Luận văn tốt nghiệp
Quản lý nhà nước về tôn giáo ở thành phố Cần Thơ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN HÀNH CHÍNH
˜&™
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA 32 (2006 – 2010)
Đề tài:
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO
Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Giáo viên hướng dẫn:
Ths. Võ Duy Nam
Sinh viên thực hiện:
Trần Thị Thu Vân
MSSV : 5062520
Lớp:Luật Tư Pháp 3-K32
Cần Thơ, Tháng 04/2010
GVHD: Ths Võ Duy Nam
Trang 1
SVTH: Trần Thị Thu Vân
.............................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
Cần Thơ, ngày
GVHD: Ths Võ Duy Nam
Trang 2
tháng
năm 2010
SVTH: Trần Thị Thu Vân
Luận văn tốt nghiệp
Quản lý nhà nước về tôn giáo ở thành phố Cần Thơ
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
Quản lý nhà nước về tôn giáo ở thành phố Cần Thơ
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ..................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG........................................ 10
1.1 Khái niệm chung về tôn giáo ...............................................................................................10
1.1.1 Lược sử hình thành thuật ngữ “Tôn giáo”...............................................................10
1.1.2 Khái niệm tôn giáo .....................................................................................................10
1.1.3 Một số thuật ngữ tương đồng với tôn giáo ..............................................................11
1.2 Khái niệm tín ngưỡng ...........................................................................................................12
1.2.1 Tín ngưỡng phồn thực ...............................................................................................12
1.2.2 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên ...................................................................................12
1.2.3 Tín ngưỡng sùng bái con người ................................................................................13
1.3 Lịch sử hình thành và tình hình tôn giáo ở Thành phố Cần Thơ .....................................13
1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển các tôn giáo ở Cần Thơ .....................................14
1.3.1.1 Phật giáo...................................................................................................... 14
1.3.1.2 Công giáo .................................................................................................... 15
1.3.1.3 Đạo Tin Lành .............................................................................................. 16
1.3.1.4 Đạo Cao Đài................................................................................................ 17
1.3.1.5 Phật giáo Hòa Hảo ...................................................................................... 18
1.3.2 Đặc điểm chung của các tôn giáo ở thành phố Cần Thơ .......................................19
1.3.2.1 Cần Thơ là một thành phố đa tôn giáo........................................................ 19
1.3.2.2 Tính dung hợp, đan xen, hòa đồng về tín ngưỡng, tôn giáo ....................... 20
1.3.2.3 Thờ cúng tổ tiên, những người có công với làng, với nước ....................... 20
1.3.3 Tình hình tôn giáo ở thành phố Cần Thơ hiện nay ................................................20
CHƯƠNG 2
VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO........................................................ 23
2.1 Quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo .23
2.3.3.7 Đặc điểm của tổ chức tôn giáo: .............................................................................35
2.4 Vai trò quản lý Nhà nước về tôn giáo .................................................................................35
2.4.1 Quản lý Nhà nước và quản lý hành chính Nhà nước đối với tôn giáo ................36
2.4.1.1 Mục tiêu quản lý: ........................................................................................ 36
2.4.1.2 Chủ thể, khách thể quản lý.......................................................................... 36
2.4.1.3 Các phương pháp quản lý ........................................................................... 36
2.4.2 Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo hiện nay ...................................................37
2.4.2.1 Công tác ban hành văn bản liên quan đến công tác quản lý tôn giáo ......... 37
2.4.2.2 Công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng.......... 38
2.5 Bộ máy quản lý Nhà nước về tôn giáo................................................................................49
2.5.1 Cấp Trung ương..........................................................................................................49
2.5.2 Cấp địa phương...........................................................................................................51
2.5.2.1 Quản lý nhà nước về tôn giáo cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: 51
2.5.2.2 Quản lý nhà nước về tôn giáo cấp quận huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
................................................................................................................................. 51
2.6.2.3 Quản lý nhà nước về tôn giáo của Ủy ban cấp xã, phường, thị trấn: ......... 52
2.6 Bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở thành phố Cần Thơ ...................52
2.6.1 Nhiệm vụ quyền hạn của Ban Tôn giáo: .................................................................52
2.6.2 Nhiệm vụ quyền hạn Phòng tôn giáo huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh:
........................................................................................................................................................54
GVHD: Ths Võ Duy Nam
Trang 5
SVTH: Trần Thị Thu Vân
Luận văn tốt nghiệp
1. Lý do chọn đề tài:
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa văn hóa. Ngay từ những ngày đầu dựng
nước và trãi qua hàng nghìn năm giữ nuớc hơn 54 dân tộc anh em đã cùng nhau sinh sống
trên một lãnh thổ với nhiều nền văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống khác nhau tạo
nên những sắc thái đặc biệt cho mỗi tộc người và cũng xây dựng nên một nền văn hóa đặc
sắc và đa dạng cho đất nước.
