XÂY DỰNG GIAI cấp CÔNG NHÂN VIỆT NAM TRƯỚC tác ĐỘNG của TOÀN cầu hóa - Pdf 23

xây dựng Giai cấp công nhân Việt Nam tr-
ớc tác động của toàn cầu hóa
Giai cấp công nhân là giai cấp những ngời lao động hoạt động sản xuất
trong các nghành công nghiệp thuộc các trình độ kỹ thuật khác nhau, mà địa
vị kinh tế xã hội tuỳ thuộc vào chế độ xã hội đơng thời. Dới xã hội cũ họ chỉ
đợc coi là những ngời nghèo khổ đáng thơng, tuy nhiên Mác, Ăngghen bằng
sự thiên tài của mình, các ông đã kế thừa và phát triển những giá trị t tởng
nhân loại, đi sâu vào nghiên cứu xã hội t bản và phát hiện ra rằng giai cấp
công nhân là lực lợng xã hội có sứ mệnh lịch sử thế giới là lật đổ chủ nghĩa t
bản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng
sản trên phạm vi toàn thế giới. Các ông cũng khẳng định sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân là khách quan, do địa vị kinh tế xã hội của họ quy định và
do đó giúp cho giai cấp công nhân là giai cấp đại diện cho lực lợng sản xuất
hiện đại, cho phơng thức sản xuất tiên tiến, có tính tổ chức, tính kỷ luật cao,
có tinh thần cách mạng triệt để và tính thần quốc tế cao cả. Việc phát hiện ra
sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân là một trong những cống hiến
vĩ đại của Mác và Ăng ghen, nhờ có phát kiến vĩ đại này đã giúp cho giai cấp
công nhân ý thức sâu sắc về địa vị và sứ mệnh lịch sử của mình, để từ đó từng
bớc lãnh đạo và cùng toàn thể nhân dân lao động đấu tranh thực hiện sứ mệnh
lịch sử đó, đa loài ngời tiến tới một xã hội văn minh, tiến bộ, không còn áp
bức, bóc lột, bất công
Giai cấp công nhân Việt nam là một lực lợng xã hội to lớn, đang phát
triển, bao gồm những ngời lao động chân tay và trí óc, làm công hởng lơng
trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản
xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp
1
. Giai cấp công nhân
1
Đảng cộng sản Việt Nam, Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết Hội nghị TƯ6 Khoá X , Nxb CTQG, H. tr.
12.
1

sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thực hiện giải
phóng dân tộc; sau khi giành thắng lợi tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát
triển TBCN và góp phần vào sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân, nhân
dân lao động trên thế giới.
Thực tiễn lịch sử cho thấy ngay từ khi ra đời, giai cấp công nhân Việt
Nam thực sự là lực lợng tiên phong trong đấu tranh cách mạng, đã anh dũng,
kiên cờng đấu tranh chống kẻ thù xâm lợc trớc đây cũng nh trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay. Trong công cuộc đổi
mới hiện nay, tuy đã đạt đợc nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực của đời
sống xã hội, giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng trởng thành lớn mạnh,
song trớc sự tác động của xu thế toàn cầu hoá hiện nay giai cấp công nhân
Việt Nam vẫn còn nhiều mặt hạn chế cần khắc phục.
Hiện nay không chỉ riêng Việt Nam, mà đời sống xã hội các dân tộc
trên thế giới đang trải qua những biến động dữ dội mang tính toàn cầu, đó là
những biến động trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, quân sự đến văn
hoá, khoa học; từ đời sống của mỗi con ngời đến đời sống của cả cộng đồng
nhân loại. Tất cả những biến động ấy đã, đang và sẽ dẫn các quốc gia, dân tộc
tới sự liên kết khu vực và quốc tế bằng quá trình toàn cầu hoá. Toàn cầu hoá
đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ trong thế giới hiện đại, không chỉ giới hạn
trong lĩnh vực kinh tế mà còn mở rộng sang tất cả các lĩnh vực khác.
Toàn cầu hoá là quá trình xã hội hoá lực lợng sản xuất trên phạm vi
quốc tế làm cho các quan hệ kinh tế vợt ra khỏi biên giới quốc gia dân tộc,
làm cho ý nghĩa biên giới quốc gia ngày càng giảm dần. Toàn cầu hoá là một
xu thế khách quan, về bản chất là toàn cầu hoá t bản, nó đang ảnh hởng rất sâu
sắc cả theo hớng tích cực và tiêu cực tới mọi mặt đời sống xã hội, thậm chí tới
3
cả hệ thống các giá trị văn hoá, các quy phạm đạo đức, tình cảm, lối sống và
nhân cách con ngời trong mỗi quốc gia, dân tộc.
Toàn cầu hoá tạo ra mặt tích cực là: nó phá bỏ những cản trở, những
hàng rào ngăn cách giữa các quốc gia, mở ra những điều kiện thuận lợi cho sự

