Sáng kiến kinh nghiệm
Một số biện pháp rèn kĩ năng học
tốt môn tập làm văn ở lớp 5
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
SL % SL % SL % SL %
5A 27 3 11 4 14.8 18 66,6 2 7.6
5B 28 4 14.2 5 17,8 16 57.1 3 10,9
5C 26 3 11,5 4 15,3 16 61.5 3 11,9
THI KHẢO SÁT CUỐI NĂM HỌC 2012 – 2013
Lớp TSHS
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
5A 27 10 37 8 29,6 9 33,4
T
Người đăng kí Bùi Mạnh Hùng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Sông Đốc, ngày 25 tháng 05 năm 2013
BÁO CÁO
TÓM TẮT NỘI DUNG, HIỆU QUẢ SÁNG KIẾN
1. Hiệu quả đạt được:
2. Bài học kinh nghiệm:
3. Phạm vi áp dụng của đề tài:
4. Kết quản và hiệu quả mang lại:
THI KHẢO SÁT ĐẦU NĂM HỌC 2012 – 2013
Lớp
TSHS
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
5A 27 3 11 4 14.8 18 66,6 2 7.6
5B 28 4 14.2 5 17,8 16 57.1 3 10,9
5C 26 3 11,5 4 15,3 16 61.5 3 11,9
THI KHẢO SÁT CUỐI NĂM HỌC 2012 – 2013
5. Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến:
- Nhìn chung tôi cũng đã có rất nhiều cố gắng trong quá trình sử dụng sáng kiến của mình để
triển khai thực hiện. Nhưng sáng kiến vẫn còn nhiều hạn chế, chính vì vậy mà sáng kiến chỉ
được áp dụng ở khối 5 trong trường.
6. Kiến nghị đề xuất:
- Nhà trường cũng như ngành có biện pháp để cho giáo viên, phụ huynh chú trọng cho con
em mình vào phân môn Tập làm văn (Nhất là trong các lớp dưới) .
Ý kiến xác nhận
của Thủ trưởng đơn vị Ngày 25 tháng 05 năm 2013
Người báo cáo Bùi Mạnh Hùng
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG HỌC TỐT MÔN
TẬP LÀM VĂN Ở LỚP 5”
Đề tài thuộc lĩnh vực: Dạy học Tập làm văn
Người thực hiện: Bùi Mạnh Hùng
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nông trường Sông Đốc huyện Trần Văn Thời
tỉnh Cà Mau.
Sinh hoạt tổ chuyên môn: Khối 4 + 5
Nhiệm vụ được phân công: Dạy lớp 5A3
I. PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1/ SỰ CẦN THIẾT (Lí do nghiên cứu)
Phân môn Tập làm văn là một môn có tầm quan trọng trong tất cả các môn học vì chúng
quyết định về nhiều mặt. Trong tất cả các môn học đều phải sử dụng đến hành văn để làm: Lịch
sử, Địa lí, Toán, Chính trị và các phân môn khác của Tiếng việt, … môn Tập làn văn nó còn có
tầm quan trọng cho đến cả sau này khi học sinh không còn học trong mái trường nữa thì môn
Tập làm văn vẫn theo là hành trang để đi vào đời cho các em như: học sinh có làm văn tốt thì ăn
nói mới lưu loát được, muốn có một bài “diễn thuyết” giỏi mang tính thuyết phục thì cũng phải
có hành văn tốt. Vậy có thể nói môn Tập làm văn có tầm ảnh hưởng rất lớn trong cả một thế hệ
con người. Vậy thì ngay trong nhà trường phải dạy như thế nào để các em có thể lĩnh hội môn
nay một cách tốt nhất, làm sao để phát huy khả năng của học sinh, phát huy ngôn ngữ của học
sinh đó là một vấn đề mà mỗi người giáo viên chúng ta cần phải suy nghĩ dạy như thế nào để có
chất lượng.