Ý thức được tầm quan trọng của những giá trị văn hóa dân tộc nói chung và đời
sống tâm linh nói riêng, mà tín ngưỡng, tôn giáo là một phần tạo nên giá trị văn hóa đó
mà Hiến Pháp qua các giai đoạn 1946, 1959, 1980, 1992 đã ghi nhận quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo như là một quyền cơ bản của công dân. Theo đó, công dân có quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình
đẳng trước pháp luật. (Đoạn 1, Điều 70 Hiến Pháp 1992, sửa đổi, bổ sung 2001).
Những năm gần đây, các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo có chiều hướng đang phục
hồi và phát triển mạnh ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Rõ ràng tôn giáo không
mất đi vị trí của nó trong đời sống xã hội mà ngược lại nó đang có chiều hướng phát triển.
Hiện nay, hầu hết các tôn giáo lớn ở Việt Nam được Nhà nước công nhận đều có những
đường hướng hành đạo ngày càng gắn bó với dân tộc, tuân thủ pháp luật, thông qua việc
thực hiện các phương châm: “Đạo pháp, dân tộc và xã hội chủ nghĩa”, sống “tốt đời, đẹp
đạo”, từ đó đã thắt chặt thêm tình đoàn kết lương giáo và làm cho mối quan hệ giữa tôn
giáo và các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ngày càng gắn bó hơn. Mặt
khác, gần đây do điều kiện mở cửa và hội nhập quốc tế, do tác động của nền kinh tế thị
trường mà trong các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo cũng phát sinh những vấn đề cần
quan tâm như: tình trạng truyền đạo trái phép, xây dựng sửa chữa nơi thời tự không phải
chỉ thuần túy cho tu hành mà nhằm ý đồ mở rộng thân thế để lôi kéo tín đồ, một số người
còn hành nghề mê tín dị đoan, thương mại hóa các hoạt động tôn giáo. Bên cạnh đó, do
chưa hiểu đầy đủ chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước nên một số chức sắc, tín đồ
còn nghi ngại, số ít người bị tác động của kẻ địch và các phần tử xấu dẫn đến suy nghĩ
lệch lạc, thậm chí bất chấp chính quyền địa phương. Ngày nay, các thế lực thù địch ở
trong và ngoài nước đang thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình để chống phá cách
mạng Việt Nam, các thế lực đó đặc biệt quan tâm đến vấn đề lợi dụng tôn giáo, chúng gắn
tại. Tìm hiểu phương thức hoạt động cũng như vai trò và trách nhiệm của các cơ quan
quản lý nhà nước về tôn giáo. Từ đó, có thể đưa ra một số kiến nghị nhằm khắc phục
những hạn chế trong công tác quản lý đồng thời đề ra phương thức phát huy vai trò quản
lý của nhà nước về tôn giáo
4. Đối tượng nghiên cứu:
Là các vấn đề lý luận chung về tôn giáo, vai trò của Nhà nước trong vấn đề quản lý
tôn giáo, tín ngưỡng. Trong đó, người viết tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu tôn giáo
và công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở phạm vi khu vực thành phố Cần Thơ.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo như Pháp lệnh, Nghị
định,…Luận văn chọn lọc những thành tựu nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn liên
quan của các tác giả và các đề tài nghiên cứu khoa học.
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin trong đó có chủ
nghĩa xã hội khoa học, áp dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, gắn lý luận
với thực tiễn để thực hiện mục đích của đề tài.
GVHD: Ths Võ Duy Nam
Trang 8
SVTH: Trần Thị Thu Vân
Luận văn tốt nghiệp
Quản lý nhà nước về tôn giáo ở thành phố Cần Thơ
6. Kết cấu của đề tài:
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có ba
XIII, “Tông giáo” lại có ý nghĩa hoàn toàn khác, nó chỉ nhằm chỉ đạo Phật, “Tông” là lời
của đệ tử Đức Phật, “Giáo” là lời thuyết giảng của Đức Phật.
