh: Doanh nghiệp cần phải tìm hiểu thêm về kênh
phân phối của đối thủ cạnh tranh và tạo được kênh phân phối có tính thuyết phục hơn.
 Đặc điểm của doanh nghiệp: được xem xét trên hai phương diện: quy mô
doanh nghiệp và sản phẩm doanh nghiệp cung cấp.
 Đặc điểm môi trường marketing: đặc điểm này thường là các vấn đề liên
quan đến nền kinh tế, các chính sách vĩ mô hay môi trường pháp lý. Trong du lịch,
đặc điểm về môi trường có ảnh hưởng chính là môi trường pháp lý và thường ảnh
hưởng đến quyết định về chiều dài của kênh.
 Yêu cầu về mức độ bao phủ thị trường: có ảnh hưởng trực tiếp đền quyết
định về bề rộng của kênh.
 Yêu cầu về mức độ điều khiển kênh: mức độ điều khiển kênh thực chất là
gắn với chính sách quản trị cho các thành viên của kênh. Yêu cầu về mức độ điều
khiển kênh là cơ sở để hạn chế những xung đột dọc.
 Quản lý kênh phân phối: gắn với các nội dung sau:
 Tuyển chọn các thành viên kênh: được xác định trên tương quan: mục tiêu
của kênh, năng lực nổi trội của thành viên trong việc thực hiện mục tiêu của kênh.
 Chính sách chiết khấu: thực chất đây là các chế độ khuyến khích các thành
viên. Trong lĩnh vực du lịch, việc chiết khấu không phải lúc nào cũng đồng nghĩa
với tỷ lệ phần trăm như được gọi là tiền hoa hồng đại lý. Nó cũng có thể biểu hiện
dưới hình thức giá bán mà doanh nghiệp dành cho các đại lý. Mức chiết khấu sẽ
được xác định dựa trên năng lực thực tế, thể hiện bằng số lượng khách hoặc doanh
thu mà một đại lý mang lại cho doanh nghiệp.
 Quản lý sự xung đột: đây là biện pháp để nhằm giảm thiểu những tác động
xấu đến hiệu quả của kênh do các xung đột giữa các thành viên của kênh gây ra.

 Quảng cáo: là một nghệ thuật giới thiệu hàng hóa hay dịch vụ nhằm tới
những thị trường mục tiêu nhất định được thực hiện thông qua các phương tiện
truyền thông và phải trả tiền. Tùy vào mục đích gây ấn tượng của mỗi nhà kinh doanh lữ hành với khách mà họ xác định cho mình những cách thức quảng cáo khác
nhau: quảng cáo sản phẩm ưu thế duy nhất, ưu thế về mặt tình cảm hay quảng cáo
về lối sống, về cách sống. Một số phương tiện quảng cáo hay được các nhà kinh
doanh lữ hành áp dụng là: báo, tạp chí, truyền hình, truyền thanh, quảng cáo ngoài
trời, báo điện tử, ngoài ra doanh nghiệp còn có thể sử dụng cataloge, thư, brocher,
triển lãm, hội chợ,…
 Xúc tiến bán hàng: là hình thức khuyến mại trao giải thưởng trong một
thời gian nhất định để khuyến khích khách hàng đang sử dụng sản phẩm do doanh
nghiệp cung ứng mua nhiều hơn về số lượng và sử dụng thường xuyên hơn; khuyến
khích khách hàng chưa từng sử dụng sản phẩm của công ty mình hay khuyến khích hỗ
trợ những đại lý, những nhà bán buôn, bán lẻ mua nhiều sản phẩm du lịch của công ty,
trợ giúp giới thiệu cho công ty những sản phẩm mới đến với khách hàng gồm: phiếu
thưởng, các chương trình du lịch miễn phí,…
 Tuyên truyền, quan hệ công chúng: là cách thức tạo dựng duy trì và phát
triển các mối quan hệ với các tầng lớp công chúng khác nhau để tạo ra một hình ảnh
tốt, một ấn tượng tốt trong lòng công chúng làm cho họ yêu thích doanh nghiệp.
 Marketing trực tiếp: thông qua các công cụ giao tiếp gián tiếp như thư,
điện thoại, fax, cataloge… để có thể thông tin cho khách hàng hiện có, khách hàng
tiềm năng và yêu cầu họ cung cấp những thông tin phản hồi.
 Bán hàng trực tiếp: Đây là hoạt động giao tiếp trực tiếp giữa người bán
hàng và khách hàng hiện tại, khách hàng tiềm năng. Do có sự tiếp xúc trực tiếp nên
dễ gây ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ, tình cảm và hành vi của người tiêu dùng.
 Mạng Internet và mạng truyền thông tích hợp: Công cụ này sử dụng mạng
Internet kết hợp với các phương tiện truyền thông tích hợp khác để xúc tiến sản
phẩm và dịch vụ đến khách hàng.