cho nhà nớc mất đi khả năng điều tiết xã hội dẫn đến phụ thuộc vào các nớc t
bản phát triển.
Toàn cầu hoá còn gây nên những hậu quả mang tính chất phi kinh tế
nh nạn ô nhiễm môi trờng, đói nghèo, chủ nghĩa khủng bố, nạn ma tuý, mãi
dâm, hoặc sự lan tràn của các loại dịch bệnh, đăc biệt là HIV/AIDS đó là
những vấn đề mà không chỉ riêng một nớc, một quốc gia nào có thể giải quyết
đợc. Đồng thời toàn cầu hoá còn tạo nguy cơ xâm nhập của các loại hình văn
hoá ngoại lai trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc, làm băng hoại đạo đức
con ngời, xâm hại đến nền văn hoá dân tộc, làm méo mó, biến dạng nền văn
hoá truyền thống hình thành một nền văn hoá hỗn tạp, gây ảnh hởng lớn đến
đời sống tinh thần của nhân dân.
Nh vậy tính hai mặt của quá trình toàn cầu hoá đặt ra đối với các quốc
gia cần có thái độ đúng đắn để vừa tránh đợc những tác động tiêu cực, mặt
khác vẫn tận dụng đợc mặt tích cực và cơ hội của nó đem lại để phát triển đất
nớc, tham gia vào dòng chảy chung của sự phát triển nhân loại cùng giải quyết
các vấn đề nhân loại hiện nay đặt ra.
Cùng với xu thế chung của thế giới, Việt Nam cũng đang chịu sự tác
động ảnh hởng khá lớn của quá trình toàn cầu hoá. Với những ảnh hởng tích
cực của toàn cầu hoá, đã làm cho các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá xã
hội của chúng ta đạt đợc nhiều thành tựu quan trọng. Việt Nam chính thức
tham gia hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới và khu vực từ năm
1986. Trải qua hơn hai thập kỷ hội nhập chúng ta đã có kết quả bớc đầu quan
5
trọng trên các mặt nh thơng mại, dầu t, ngoại giao phá bỏ thế bao vây, cấm
vận, tạo ra môi trờng hợp tác và phát triển với các đối tác trên thế giới, thúc
đẩy tốc độ tăng trởng kinh tế luôn đạt cao. Nhng do ảnh hởng tác động tiêu
cực của quá trình hội nhập và sự cạnh tranh găy gắt trong lĩnh vực khinh tế,
làm cho Việt Nam đang đứng trớc nhiều nguy cơ lớn, trong đó Đảng ta xác
định: Bốn nguy cơ mà Đảng ta từng chỉ rõ - tụt hậu xa hơn về kinh tế so với
nhiều nớc trong khu vực và trên thế giới, chệch hớng XHCN, nạn tham nhũng

thế giới. Vấn đề đặt ra đối với nớc ta là phát triển một cách ổn định và nhanh
chóng rút ngắn khoảng cách so với những nớc đi trớc trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. ý thức điều đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
khẳng định: Thực hiện nhất quán đờng lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà
bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phơng hoá, đa
dạng hoá các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế,
đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối
tác tin cậy của các nớc trong cộng đồng quốc tế và khu vực
1
. Với quan điểm
đó, Việt Nam đã mở cửa, thiết lập các mối quan hệ đa phơng, song phơng với
tất hầu hết các nớc, các vùng lãnh thổ trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập
chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau và cùng có lợi.
Tham gia vào quá trình toàn cầu hoá, giai cấp công nhân Việt Nam có
những biến đổi lớn cả về số, chất lợng, cơ cấu theo cả hai hớng tích cực và tiêu
cực. Hiện nay, theo thống kê, công nhân Việt Nam có trên 9,5 triệu ngời,
chiếm 11% dân số, và 20% lực lợng lao động xã hội. Trong đó gồm: 1,94 triệu
công nhân trong các doanh nghiệp nhà nớc, 3,37 triệu công nhân trong các
doanh nghiệp ngoài khu vực kinh tế nhà nớc, 1,45 triệu công nhân trong các
doanh nghiệp có vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài và khoảng 2,27 triệu công nhân
trong các loại hình sản xuất, kinh doanh khác. Trớc hết giai cấp công nhân
Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển về mọi mặt, nhất là về trình độ
văn hóa, tay nghề và nâng cao mức sống. Song chính quá trình hội nhập quốc
tế cũng làm cho giai cấp công nhân Việt Nam còn tồn tại những hạn chế, yếu
kém cha đáp ứng đợc yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nớc. Điều này đợc thể hiện từ chính thực trạng của giai cấp công nhân
Việt Nam hiện nay:
1
Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đai hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006, tr.113.
7