Thuật ngữ “Tông giáo” được truyền vào Việt Nam từ cuốn thế kỷ thứ XIX nhưng
do kỵ húy của vua Thiệu Trị nên được gọi là “Tôn giáo”. Như vậy, thuật ngữ tôn giáo bắt
đầu được sử dụng ở Châu Âu chỉ hai nhánh của Thiên Chúa giáo nhưng sau đó thuật ngữ
này lại làm nhiệm vụ chỉ những tôn giáo.
1.1.2 Khái niệm tôn giáo
Khái niệm tôn giáo là một vấn đề được giới nghiên cứu về tôn giáo bàn cãi rất
nhiều. Ở đây, người viết đưa ra một số quan điểm về tôn giáo của một số nhà nghiên cứu
ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Các nhà thần học cho rằng: “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con
người”.
Một số nhà tâm lý học cho rằng: “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong
nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao
giờ có tôn giáo”.
Đối với C.Mac tôn giáo lại mang bản chất xã hội: “Tôn giáo là tiếng thở dài của
chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần của trật tự
không có tinh thần”1.
1
C.Mác – Ph.Ănghen, toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, T20, Tr 437.
GVHD: Ths Võ Duy Nam
Trang 10
SVTH: Trần Thị Thu Vân
giáo, Thiên chúa giáo, “giáo” là giáo hóa, là dạy bảo theo đạo lý của tôn giáo.
- Thờ: có nghĩa bao hàm một hành động biểu thị sự sùng kính một đấng siêu nhiên,
thần linh, tổ tiên, đồng thời có ý nghĩa như cách ứng xử với bề trên cho phải đạo như thờ
vua, thờ cha mẹ hay một người nào đó mà mình mang ơn.
Thờ thường đi đôi với cúng. Cúng cũng có nhiều ý nghĩa, vừa mang tính tôn giáo,
vừa mang tính thế tục. Cúng theo tôn giáo có thể hiểu là hiến tế, hiến dâng lễ vật cho thần
linh, cho người đã khuất, nhưng cúng với ý nghĩa trần tục là đóng góp cho công ích, từ
thiện.
GVHD: Ths Võ Duy Nam
Trang 11
SVTH: Trần Thị Thu Vân
Luận văn tốt nghiệp
Quản lý nhà nước về tôn giáo ở thành phố Cần Thơ
1.2 Khái niệm tín ngưỡng
Tín ngưỡng cũng là một hình thức của sự sùng bái, tôn thờ các lực lượng siêu
nhiên của con người. Tín ngưỡng là nét văn hóa lâu đời và là yếu tố quan trọng nhất của
tôn giáo vì tôn giáo ra đời là dựa vào niềm tin nào đó có sẵn trong sự tín ngưỡng. Trong
quá trình truyền đạo, những nhà hoạt động tôn giáo luôn tìm cách củng cố lòng tin để từ
đó phát triển thêm tín đồ. Đó là tín ngưỡng tôn giáo. Bên cạnh tín ngưỡng tôn giáo, ở Việt
Nam còn có các hình thức tín ngưỡng tôn giáo khác như: tín ngưỡng phồn thực, tín
ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người.
1.2.1 Tín ngưỡng phồn thực
Ngay từ đầu, duy trì và phát triển sự sống đã là nhu cầu thiết yếu nhất của con
người. Đối với đất nước có nền văn hóa nông nghiệp như nước ta, điều đầu tiên muốn
Quản lý nhà nước về tôn giáo ở thành phố Cần Thơ
có sức mạnh to lớn, đến nỗi dưới thời Lý, nhiều lần triều đình đã rước tượng Pháp Vân
(thần Mây) về Thăng Long, thậm chí rước theo đoàn quân đi đánh giặc2.
Trong mảng tín ngưỡng sùng bái tự nhiên còn có việc thờ động vật và thực vật.
Chim, rắn, cá, sấu là những loài động vật phổ biến hơn cả ở vùng sông nước và do vậy
nên chúng được sùng bái hàng đầu.Bên cạnh đó, thiên hướng nghệ thuật của loại hình văn
hóa nông nghiệp còn tôn sùng thực vật nhất là cây lúa. Khắp nơi dù là người Việt hay các
vùng, các dân tộc đều có tín ngưỡng thờ thần Lúa, Hồn Lúa…kế đến là các loại cây xuất
hiện sớm như cây Cau, cây Đa,…
1.2.3 Tín ngưỡng sùng bái con người
Trong con người có hai mặt tồn tại song song với nhau là cái vật chất và cái tinh
thần. Cái tinh thần khó nắm bắt nên người xưa đã thần thánh hóa nó thành khái niệm “linh
hồn” và linh hồn trở thành đầu mối tín ngưỡng của người Việt .