P. Giám đốc Chi Nhánh: Dương Thị Công Lý - 0918.073.128
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Công ty du lịch Việt Nam – Hà Nội (Vietnamtourism – Hanoi JSC) tiền thân là
Công ty Du lịch Việt Nam được thành lập ngày 09/07/1960 (Công ty thành lập theo Nghị
định số 26 CP do Hội đồng Chính phủ ban hành, trực thuộc Bộ Ngoại thương) đây cũng là thời điểm đánh dấu sự ra đời của Ngành Du lịch Việt Nam và ngày 09/07 hàng năm
được chọn làm ngày kỷ niệm thành lập Ngành DLVN.
 Ngày 09/04/1990,sau nhiều lần sáp nhập, Hội đồng Bộ trưởng ban hành
NĐ số 119-HĐBT thành lập Tổng Công ty Du lịch Việt Nam trên cơ sở Công ty Du
lịch Việt Nam. Ngày 26/03/1993 Công ty Du lịch Việt Nam tại Hà Nội được thành
lập trên cơ sở tách từ Tổng công ty Du lịch Việt Nam, trực thuộc Tổng cục Du lịch
Việt Nam.
 Ngày 06/07/2007 Công ty chuyển thành Công ty Cổ phần Du lịch Việt
Nam – Hà Nội, hoạt động theo luật doanh nghiệp dưới hình thức Công ty cổ phần
với số vốn điều lệ 30 tỷ VNĐ, Nhà nước (SCIC làm đại diện) nắm giữ 51% số vốn
điều lệ của Công ty. Công ty là một trong những Công ty giầu truyền thống lịch sử
nhất của ngành du lịch Việt Nam.
Những năm qua, Công ty đã phục vụ hàng trăm nghìn khách du lịch quốc tế
đến Việt Nam du lịch và khách Việt Nam đi du lịch trong và ngoài nước. Cho đến
năm 2010, công ty đã ký kết hợp đống hợp tác phục vụ khách với trên 100 hãng lữ
hành tại trên 50 thị trường và vùng lãnh thổ trên thế giới đến Việt Nam du lịch. Thị
trường khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài cũng không ngừng phát triển với
điểm đến là tất cả các nước trên thế giới có tài nguyên du lịch.
Ngoài việc tổ chức tour du lịch thuần túy thì các hình thức du lịch MICE
cũng được Công ty tổ chức chuyên nghiệp và được khách hàng và Nhà nước tin
tưởng: Nếu như năm 2008 Công ty ghi dấu ấn bằng việc tham gia tổ chức, phục vụ
Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc (UN VESAK 2008) lần đầu tiên được tổ chức tại
Việt Nam thì năm 2009 là việc Công ty tham gia cung cấp dịch vụ cho Diễn đàn Du

Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại giúp cho các nhân viên
Vietnamtourism làm việc với mức năng suất lao động cao hơn, chuyên nghiệp hơn,
và tạo ra khả năng phục vụ khách du lịch tốt nhất.
 Cơ cấu tổ chức bộ máy Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức bộ máy của Vietnamtourism – Chi nhánh Huế

Giám đốc
Phòng
kế toán
Phòng
điều hành - Giám đốc chi nhánh: Chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty và Pháp luật
về toàn bộ hoạt động kinh doanh của chi nhánh. Thực hiện công tác đối nội, đối
ngoại, phân công trách nhiệm và thực hiện các thay đổi khi cần thiết.
- Phòng kế toán: Tiến hành theo dõi, ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
theo đúng tiêu chuẩn và chế độ kế toán của Nhà nước, báo định kỳ, kịp thời phản
ánh những thay đổi để công ty có biện pháp xử lý.
- Phòng điều hành: Phòng điều hành của chi nhánh có 6 nhân viên, được bố
trí các công việc theo sự phân công của giám đốc chi nhánh. Đây được xem là bộ
phận tổ chức sản xuất, tiến hành những công việc cần thiết để thực hiện các chương
trình du lịch: nối tour cho công ty, xây dựng các chương trình du lịch nội địa và
outbound. Các công việc cụ thể của phòng điều hành:
+ Triển khai công việc điều hành các chương trình du lịch theo kế hoạch.

- Chương trình du lịch cho khách Việt Nam ra nước ngoài.
- Chương trình du lịch MICE.
Ngoài ra, công ty còn xây dựng các chương trình theo yêu cầu của khách
hàng, các tour thám hiểm; hội nghị; các chương trình Incentive; các tour đặc biệt
như đạp xe đạp, nấu ăn, cựu chiến binh,…
Một số chương trình du lịch tiêu biểu của Vietnamtourism:
Bảng 1: Các tour đi nước ngoài của Vietnamtourism
Khu vực
Chương trình
Thời gian
Châu Á
Huế - Hồ Chí Minh - Singapore -Malaysia
6 Ngày 5 Đêm
Hà Nội - Bắc Kinh - Thượng Hải - Hàng
Châu - Tô Châu
5 Ngày 4 Đêm
Huế - Đà Nẵng – Hồ Chí Minh – Bangkok
– Pattaya
5 Ngày 4 Đêm
Châu Âu
Pháp-Bỉ-Hà Lan-Lucxemburg-Đức
9 Ngày 8 Đêm
Châu Mỹ
Hawaii-Golf tour
8 Ngày 7 Đêm
Châu Úc
Sydney-Canberra-Melbourne
8 Ngày 7 Đêm
(Nguồn: Phòng Điều hành của Vietnamtourism)


thị trường Sing - Mã so với năm 2011. Các thị trường khác trong năm 2011 chiếm
11,3% trong đó trong 2012 chỉ chiếm có 3%.
2.2 Kết quả kinh doanh của công ty qua 3 năm 2010 - 2012
Bảng báo cáo kết quả kinh doanh của công ty là bảng phản ánh tổng hợp tình
hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh theo từng loại trong một thời kỳ nhất
định. Vì vậy, việc xem xét tình hình hoạt động kinh doanh của công ty
Vietnamtourism trong 3 năm 2010-2012 sẽ giúp phần nào đánh giá được mức độ
hiệu quả hoạt động xúc tiến quảng bá của công ty trong giai đoạn đó.

Trích đoạn Tạo ra sản phẩm có chất lượng cao: Xây dựng mối quan hệ tốt với các doanh nghiệp du lịch mà công ty đã và đang liên kết Mở rộng việc liên kết với các công ty du lịch khác trên địa bàn TT Huế Xây dựng các chương trình quảng bá, giới thiệu sản phẩm PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I KẾT LUẬN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status