sinh, an toàn lao động nhằm bảo đảm cuộc sống và an toàn trong sản xuất
của công nhân.
Tỷ lệ công nhân thất nghiệp, thiếu việc làm giảm dần; tiền lơng, thu
nhập của công nhân đã tăng lên; công nhân có nhiều điều kiện hơn trong tìm,
lựa chọn việc làm phù hợp với trình độ, năng lực và thể hiện năng lực, trí tuệ
của bản thân. Nhà nớc đã quan tâm hỗ trợ giải quyết đời sống cho số lao động
dôi d trong sắp xếp, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc.
Một số hạn chế yếu kém:
Số lợng, cơ cấu và trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp
của một bộ phận công nhân cha đáp ứng đợc yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế; thiếu nghiêm trọng các
chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề.
Tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế; đa phần
công nhân từ nông dân, cha đợc đào tạo cơ bản và có hệ thống. Một bộ phận
công nhân chậm thích nghi với cơ chế thị trờng.
Giai cấp công nhân còn hạn chế về phát huy vai trò nòng cốt trong liên
minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Giác ngộ
giai cấp và bản lĩnh chính trị của công nhân không đồng đều; sự hiểu biết về
chính sách, pháp luật còn nhiều hạn chế, địa vị chính trị của giai cấp công
nhân cha thể hiện đầy đủ.
Tỷ lệ đảng viên và cán bộ lãnh đạo xuất thân từ công nhân còn thấp.
Một bộ phận công nhân cha thiết tha phấn đấu vào Đảng và tham gia hoạt
động trong các tổ chức chính trị - xã hội.
9
Về đời sống, lợi ích của một bộ phận công nhân đợc hởng, cha tơng
xứng với những thành tựu của công cuộc đổi mới và những đóng góp của chính
mình. Việc làm, đời sống vật chất và tinh thần của công nhân đang có nhiều
khó khăn, bức xúc, đặc biệt là ở bộ phận công nhân lao động giản đơn tại các
doanh nghiệp của t nhân và doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài.
Mặc dù còn một số hạn chế, yếu kém nh trên, nhng do địa vị kinh tế xã

thực tiễn đặt ra: nh vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân trong thời kỳ mới;
về vai trò làm chủ của giai cấp công nhân, biểu hiện qua quan hệ giữa ngời sử
dụng lao động và ngời lao động trong nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội
chủ nghĩa; về vấn đề trí thức hóa giai cấp công nhân và xu hớng phát triển; về
sự phân hóa và mối quan hệ trong nội bộ giai cấp công nhân; về mối quan hệ
giữa giai cấp công nhân với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội, đặc biệt
là khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí
thức; về những xu hớng diễn biến t tởng trong giai cấp công nhân; về mối
quan hệ hợp tác, liên kết giữa giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp công
nhân các nớc trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế
Tất cả những điều đó nhằm khắc phục những nhận thức không đầy đủ
về vị trí, vai trò trong thời đại ngày nay của giai cấp công nhân nói chung, giai
cấp công nhân Việt Nam nói riêng. Đồng thời, cung cấp cơ sở lý luận và thực
tiễn cho Đảng, Nhà nớc đề ra các chủ trơng, giải pháp xây dựng giai cấp công
nhân phát triển toàn diện trong thời kỳ mới.
2 - Đẩy mạnh và nâng cao chất lợng đào tạo nghề, bồi dỡng ý thức
chính trị, ý thức pháp luật, từng bớc trí thức hóa giai cấp công nhân.
11
Đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại và bồi dỡng nâng cao trình độ học vấn,
kỹ năng nghề nghiệp cho công nhân, đặc biệt là công nhân trẻ nhằm phát triển
giai cấp công nhân về số lợng, bảo đảm về chất lợng, hợp lý về cơ cấu. Để
công nhân nớc ta có trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp
cao, có khả năng thích ứng nhanh với cơ chế thị trờng, tiếp thu nhanh và làm
chủ đợc công nghệ mới, lao động với năng suất, chất lợng và hiệu quả sản
xuất, kinh doanh ngày càng cao.
Đẩy mạnh công tác quy hoạch và kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực, đào
tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân có trình độ cao, để đáp ứng yêu cầu
phát triển các ngành công nghiệp mới, hiện đại. Lựa chọn, đào tạo một số công
nhân thành những nhà kinh doanh có tài, có đức, các nhà quản lý giỏi và các
cán bộ khoa học - kỹ thuật có trình độ cao, có khả năng tiếp cận nhanh với công