Người Việt quan niệm, cái chết là cơ thể từ trạng thái động trở thành tĩnh, cho nên
theo triết lý âm dương thì phần hồn đi từ cõi dương (dương gian) sang cõi âm (âm phủ).
Đó là một thế giới khác, là nơi của ông bà tổ tiên, nhưng dù xa lìa cõi dương nhưng ông
bà tổ tiên vẫn thường xuyên đi về thăm nom con cháu, phù hộ cho con cháu đó cũng là cơ
sở hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Nó có mặt ở nhiều dân tộc Đông Nam Á và là
nét đặc thù của của vùng văn hóa này, nhưng đối với người Việt nó gần như trở thành một
thứ tôn giáo, nhiều nơi còn gọi là đạo ông bà, ngay cả những người không tin thần thánh
cũng đặt bàn tổ tiên trong nhà.
1.3 Lịch sử hình thành và tình hình tôn giáo ở Thành phố Cần Thơ
Cần Thơ là trung tâm của Đồng bằng sông Cửu Long, là trung tâm kinh tế - chính
trị của khu vực. Cần Thơ nằm bên bờ Tây sông Hậu, có diện tích tự nhiên là 1.390 km2,
đất đai màu mỡ, hệ thống sông ngòi chằng chịt, cách biển Đông 75 km, dân số là
1.187.000 người . Trong lĩnh vực lịch sử văn hóa, vùng đất nơi đây nổi tiếng về bề dày
bậc nhất của cả vùng Nam Bộ. Hiện nay, thành phố Cần Thơ có năm đơn vị hành chính
quận: Ninh Kiều, Bình Thủy, Ô Môn, Cái Răng, Thốt Nốt và bốn đơn vị hành chính
đời lý giải căn nguyên của nỗi khổ và tìm đường giải thoát cho con người khỏi nỗi khổ
triền miên trong xã hội nô lệ Ấn Độ.
Người sáng lập ra đạo Phật là Thái tử Sidharta (Tất- đạt- đa), họ là Gotama (Cồ
đàm hay còn gọi là Cù đàm), thuộc bộ tộc Sakyamuni, là con của vua Tịnh Phạn
Điểm khác biệt của Phật giáo và các tôn giáo khác là Phật giáo không đề cập đến
thần sáng tạo ra thế giới và con người. Phật giáo có hệ thống triết học rất phát triển, gồm
thế giới quan và nhân sinh quan, trong đó đề cao vai trò của con người, thiên về một triết
lý sống, một phương pháp rèn luyện nhân cách hướng thiện. Giáo lý Phật giáo là cả một
hệ thống đồ sộ, tập trung trong tam tạng kinh điển bao gồm: kinh tạng, luận tạng và luật
tạng với nhiều nội dung đa dạng và sâu sắc, trong đó có một số nội dung cơ bản như: tứ
diệu đế, lý duyên khởi và thập nhị nhân duyên, thuyết vô thường, vô ngã, luân hồi, nghiệp
báo, niết bàn.
Về cơ bản, Phật giáo có hai giới luật quan trọng là ngũ giới và thập thiện, quy định
những điều mà những người theo đạo Phật phải tuân theo. Người theo đạo Phật chia thành
hai loại:
- Người tu hành: thoát khỏi gia đình và sinh hoạt xã hội, đi tu ở chùa theo quy
định. Nam gọi là tăng, nữ gọi là ni
- Người tu tại gia: Thờ Phật, lễ Phật tại nhà theo ngũ giới và thập thiện gọi là cư sĩ
hay phật tử.
Chức sắc, nhà tu hành:
- Tăng có Hòa thượng, Thượng tọa, Đại Đức, Sadi được thọ giới từ tiểu lên, Tiểu
(điệu) là người xuất gia tu hành.
- Ni có Ni trưởng, Ni sư, Ni cô, Sadini, Tiểu (điệu) cũng phải thọ giới và tấn phong
như bên Tăng.
