TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
***
CHUYÊN ĐỀ 1
MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH 3
Giảng viên hướng dẫn: Nhóm sinh viên thực hiện:
Nguyễn Lan Hương Nguyễn Minh Chí - S1200237
Võ Thị Tố Như - S1200266
Trần Bảo Trung - S1200288
Lớp: Luật Hành Chính - K38
Cần Thơ, 08/2014
1
CHUYÊN ĐỀ LUẬT HÀNH CHÍNH 3
BÀI 1 : QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO
1. Tôn giáo là gì? Tín ngưỡng là gì? Các loại tín ngưỡng tôn giáo
có ở nước ta? Nêu các văn bản qui phạm pháp luật (VBQPPL)
điều chỉnh về tôn giáo?
1.1 Tôn giáo
1.1.1 Khái niệm:
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin: Tôn giáo là một hình thái ý
thức xã hội do con người sáng tạo ra, nó phản ánh cách giải quyết
mối quan hệ giữa con người với siêu nhiên, hiện thực với hư ảo,
cái trần tục với cái thiêng liêng, cái trần gian với cái siêu trần gian.
Theo Ph. Ăngghen: « Tất cả tôn giáo chẳng qua là phần phản
ánh hư ảo vào trong đầu óc con người – của những lực lượng bên
ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là phản ánh trong
đó những thế lực trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu
trần thế ».
Theo từ điển tiếng Việt, tôn giáo được định nghĩa như sau:
«Hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin
và sùng bái những lực lượng siêu nhiên, cho rằng có những lực
giáo có sự thay đổi phù hợp với kết cấu chính trị và xã hội
của giai đoạn đó. Đến khi khoa học phát triển giúp con
người nhận thức được bản chất của các hiện tượng tự
nhiên và xã hội một cách thấu đáo, nguồn gốc sản sinh ra
tôn giáo không còn tồn tại nữa thì nó sẽ dần mất đi vị trí
3
của nó trong đời sống và trong nhận thức, niềm tin của
con người.
- Tính chất quần chúng: thể hiện ở số lượng tín đồ các tôn
giáo chiếm tỉ cao trong dân số thế giới. Mặc dù khoa học
kĩ thuật tiến bộ nhưng vẫn chưa loại bỏ hết các nguồn gốc
của tôn giáo; thêm vào đó, tôn giáo đáp ứng được phần
nào nhu cầu tinh thần của quần chúng, phản ánh những
khát vọng của những người bị áp bức về một xã hội tự do,
bình đẳng. Do đó, đến nay tôn giáo vẫn được nhiều người
thuộc các tầng lớp xã hội tin theo.
- Tính chất phản khoa học: tôn giáo phản ánh hư ảo thế giới
thực tại bằng các lực lượng siêu nhiên; giải thích các hiện
tượng tự nhiên và xã hội một cách duy tâm và thần bí. Vì
vậy, tôn giáo mang tính chất duy tâm và phản khoa học.
Trong lịch sử, đã nhiều lần tôn giáo sử dụng quyền lực
của mình để đàn áp các nhà khoa học và phủ nhận các
thành tựu khoa học của họ. Ngày nay, các tổ chức tôn giáo
một mặt tận dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật để
phát triển tôn giáo; mặt khác tìm cách giải thích sai lệch
những tiến bộ khoa học, kĩ thuật, gieo rắc những định
mệnh không thể cưỡng lại trong các tín đồ.
1.1.3 Các xu thế của tôn giáo trên Thế Giới
- Thế tục hoá: Trước các tôn giáo chỉ bàn về các siêu nhiên
thần thánh, các hiện tượng này đã vượt qua những hiện tượng
5
nhau để phân chia lại khu vực ảnh hưởng của mình trên thế giới
trên phạm vi toàn cầu trong thế kỷ mới. Hình thành các cuộc
xung đột dân tộc đan xen với xung đột tôn giáo hoặc cơ nguyên
từ tôn giáo. Trong một tôn giáo hoặc kết hợp giữa các tôn giáo
để hợp thành các tôn giáo mới. Xuất hiện các Đảng phái chính
trị mang màu sắc tôn giáo.
1.2 Tín ngưỡng
1.2.1. Khái niệm tín ngưỡng.
Tại Điều 3 Pháp lệnh số 21/2004/PL-UBTVQH11 Tín
ngưỡng, tôn giáo năm 2004
- Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ
tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với
nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có
tình truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian
khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn
hóa, đạo đức xã hội.
- Cơ sở tín ngưỡng là nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng
của công đồng, bao gồm đình, đền, miếu, am, từ đường,
nhà thờ họ và những cơ sở tương tự khác.
- Cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo được tổ chức quyên
góp, nhận tài sản hiến, tặng, cho trên cơ sở tự nguyện của
tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân ngoài
nước theo quy định của pháp luật.