Qua vài năm được giảng dạy lớp 5 tôi nhận thấy rằng đa số khả năng học môn tập làm văn
của học sinh là quá kém. Học sinh không biết làm một bài văn hoàn chỉnh, không biết dùng từ
làm văn nói riêng là lĩnh vực không thể nào chiếm lĩnh được. Có chăng, chỉ một tỉ lệ phần trăm
ít ỏi là có may mắn học giỏi môn này mà thôi .
b. Nguyên nhân về phía cha mẹ học sinh:
- Một nét tâm lý khá phổ biến của cha mẹ học sinh là muốn cho con học thêm về toán, về
các môn tự nhiên, rất ít cha mẹ muốn cho con học làm văn nếu không có yêu cầu của giáo viên.
- Cha mẹ học sinh cũng còn nhược điểm là ít mua sách môn tập làm văn cho các em đọc,
thường chiều theo ý thích của con. Hiếm thấy nhữ gia đình xây dựng cho con tủ sách phục vụ
tốt cho việc học môn văn ở tiểu học.
PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Nội dung cơ bản của sáng kiến:
1. Cơ sở để cải tiến sáng kiến.
a) Thực ra điều này không mới. Giáo viên nào cũng phải làm. Riêng tôi nghĩ, sau ít nhất
một tháng tôi phải xác định được học sinh tôi dạy có những điều tốt, những điều chưa tốt như
thế nào về làm văn.
Tất nhiên nhận xét kết luận ấy còn phải được bổ xung thường xuyên trong suốt học kỳ,
suốt năm học.
Yêu cầu đặt ra là giáo viên phải hiểu thực sự trình độ người học: Em nào loại giỏi, loại
khá, loại trung bình, loại yếu kém về làm văn của lớp mình (chứ không phải lớp khác).
Điều đó làm cơ sở, làm điểm xuất phát cho bài soạn, cho lượng kiến thức, cho phương
pháp dạy mỗi bài.
b) Ở lớp tôi đã dạy và đang dạy, học sinh có những điểm yếu làm văn cụ thể như sau:
- Các em đều biết một bài văn có ba phần:
Mở bài, thân bài, kết bài. Nhưng viết từng phần như thế nào thì lại lúng túng, tôi giúp các em
bằng cách mỗi dạng bài, chọn một bài văn chuẩn để tập phân tích. Từ đó xác định cho mình có
ý từng phần, diễn đạt từng phần.
Trên đây tôi đã nói ở phần nguyên nhân về nhược điểm của sách tham khảo. Hiện nay rất
may mắn, chúng ta đã có cuốn “Tiếng Việt nâng cao lớp 4, lớp 5. Riêng tôi, tôi thấy 2 cuốn
sách đó đúng là sách tốt cho môn tập làm văn, dạy Tiếng Việt về nội dung, còn có những điều
bàn bạc nhưng các tác giả đã nêu ra quan điểm đúng đắn.
luyện viết câu rất kĩ, kế đó là viết đoạn văn. Chính vì vậy trong lớp 5 giáo viên chú trọng vào
viết đoạn văn cho học sinh.
- Khi viết giáo viên cần chú ý rèn kĩ năng viết được câu mở đoạn cho học sinh, từ câu mở
đoạn mới có thể triển khai viết thành một đoạn văn. Trong đoạn văn cần chú ý cho học sinh
cách tả theo trình tự lô gic nhất định, tránh tình trạng tả đi tả lại chỉ một vấn đề.
- Khi viết đoạn văn cần chú ý nhắc học sinh tránh lỗi lặp từ, nhiều học sinh đã mắc rất
nhiều lỗi đó là lỗi lặp từ, lặp ý trong cùng một đoạn văn. Cần nhắc học sinh khi miêu tả chúng
ta cần tả kĩ các chi tiết để tránh tình trạng học sinh mới viết được 5 đến 7 câu là đã tả xong cảnh
vật đó mà không còn biết tả gì nữa. Tức là học sinh miêu tả một cách rất chung chung đại khái
không đi sâu vào nội dung chi tiết cảnh vật tả.
- Học sinh viết đoạn văn theo yêu cầu của giáo viên:
- Học sinh viết bài, sau đó cho học sinh đọc bài của mình giáo viên cùng cả lớp nhận xét
về bài làm đó.
- Mỗi lần học sinh viết giáo viên nên gợi ý cho học sinh thấy đâu là câu mở đoạn trong
đoạn văn. Từ câu mở đoạn đó triển khai viết từ câu mở đoạn đó. Ví dụ: Câu mở đoạn là: “Quê
hương em rất đẹp.” Vậy quê em đẹp như thế nào thì phân tích và miêu tả ra trong các câu tiếp
theo. Khi hết đoạn cần có câu kết đoạn.
b. Viết cả bài văn.
- Dựa trên quá trình viết đoạn văn thì học sinh có thể viết được cả bài văn, giáo viên lưu ý
cho học sinh viết bài văn có đủ ba phần. Mở bài, thân bài, kết bài.
* Phần mở bài:
- Để viết một bài văn hoàn chỉnh có ý văn tốt giáo viên rèn cho học sinh cách mở bài.
Cũng có thể rèn cho học sinh cách mở bài theo kiểu dán tiếp, hay trực tiếp tùy theo khả năng
tiếp thu làm việc của học sinh. Nhưng tốt nhất giáo viên nên rèn cho học sinh viết mở bài theo
kiểu dán tiếp tức là tả vòng vo loanh quanh sau đó đi vào ý chính cần tả.
- Giáo viên cho học sinh tập viết phần mở bài sau đó cho học sinh đọc và các bạn khác
nhận xét bài viết của học sinh xem đã đúng theo chủ đề chưa, mở bài vậy đã hay chưa. Nếu học
sinh viết chưa được giáo viên nên cho học sinh viết lại, lúc này các bạn viết tốt hơn làm tư vấn
cho bạn mình hoàn thiện bài viết. Giáo viên là người cuối cùng đưa ra nhận xét và kết luận.
* Thân bài:
thuật, càng ít kết quả về sáng tạo, thông minh hồn nhiên ngây thơ.
b. Như vậy bài văn thiếu tính hấp dẫn. Học sinh tiểu học không thích những bài đó. Đó
cũng là nguyên nhân dạy làm văn khó đạt kết quả cao.
c. Tôi chọn dạy thêm những bài văn như trên đây. Đặc biệt chọn những bài thơ phù hợp
với tuổi các em để dạy cảm thụ, dạng viết từ cảm thụ cái đẹp, cái hay, cái lạ của thơ văn.
* Hoặc cho học sinh cảm thụ thấy được cái hay, sự xúc động và những nét giản dị của
Bác.
Học sinh xẽ cảm thụ, phân tích được cái hay cái đẹp về nghệ thuật miêu tả của tác giả
trong thơ hoặc trong văn.
Qua đó, dần dần các em không sợ làm văn nữa, yêu thích và viết văn được.
PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN
1. Hiệu quả đạt được:
- Từ khi áp dụng sáng kiến thì thấy rằng chất lượng vượt lên hẳn, học sinh nhớ bài chắc
chắn hơn, hệ thống hơn; luôn thích học mỗi khi đến bộ môn này. Chính vì vậy mà sau một năm
thực hiện sáng kiến kết quả đạt được như sau:
THI KHẢO SÁT ĐẦU NĂM HỌC 2012 – 2013
Lớp TSHS
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
5A 27 3 11 4 14.8 18 66,6 2 7.6
5B 28 4 14.2 5 17,8 16 57.1 3 10,9
5C 26 3 11,5 4 15,3 16 61.5 3 11,9
THI KHẢO SÁT CUỐI NĂM HỌC 2012 – 2013
Lớp TSHS
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
T
Bùi Mạnh Hùng
5A 27 10 37 8 29,6 9 33,4
5B 28 11 39,2 9 32,1 8 28,7
5C 26 9 34,6 9 34,6 8 30,8