GVHD: Ths Võ Duy Nam
Trang 14
SVTH: Trần Thị Thu Vân
theo nước Chúa. Cao nhất là Giáo hội- Nhà nước La Mã, đơn vị hạt nhân là xứ đạo (giáo
xứ, họ đạo). Trên thế giới, Công giáo đã gắn chặt với nhiều biến động của lịch sử nhân
loại và là rường cột của chế độ phong kiến Châu Âu. Với tư cách là một nhà nước, Giáo
hội Công giáo cũng tham gia vào hoạt động quốc tế như những nhà nước khác.
Giáo hội được điều hành bởi hàng giáo phẩm, thực hiện theo giáo luật. Giáo hoàng
cai quản giáo hội toàn cầu và là quốc trưởng của Nhà nước Vaticăn. Các giám mục cai
quản các giáo phận ở địa phương. Giám mục tuyệt đối phải phục tùng Giáo hoàng. Các
linh mục cai quản các giáo xứ, phải tuyệt đối phục tùng giám mục.
GVHD: Ths Võ Duy Nam
Trang 15
SVTH: Trần Thị Thu Vân
Luận văn tốt nghiệp
Quản lý nhà nước về tôn giáo ở thành phố Cần Thơ
Công giáo có một hệ thống giáo lý, giáo luật, nghi lễ rất phức tạp và chặt chẽ.
Công giáo được các giáo sĩ người Pháp truyền vào Cần Thơ khá sớm, khoảng cuối thế kỷ
XIX. Linh mục người Pháp, Vicent Gonet đã mở đầu công cuộc truyền giáo ở đất Cần
Thơ. Những xứ đạo được thành lập sớm ở Cần Thơ như Trà Lồng (1878) nay thuộc xã
Long Phú huyện Long Mỹ, họ đạo Đức Bà (1880), họ đạo Nàng Rền nay thuộc xã Hương
Phú, thị xã Ngã Bảy,…Trước năm 1883, tại xã Thới Thuận, huyện Thốt Nốt đã tồn tại
một họ đạo, vào thời vua Tự Đức cấm đạo, đồng bào Công giáo nơi đây tản mác, một số
trôi dạt về vùng Thất Sơn (tỉnh An Giang). Năm 1883, linh mục Domont về Bò Ót (Thốt
Nốt) quy tụ một số giáo dân cũ, mở rộng truyền giáo xây dựng nhà thờ Bò Ót. Năm 1889,
linh mục Duquet khởi công xây dựng nhà thờ Cần Thơ, nay là nhà thờ Chánh tòa Cần
Thơ. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, một số linh mục và giáo dân bị lợi dụng, tiếp
Luận văn tốt nghiệp
Quản lý nhà nước về tôn giáo ở thành phố Cần Thơ
Đạo Tin Lành tin rằng Đức Mẹ Maria sinh ra Chúa Giêsu một cách mầu nhiệm
nhưng không xem bà là mẹ Thiên Chúa và chỉ đồng trinh cho đến khi sinh ra Thiên Chúa.
Bên cạnh đó, đạo Tin Lành còn tin thiên sứ, các thánh tông đồ, các thánh tử vì đạo và các
thánh khác nhưng không sùng bái và thờ lạy họ như Công giáo. Tin có thiên đàng và địa
ngục nhưng không coi trọng nó như một công cụ để khuyến khích hay răn đe, trừng phạt
con người.
Về mặt tổ chức: Đạo Tin Lành không lập Giáo hội duy nhất cho toàn đạo mà xây
dựng các giáo hội riêng rẽ, độc lập với các hình thức khác nhau, tùy theo hệ phái và từng
quốc gia. Nhà thờ đạo Tin Lành tuy có cấu trúc hiện đại nhưng có sự bày trí đơn giản.
Đạo Tin Lành quan tâm đến các vấn đề của cuộc sống hằng ngày như khuyên con
người sống văn minh, loại bỏ những hủ tục trong may chay, cưới hỏi, cúng lễ,… quy định
những điều cấm kỵ như không được rượu chè, ma túy, đánh chửi nhau… nên dễ lôi kéo
quần chúng theo đạo. Đạo Tin Lành còn có một đặc điểm nữa là không chấp nhận điều gì
trái với kinh thánh, không cho tín đồ thờ cúng tổ tiên, các lễ hội…đều bị xem là khác điều
Chúa dạy. Vì lẽ đó mà nhiều dân tộc theo đạo Tin Lành bị buộc phải từ bỏ tôn giáo, văn
hóa truyền thống của dân tộc mình.