1.2.2. Tín ngưỡng ở Việt Nam.
a. Tín ngưỡng phồn thực
Thời xa xưa, để duy trì và phát triển sự sống, ở những vùng sinh
sống bằng nghề nông cần phải có mùa màng tươi tốt và con người
6
được sinh sôi nảy nở. Để làm được hai điều trên, những trí tuệ sắc
vật đó lại với nhau. Phong tục "giã cối đón dâu" cũng là một biểu
hiện cho tín ngưỡng phồn thực, chày và cối là biểu tượng cho sinh
thực khí nam và nữ
.
Ngoài ra một số nơi còn vừa giã cối (rỗng) vừa
hát giao duyên.
Trống đồng - biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực
Vai trò của tín ngưỡng phồn thực lớn tới mức ngay cả chiếc
trống đồng, một biểu tượng sức mạnh của quyền lực, cũng là biểu
tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn thực:
• Hình dáng của trống đồng phát triển từ cối giã gạo
• Cách đánh trống theo lối cầm chày dài mà đâm lên
mặt trống mô phỏng động tác giã gạo
• Tâm mặt trống là hình Mặt Trời biểu trưng cho sinh
thực khí nam, xung quanh là hình lá có khe rãnh ở
giữa biểu trưng cho sinh thực khí nữ
• Xung quanh mặt trống đồng có gắn tượng cóc, một
biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực (xem thêm Con
cóc là cậu ông trời)
b. Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Do là một đất nước nông nghiệp nên việc sùng bái tự nhiên là
điều đễ hiểu. Điều đặc biệt của tín ngưỡng Việt Nam là một tín
ngưỡng đa thần và âm tính (trọng tình cảm, trọng nữ giới). Có giả
thuyết cho rằng đó là do ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ thời xưa tại
Việt Nam. Các vị thần ở Việt Nam chủ yếu là nữ giới, do ảnh
hưởng của tín ngưỡng phồn thực như đã nói ở trên nên các vị thần
8
đó không phải là các cô gái trẻ đẹp như trong một số tôn giáo, tín
ngưỡng khác mà là các bà mẹ, các Mẫu.
Thờ Tam phủ, Tứ phủ
Á, sau đó mới được phổ biến ở Trung Quốc rồi đến các nước
phương tây. Con rồng có đầy đủ đặc tính của lối tư duy nông
nghiệp: tổng hợp của cá sấu, rắn; sinh ra ở dưới nước nhưng lại có
thể bay lên trời mà không cần cánh; có thể vừa phun nước vừa
phun lửa. Có rất nhiều địa danh Việt Nam có tên liên quan đến
rồng như Thăng Long, Hàm Rồng,
Thực vật được tôn sùng nhất là cây lúa, có Thần Lúa, Hồn Lúa,
Mẹ Lúa, đôi khi ta thấy còn thờ Thần Cây Đa, Cây Cau,
c. Tín ngưỡng sùng bái con người
Ngoài phồn thực, tự nhiên, tín ngưỡng Việt Nam rất coi trọng
con người.
Hồn và vía
Một số dân tộc Đông Nam Á coi linh hồn gồm "hồn" và "vía".
Vía được hình dung như phần trung gian giữa thể xác và hồn.
Người Việt cho rằng người có ba hồn, nam có bảy vía và nữ có
chín vía. Ba hồn gồm: Tinh (sự tinh anh trong nhận thức), Khí
(năng lượng làm cho cơ thể hoạt động) và Thần (thần thái của sự
sống). Bảy vía ở đàn ông cai quản hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi và
miệng. Chín vía ở nữ giới cai quản bảy thứ như ở nam giới cộng
thêm hai vía nữa. Hai vía này có nhiều cách giải thích. Chúng có
10
thể là núm vú có vai trò quan trọng trong nuôi con. Tuy nhiên có
cách giải thích khác. Người Việt thường có câu nói nam có "ba hồn
bảy vía" còn nữ có "ba hồn chín vía", cũng là từ các quan niệm
trên mà ra.
Hồn và vía dùng thể xác làm nơi trú ngụ, trường hợp hôn mê ở
các mức độ khác nhau được giả thích là vía và hồn rời bỏ thể xác ở
các mức độ khác nhau. Nếu phần thần của hồn mà rời khỏi thể xác
thì người đó chết. Khi người chết, hồn nhẹ hơn sẽ bay sang kiếp
khác còn vía nặng hơn sẽ bay là mặt đất rồi tiêu tan. Thế nên mới
vi làng xã, người Việt thờ Thành hoàng. Giống như Thổ công,
Thành hoàng cai quản và quyết định họa phúc của một làng.
Không có làng nào ở Việt Nam mà không có Thành hoàng.
Những người được thờ thường là những người có tên tuổi và địa
vị, có công lao đối với làng đó. Tuy nhiên một số làng còn thờ
những người lý lịch không rõ ràng gì như trẻ con, ăn xin, ăn mày,
trộm cắp nhưng họ chết vào "giờ thiêng" (Giờ xấu theo mê tín dị
đoan).
Vua tổ
Ở phạm vi quốc gia, người Việt thờ Vua tổ, đó là Vua Hùng. Nơi
thờ phụng ở Phong Châu, Phú Thọ. Ngày giỗ tổ là ngày 10 tháng 3
âm lịch.