với công nhân, nh: bảo đảm việc làm, tiền lơng, nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần, bảo đảm lợi ích kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội; quan tâm hơn
nữa vấn đề nhà ở, bảo vệ sức khỏe, bảo đảm và phát huy quyền dân chủ của
công nhân v.v
Tiếp đó, tích cực nâng cao tính tự giác của ngời sử dụng lao động và
của công nhân trong thực hiện chính sách, pháp luật về lao động, việc làm;
tăng cờng vai trò kiểm tra, giám sát của Nhà nớc, tổ chức công đoàn và các tổ
chức chính trị - xã hội khác trong doanh nghiệp; có chế tài xử lý nghiêm các
vi phạm chính sách, pháp luật để từng bớc nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần của công nhân.
13
4 - Tăng cờng sự lãnh đạo của các cấp ủy trong xây dựng giai cấp công
nhân.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp.
Quan tâm bồi dỡng phát triển đảng trong các trờng đào tạo nghề và trong công
nhân để tạo nguồn thành lập tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế, nhằm tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng đối với công
nhân.
Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dỡng nâng cao năng lực phẩm chất,
đạo đức và bản lĩnh chính trị, nhiệt tình, tâm huyết và kỹ năng công tác cho
đội ngũ cán bộ đảng ở doanh nghiệp. Có chính sách động viên về vật chất,
khuyến khích về tinh thần đối với đội ngũ cán bộ đảng ở doanh nghiệp, nhằm
nâng cao chất lợng, hiệu quả lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng, góp phần xây
dựng giai cấp công nhân không ngừng lớn mạnh.
Chú trọng hơn nữa trong việc lựa chọn những cán bộ u tú trong giai
cấp công nhân để đào tạo, bồi dỡng, góp phần tạo nguồn cán bộ lãnh đạo cho
Đảng, Nhà nớc, công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội, từng bớc tăng dần
tỷ lệ cán bộ xuất thân từ công nhân trong bộ máy lãnh đạo các cấp của Đảng,
chính quyền. Nhà nớc xây dựng, ban hành và thực thi các chính sách, pháp

của công nhân, nhất là đội ngũ công nhân trí thức; tham gia xây dựng, hoàn
thiện các chủ trơng, chính sách, pháp luật. Thờng xuyên kiểm tra, giám sát,
tổng kết việc tổ chức thực thi chính sách, pháp luật, phát hiện những bất hợp
15
lý của chính sách, pháp luật và công tác tổ chức thực hiện để tham gia bổ
sung, hoàn thiện.
Điều rất quan trọng là, các cấp công đoàn cần hớng mạnh hoạt động về
cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, lấy công nhân, viên chức, lao
động làm đối tợng vận động, lấy chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp,
chính đáng của công nhân, viên chức, ngời lao động, xây dựng quan hệ lao
động hài hòa, ổn định, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội làm mục
tiêu hoạt động. Chú trọng hớng dẫn, giúp đỡ công nhân ký kết hợp đồng lao
động, đại diện thơng lợng ký thỏa ớc lao động tập thể với ngời sử dụng lao
động. Điều này vừa nâng cao hiệu quả hoạt động thực tế của tổ chức công
đoàn, vừa góp phần khắc phục xu hớng hành chính hóa tổ chức công đoàn.
Cuối cùng, chú trọng đào tạo bồi dỡng nâng cao trình độ năng lực,
hiểu biết chính sách, pháp luật và bản lĩnh cán bộ công đoàn, nhất là chủ tịch
công đoàn cơ sở ở các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nớc, doanh nghiệp có
vốn đầu t nớc ngoài.
Tóm lại: hiện nay: Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan,
lôi cuốn ngày càng nhiều nớc tham gia, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu
cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh.
1
Đối với Việt Nam, toàn cầu hoá đã và
đang tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội, vừa đem lại những cơ
hội lớn, đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nớc. Trớc tác động của toàn cầu hoá, giai cấp
công nhân Việt Nam cũng có những biến đổi lớn lao, trong đó đặc điểm nổi
bật của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay là: đang trong quá trình phát
triển, tăng nhanh về số lợng, đa dạng về cơ cấu, chất lợng ngày càng cao gắn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status