Đạo Tin Lành được phát triển đến Cần Thơ năm 1921 do mục sư người Pháp
Herbert A.Jackson được cử đến Cần Thơ làm công việc truyền giáo. Các giáo sĩ mướn
một căn phố đối diện với Tòa án (nay là đường Phan Đình Phùng) làm nơi sinh hoạt tôn
giáo. Đạo Tin Lành phát triển mạnh vào thời kỳ đế quốc Mỹ thực hiện chính sách thực
dân kiểu mới tại miền Nam (1954-1975), đế quốc Mỹ lợi dụng đạo Tin Lành vào các mục
tiêu chính trị, dành cho Hội Thánh Tin Lành nhiều đặc quyền đặc lợi, đưa nhiều sĩ quan
Mỹ núp dưới danh nghĩa mục sư nhằm can thiệp và chi phối Giáo hội Tin Lành Việt
Nam. Tuy nhiên, nhiều tín đồ Tin Lành đã nhận rõ âm mưu của Mỹ nguyh nên đã bí mật
tham gia cách mạng, các nhà thờ lần lượt được xây dựng lại, tín đồ gia tăng, một số Hội
thánh được thành lập: Chi hội Cái Răng (1962), Chi hội An Phú (1966), Chi hội Thới Hòa
cầu kỳ. Đạo Cao Đài có đạo phục chung là màu trắng, khăn đóng đen.
Về tổ chức: có hai cấp là trung ương và cơ sở. Tương ứng với bộ máy tổ chức ấy,
đạo Cao Đài có một hệ thống chức sắc bao gồm nhiều cấp bậc khác nhau với những qui
định về số lượng khá cụ thể.
Do khác nhau về phương hướng hành đạo trong năm 1926, ông Ngô Minh Chiêu
người nổi bật nhất trong 12 vị sáng lập đạo Cao Đài đã từ chức về Cần Thơ. Đạo Cao Đài
đến Cần Thơ sớm nhất là phái Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi.
Cao Đài Tây Ninh truyền đến Cần Thơ năm 1930 do ông Lê Văn Sĩ người làng
Nhơn Ái, quận Châu Thành đi Tây Ninh học đạo và trở về quê phổ biến đạo lý.Giữa năm
1930, thánh thất Cao Đài Tây Ninh đầu tiên được thành lập tại Nhơn Ái.
1.3.1.5 Phật giáo Hòa Hảo
Phật giáo Hòa Hảo gọi tắt là đạo Hòa Hảo. Người sáng lập ra đạo này là ông
Huỳnh Phú Sổ, còn gọi là Đức Huỳnh Giáo Chủ (vì ông là nhân vật được xem như giáo
chủ của đạo Hòa Hảo). Ông sinh năm 1920 tại làng Hòa Hảo, huyện Tân Châu , tỉnh Châu
Đốc (nay là tỉnh An Giang) trong một gia đình địa chủ giáo chủ giàu có. Đạo Hòa Hảo là
một đạo cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với tín ngưỡng cư dân Nam bộ, lan tràn khắp các
tỉnh miền Tây cùng với một số đạo khác tồn tại đến ngày hôm nay.
Về giáo lý: giáo lý Phật giáo Hòa Hảo cũng là một sự tổng hợp của các giáo lý
khác, nhưng lại mang một ý nghĩa thực tiễn, gần gũi với cuộc sống hơn nhất là cuộc sống
của những người nông dân nghèo. Với từng bước tu tập từ thấp lên cao, nếu muốn học
làm Phật trước phải học làm người thông qua tiến trình “Học Phật -Tu Nhân”. Phần học
Phật chủ yếu dựa vào tư tưởng của Phật giáo nhưng có giản lược và có đôi chỗ sửa đổi
GVHD: Ths Võ Duy Nam
Trang 18
SVTH: Trần Thị Thu Vân
Đạo công giáo được thành lập tại thị trấn Cái Răng, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ, là
nơi đào tạo linh mục cho giáo hội Công giáo ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
- Đạo Tin Lành Việt Nam thành lập địa hạt Tây Nam Bộ năm 1972. Địa hạt Tây
Nam Bộ của Tin Lành Việt Nam gồm các tỉnh phía Tây sông Hậu, trụ sở đặt tại đường
Nguyễn Trãi thành phố Cần Thơ
- Đạo Cao Đài, phái Chiếu Minh Long Châu ra đời năm 1956, Tòa thánh Long
Châu được xây dựng tại xã Tân Phú Thạnh, huyện Châu Thành,…
GVHD: Ths Võ Duy Nam
Trang 19
SVTH: Trần Thị Thu Vân
Luận văn tốt nghiệp
Quản lý nhà nước về tôn giáo ở thành phố Cần Thơ
1.3.2.2 Tính dung hợp, đan xen, hòa đồng về tín ngưỡng, tôn giáo
Tính hòa hợp, đan xen của tín ngưỡng, tôn giáo ở Cần Thơ được thể hiện khá rõ
nét qua những đặc điểm sau:
- Trên điện thờ của một số tôn giáo dễ chấp nhận sự hiện diện của các vị thần
thánh…của các tôn giáo khác; tín đồ của một tôn giáo dễ tham gia vào các hành vi tôn
giáo khác.
- Đối với nhiều người dân thành phố Cần Thơ, rất khó xác định tiêu chuẩn tôn giáo
cụ thể của họ. Không ít người sẵn sàng chấp nhận cả thần, thánh, tiên, phật, … họ tham
gia các lễ nghi tôn giáo lớn nhưng vẫn chăm chỉ thờ cúng tổ tiên. Bên cạnh việc theo các
tôn giáo, nhiều người còn tin vào hình thức ma thuật, bói toán, tướng số,… những hiện
tượng này ít nhiều dẫn đến sự giảm sút vẻ linh thiêng, thanh khiết của tôn giáo.
Luận văn tốt nghiệp
STT
Quản lý nhà nước về tôn giáo ở thành phố Cần Thơ
Tôn Giáo
Cơ sở tôn giáo
Chức sắc, nhà
tu hành
Tín đồ
1
Phật giáo
176
922 vị
29.393 người
2
Phật giáo Khmer
4
18 vị
203.764 người
6
Tin Lành Việt Nam
6
0
4.962 người
Trong năm qua, các cuộc đại hội, hội nghị tôn giáo lớn được tổ chức trang trọng
như Đại giới đàn Huệ quang do Ban Trị sự Phật giáo tổ chức (tháng 11 năm 2009); Hội
đồng điều hành Học viện Phật giáo Nam Tông Khmer tổ chức tổng kết năm học; Ủy ban
Đoàn kết Công giáo thành phố Cần Thơ đại hội nhiệm kỳ; Ban quy ước các phái Cao Đài
tổ chức Hội nghị phát động cuộc vận động, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh;….song song đó, các cuộc đại lễ cũng đã được tổ chức trang trọng như Đại lễ
Phật đản, lễ trao kinh sách Phật giáo Nam Tông Khmer; Ban trị sự Phật giáo thành phố tổ
chức văn nghệ Bông hồng tặng mẹ nhân dịp Đại lễ Vu Lan, nhân dịp Kỷ niệm ngày
thương binh liệt sĩ (27/7) Ban đoàn kết Công giáo phối hợp tổ chức lễ cầu nguyện cho các
Linh mục, tu sĩ và nhân dân đã hy sinh vì Tổ quốc; Phật giáo Hòa Hảo tổ chức lễ đản sinh
Đức Hhuỳnh Phú Sổ; các cơ sở thờ tự Phật giáo Nam tông Khmer tổ chức tết
CholchnamThmay, lễ Sen Đôl-ta và lễ Dâng y Kathina trong không khí vui tươi, tiết
kiệm…
Hoạt động từ thiện, nhân đạo của các tổ chức tôn giáo được các tổ chức, cá nhân
Quản lý nhà nước về tôn giáo ở thành phố Cần Thơ
Đóng góp làm đường nông thôn, xây
2
Công giáo
dựng nhà tình thương, cấp học bổng
sách vở, tặng quà cho hộ nghèo,…
5.000.000.000 đồng và
14 tấn gạo
Hỗ trợ quà cho hộ nghèo nhân dịp Tết
3
Phật giáo
Nguyên đán và lễ Phật đản, Tiếp sức 2.814.990.000 đồng
trong kỳ thi Đại học năm 2009,…
4
5
6
Tin Lành
Hỗ trợ bà con nghèo; khám bệnh cấp
người tàn tật,…
Tịnh độ
Khám bệnh, châm cứu cho bệnh nhân,
cư sĩ
cấp thuốc,…
152.700.000 đồng
627.441.000 đồng
Nhìn chung, trong năm các cuộc đại hội, hội nghị tôn giáo được tổ chức theo Hiến
chương, Giáo luật và phù hợp với pháp luật. Việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm,
thuyên chuyển, bầu cử, suy cử chức sắc, nhà tu hành, việc sửa chữa, xây dựng nơi thờ tự
được thực hiện theo yêu cầu của tổ chức tôn giáo. Quan hệ quốc tế của tổ chức, cá nhân
tôn giáo ngày càng mở rộng đáp ứng yêu cầu quan hệ của các tôn giáo. Hoạt động từ
thiện, nhân đạo của các tôn giáo ngày càng phát triển rộng trên nhiều lĩnh vực, giá trị vật
chất ngày càng cao.
Tuy nhiên, những hoạt động vi phạm cần lưu ý như một số trường hợp xây dựng
chùa, dựng tượng Phật không xin phép hoặc không đúng với giấy phép đã cấp, một số nơi
điều trị bênh mang tính chất mê tín dị đoan,và gân đây nhất là truyền đạo trái phép của
Đặng Thành Định và Đặng Văn Nghĩa ở phường Phước Thới quận Ô Môn lợi dụng danh
nghĩa tín đồ Phật giáo Hòa Hảo để truyền đạo trái phép gây mất trật tự xã hội và làm giảm
sút lòng tin của tín đồ đối với tôn giáo này đang được các cơ quan chức năng phối hợp
điều tra và làm rõ.
GVHD: Ths Võ Duy Nam
Trang 22
người khác hưởng, vì phải chịu cảnh bần cùng và cô độc”6. Chính sự bất lực của giai cấp
bị bóc lột, hay cũng như chính sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với thiên
nhiên để từ đó con người bắt đầu hình thành lòng tin vào những phép màu, thần thánh,
lòng tin vào cuộc đời tốt đẹp ở thế giới bên kia.
Như vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin coi tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, phản
ánh một cách hoang đường hư ảo hiện thực khách quan. Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác –
Lênin cũng thừa nhận vai trò của tôn giáo, thừa nhận tôn giáo còn tồn tại lâu dài, và cần
phải tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân. Để giải quyết
vấn đề tôn giáo cần một thời gian dài, gắn liền với quá trình vận động cách mạng, cải biến
5
6
C.Mác – Ph. Ănghen, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia 1994, Tập 1, Tr 570
V.I Lênin, NXB Chính trị quốc gia 2005 , Tập 30, Tr 237
GVHD: Ths Võ Duy Nam
Trang 23
SVTH: Trần Thị Thu Vân
Luận văn tốt nghiệp
Quản lý nhà nước về tôn giáo ở thành phố Cần Thơ
xã hội và nâng cao nhận thức quần chúng. Quan điểm chung của chủ nghĩa Mác – Lênin
về việc giải quyết vấn đề tôn giáo gồm các vấn đề sau:
- Thứ nhất, khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo gắn liền với
Trang 24
SVTH: Trần Thị Thu Vân
Luận văn tốt nghiệp
Quản lý nhà nước về tôn giáo ở thành phố Cần Thơ
2.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ là sự vận dụng sáng tạo
quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở nước ta mà còn có những điểm
mới, những phát triển mới.
Đó là sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc, giữa độc lập dân
tộc với chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi các giá trị đạo đức của các tôn giáo là
những tinh thần quý giá của nhân loại. Là một người cộng sản theo chủ nghĩa Mác - Lê
nin, Người không hề có sự phân biệt đối xử giữa tôn giáo này và tôn giáo khác, giữa
người có đạo và người không có đạo. Tư tưởng đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc, không
phân biệt tín ngưỡng tôn giáo là tư tưởng nhất quán và trở thành chính sách lớn của Bác.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo được xây dựng trên cơ sở nhận thức rõ đặc
điểm văn hóa Việt Nam - một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, mỗi tôn giáo, tín ngưỡng
có quá trình hình thành, phát triển với những đặc điểm riêng, tồn tại đan xen ảnh hưởng
lẫn nhau.
Hồ Chí Minh đặc biệt rất quan tâm đến vấn đề đoàn kết tôn giáo. Sau ngày độc lập
2/9/1945, ngày 3/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày trước Hội đồng chính phủ
“Về những vấn đề cấp bách của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” trong đó Người đề
nghị Chính phủ ra tuyên bố “Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”7. Đối với tôn
giáo, hơn bao giờ hết cần đoàn kết thực lòng và bền vững. Người cho rằng việc đoàn kết
lương giáo, đoàn kết giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo với những người không có