Người Việt còn thờ bốn vị thánh bất tử, đó là Tản Viên, Thánh
Gióng, Chử Đồng Tử và Liễu Hạnh.
12
Tản Viên biểu hiện cho ước vọng chiến thắng thiên tai, lụt lội;
Thánh Gióng biểu hiện cho tinh thần chống giặc ngoại xâm; Chử
Đồng Tử biểu hiện cho cuộc sống phồn vinh về vật chất; Liễu
Hạnh biểu hiện cho cuộc sống phồn vinh về tinh thần của người
dân Việt Nam.
Danh nhân và Anh hung
Ngoài ra, tại Việt Nam có rất nhiều đền thờ các vị danh nhân
như vua Đinh Tiên Hoàng, Lương Thế Vinh, Trần Hưng Đạo (Tín
ngưỡng Đức Thánh Trần),
d. Tín ngưỡng sùng bái Thần linh
Thổ Địa, Thần Tài, Táo Quân, Hà Bá, Môn Quan, Phúc
Lộc Thọ…
1.3 Các tôn giáo lớn ở Việt Nam
1.3.1. Đạo phật.
Trong số các tôn giáo ở Việt Nam, Phật giáo có số tín đồ đông
tại hòa hợp với Đạo giáo, Khổng giáo và các đức tin bản địa như
tục thờ cúng tổ tiên, thờ Mẫu
Trong khi đó Phật giáo Tiểu thừa lại được coi là tôn giáo chính
của người Khmer.
1.3.2. Đạo thiên chúa (Công giáo RÔMA)
Công giáo Rôma, hay Thiên Chúa giáo La Mã, lần đầu tiên
tới Việt Nam vào thời nhà Lê mạt (đầu thế kỉ 16 tại Nam Định) bởi
những nhà truyền giáo Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, trước khi
Việt Nam là một thuộc địa của Pháp. Pháp khuyến khích người dân
theo tôn giáo mới bởi họ cho rằng nó sẽ giúp làm cân bằng số
người theo Phật giáo và văn hoá phương Tây mới du nhập. Đầu
tiên, tôn giáo này được lan truyền trong dân cư các tỉnh ven biển
Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, sau đó lan tới vùng
châu thổ sông Hồng và các vùng đô thị.
Hiện ở Việt Nam có khoảng 5,5 triệu tín đồ Công giáo, và
khoảng 6.000 nhà thờ tại nhiều nơi trên đất nước.
14
Số giám mục người Việt được Tòa Thánh tấn phong trong 80 năm
thời Pháp thuộc là 4 người, trong 30 năm chiến tranh (1945-1975)
là 33 người ở cả hai miền, từ năm 1976 đến 2004 là 42 người.
1.3.3. Đạo cao đài
Đạo Cao Đài, hay Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, là một tôn giáo
bản địa Việt Nam do Ngô Văn Chiêu, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công
Tắc thành lập năm 1926, với trung tâm là Tòa Thánh Tây Ninh.
Tôn giáo này thờ Đức Cao Đài (hay Thượng Đế), Phật và Chúa
Giê-su. Cao Đài là một kiểu Phật giáo cải cách với những nguyên
tắc thêm vào của Khổng giáo, Lão giáo và Thiên chúa giáo. Các tín
đồ Cao Đài thi hành những giáo điều như không sát sanh, sống
lương thiện, hòa đồng, làm lành, lánh dữ, giúp đỡ xung quanh, cầu
nguyện, thờ cúng tổ tiên và thực hành tình yêu thương vạn loại qua
Người ta cho rằng Hồi giáo đã được truyền vào Việt Nam đầu tiên
là khoảng thế kỉ 10, 11, ở cộng đồng người Chăm. Năm 2004, tại
Việt Nam có khoảng 60.000 tín đồ Hồi giáo, chủ yếu ở Bình
Thuận, Ninh Thuận, An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, Thành phố
Hồ Chí Minh. Có hai giáo phái Hồi giáo của người Chăm: người
Chăm ở Châu Đốc, TP. Hồ Chí Minh, Tây Ninh và Đồng Nai theo
Hồi giáo chính thống, còn người Chăm ở Bình Thuận, Ninh Thuận
theo phái Chăm Bà Ni.
1.4 Các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về tôn giáo
- Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004;
- Nghị định 92/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 của Chính
Phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín
ngưỡng, tôn giáo.
- Nghị định 24/2014/NĐ-CP ngày 04/04/2014 của Chính
phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
16
- Nghị định 37/2014/NĐ-CP Quy định tổ chức các cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh;
- Quyết định 134/2009/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Tôn giáo Chính
phủ trực thuộc Bộ Nội vụ;
- Thông tư 04/2010/TT-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn, tổ chức và biên chế của Ban Tôn giáo trực
thuộc Sở Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương;
- Thông tư 01/2013/TT-BNV ngày 25/3/2013 ban hành và
hướng dẫn sử dụng biểu mẫu về thủ tục hành chính trong
lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo;