Luận văn
Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác
phân tích tài chính tại Công ty Công
ty Cổ phần xây dựng và thương mại
HT Việt Nam
MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 2.1 - Tổ chức bộ máy quản lý Error: Reference source not found
BIỂU 2.1.KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH Error:
Reference source not found
Biểu 2.2: Tình hình tài chính của công ty trong những năm gần đây Error:
Reference source not found
Bảng 2.3. Kết cấu tài sản của công ty năm 2009 - 2010 Error: Reference
source not found
Bảng 2.4: Kết cấu vốn của công ty năm 2009 - 2010. .Error: Reference source
not found
Bảng 2.5: Vốn lưu động thường xuyên Error: Reference source not found
Bảng số 2.6: Nhu cầu vốn lưu động thường xuyờn Error: Reference source not
found
Bảng số 2.7: Phân tích báo cáo kết quả kinh doanhError: Reference source not
found
Bảng 2.8: Các tỷ số về khả năng thanh toán.Error: Reference source not found
Bảng 2.9: Các tỷ số về khả năng hoạt động Error: Reference source not found
Bảng 3.1: Bảng tài trợ của công ty năm 2010 Error: Reference source not
found
Bảng 3.2: Các tỷ số về khả năng cân đối vốn từ năm 2008 đến 2010 Error:
Reference source not found
Bảng 3.3: Các tỷ số về khả năng hoạt động từ năm 2009 đến năm 2010.Error:
Reference source not found
LỜI MỞ ĐẦU
Quản trị tài chính là một bộ phận quan trọng của quản trị doanh nghiệp.
Chương 2 - Thực trạng tình hình phân tích tài chính tại Công ty Cổ
phần xây dựng và thương mại HT Việt Nam
Chương 3 - Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
Phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần xây dựng và thương mại HT Việt Nam
Qua quá trình thực tập tại Công ty và được sự hướng dẫn nhiệt tình của
thầy cụ giáo hướng dẫn và các anh chị trong Công ty nói chung và phòng kế
toán nói riêng đã giúp em hoàn thành chuyên đề tốt nghịờp này. Do khả năng
trình độ còn hạn chế nên không tránh khỏi sai sót trong chuyên đề thực tập.
Em rất mong nhận được ý kiến đúng góp của Thầy cô và các anh chị trong
phòng để tôi được hoàn thiện hơn trong học tập cũng như công tác sau này.
Xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1.Khái niệm
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động
trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu. Doanh nghiệp là tổ chức kinh
tế có tên riêng có tài khoản có trụ sở giao dịch ổn định, được dăng ký theo quy định
của pháp luật nhằm mục đích thức hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh với mục
tiêu từ quá trình sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị
trường nhằm mục đích sinh lời
Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân.
Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện bởi các Doanh nghiệp chứ không
phải là các cá nhân
1.1.2.Mục tiêu
Có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
như: chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng Mỗi đối tượng quan
tâm với các mục đích khác nhau nhưng thường liên quan với nhau.
Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm
+. Phương pháp so sánh
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng
thay đổi về tài chính của doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính được cải thiện hay
xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới.
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của
doanh nghiệp.
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với mức trung bình của ngành để thấy
tình hình tài chính doanh nghiệp đang ở trong tình trạng tốt hay xấu, được hay chưa
được so với doanh nghiệp cùng ngành.
- So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng tổng số ở mỗi bản
báo cáo và qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại các mục, tạo điều kiện thuận
lợi cho việc so sánh.
- So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến động cả về số tuyệt đối và số
tương đối của một khoản mục nào đó qua cỏc niờn độ kế toán liên tiếp.
Khi sử dụng phương pháp so sánh phải tuân thủ 2 điều kiện sau:
- Phải xác định rõ gốc so sánh và kỳ phân tích.
- Các chỉ tiêu so sánh (hoặc các trị số của chỉ tiêu so sánh) phải đảm bảo
tính chất có thể so sánh được với nhau. Muốn vậy, chúng phải thống nhất với nhau
về nội dung kinh tế, về phương pháp tính toán, thời gian tính toán.
+Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên các ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài
chính trong các quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu phải
xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính
doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ
tham chiếu.
Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụng
ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn. Vì:
- Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn
là cơ sở để hình thành những tham chiếu tin cậy nhằm đánh giá một tỷ lệ của một
doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp.
ROI là phân tích của hệ thống quay vòng vốn với tỷ lệ lãi thuần trên doanh
thu, mặt khác ROI cũn cú 2 ý nghĩa: Cho phép liên kết 2 con số cuối cùng của 2 báo
cáo tài chính cơ bản (Lãi thuần của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Tổng
cộng tài sản); Kết hợp 3 yếu tố cơ bản cần phải xem xét ngay từ đầu trước khi đi
vào phân tích chi tiết.
Bên cạnh việc huy động và sử dụng vốn, khả năng tự bảo đảm về mặt tài
chính và mức độ độc lập về mặt tài chính cũng cho thấy một cách khái quát về tình
hình tài chính doanh nghiệp.
Tỷ suất tài trợ =
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tổng số nguồn vốn
Chỉ tiêu này càng nâng cao chứng tỏ mức độc lập về mặt tài chính của doanh
nghiệp càng lớn vì hầu hết tài sản doanh nghiệp có dược đều là của doanh nghiệp.
Tỷ suất thanh toán
hiện hành
=
Tổng số tài sản lưu động
Tổng số nợ ngắn hạn
Tỷ suất này cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh
nghiệp là cao hay thấp. Nếu tỷ lệ này xấp xỉ bằng 1 thì doanh nghiệp có tình hình tài
chính nằm tại trạng thái bình thường tương đương với việc có đủ khả năng thanh
toán các khoản nợ ngắn hạn
Tỷ suất thanh toán của
vốn lưu động
=
Tổng số vốn bằng tiền
Tổng số vốn tài sản lưu động
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản lưu động,
thực tế cho thấy, chỉ tiêu này lớn hơn 0,5 hoặc nhỏ hơn 0,1 đều không tốt vì sẽ gây
ra ứ đọng vốn hoặc thiếu vốn cho hoạt động thanh toán.
của bảng cân đối để xác định tình hình tăng giảm vốn trong doanh nghiệp theo
nguyên tắc. Nếu tăng phần tài sản và giảm phần nguồn vốn thì được xếp vào cột sử
dụng vốn. Nếu giảm phần tài sản và tăng phần nguồn vốn thì được xếp vào cột
nguồn vốn. Nguồn vốn và sử dụng vốn phải cân đối với nhau.
Cuối cùng, tiến hành sắp xếp các chỉ tiêu về nguồn vốn và sử dụng vốn
theo những trình tự nhất định tuỳ theo mục tiêu phân tích và phản ánh vào một bảng
biểu theo mẫu sau:
Biểu 1.1. Các chỉ tiêu về nguồn vốn và sử dụng vốn
Chỉ tiêu Số tiền Tỷ trọng
1.Sử dụng vốn
Cộng sử dụng vốn
2.Nguồn vốn
Cộng nguồn vốn
Nội dung phân tích này cho ta biết trong một kỳ kinh doanh nguồn vốn
tăng, giảm bao nhiêu? Tình hình sử dụng vốn như thế nào ? Những chỉ tiêu nào là
chủ yếu ảnh hưởng tới sự tăng giảm nguồn vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp?
Tử đú cú giải pháp khai thác các nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong
doanh nghiệp.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có tài sản bao
gồm: TSCĐ và đầu tư dài hạn; TSLĐ và đầu tư ngắn hạn. Để hình thành hai loại tài
sản này, phải cú cỏc nguồn vốn tài trợ tương ứng, bao gồm nguồn vốn dài hạn và
nguồn vốn ngắn hạn.
Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong khoảng
thời gian dưới 1 năm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm các khoản nợ
ngắn hạn, nợ phải trả nhà cung cấp và nợ phải trả ngắn hạn khác. Nguồn vốn dài
hạn là nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng lâu dài cho hoạt động kinh doanh bao gồm
nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn vay nợ trung, dài hạn
Nguồn dài hạn trước hết được đầu tư để hình thành TSCĐ,phần dư của
Khi vốn lưu động thương xuyên = 0 có nghĩa là nguồn vốn dài hạn tài trợ đủ
cho TSCĐ và TSLĐ đủ để doanh nghiệp trả các khoản nợ ngắn hạn. Tình hình tài
chính như vậy là lành mạnh. Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên là lượng vốn
ngắn hạn doanh nghiệp cần để tài trợ cho một phần TSLĐ, đó là hàng tồn kho và
các khoản phải thu (TSLĐ không phải là tiền).
Thực tế có thể xảy ra các trường hợp sau:
+ Nhu cầu VLĐ thường xuyên > 0, tức tồn kho và các khoản phải thu > nợ
ngắn hạn. Tại đây các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp lớn hơn các nguồn vốn
ngắn hạn mà doanh nghiệp có từ ở bên ngoài. Vì vậy doanh nghiệp phải dùng
nguồn vốn dài hạn để tài trợ vào phần chênh lệch.
+ Nhu cầu nợ thường xuyên < 0, có nghĩa là các nguồn vốn ngắn hạn từ
bên ngoài đã dư thừa để tài trợ các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp. Doanh
nghiệp không cần nhận vốn ngắn hạn để tài trợ cho chu kỳ kinh doanh.
* Khái quát tình hình tài chính qua Báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một bản báo cáo tài chính tổng
hợp phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh theo từng loại hoạt động
của doanh nghiệp. Nội dung của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thay đổi
theo từng thời kỳ tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý, nhưng khi đánh giá khái quát tình
hình tài chính thì phân tích Báo cáo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải phản
ánh được 4 nội dung cơ bản: Doanh thu; Giá vốn hàng bán; chi phí bán hàng, chi
phí quản lý doanh nghiệp; Lãi, lỗ. Và được phản ánh qua đẳng thức sau:
Lãi (Lỗ) = Doanh thu – Chi phí bán hàng – Chi phí hoạt động kinh doanh.
1.2.Các hoạt động của doanh nghiệp
1.2.1.Khái niệm và đối tượng của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánh giá
tình hình tài chính đã quan và hiện nay, giúp cho nhà quản lý đưa ra được quyết
định chuẩn xác và đánh giá được doanh nghiệp, từ đó giúp những đối tượng quan
tâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tài chính của doanh nghiệp, qua đó cú
cỏc quyết định phù hợp với lợi ích của doanh nghiệp.
Có rất nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kinh tế tài chính của
hình thực tế của doanh nghiệp, như quyết định về đầu tư, tài trợ, phân phối lợi
nhuận…
- Phân tích tài chính doanh nghiệp là cơ sở cho những dự đoán tài chính.
- Phân tích tài chính doanh nghiệp là một công cụ để kiểm tra, kiểm soát hoạt
động, quản lý trong doanh nghiệp.
Phân tích tài chính làm nổi bật điều quan trọng của dự đoán tài chính, mà dự
đoán là nền tảng của hoạt động quản lý, làm sáng tỏ không chỉ chính sách tài chính
mà còn làm rừ cỏc chính sách chung cho doanh nghiệp.
* Phân tích tài chính đối với các nhà đầu tư: Các nhà đầu tư thường là những
người giao vốn của mình cho doanh nghiệp quản lý và như vậy có thể có những rủi
ro. Đó là những cổ đông, các cá nhân hoặc các đơn vị, doanh nghiệp khỏc. Cỏc đối
tượng này quan tâm trực tiếp đế những tính toán về giá trị của doanh nghiệp. Thu
thập của các nhà đầu tư là tiền lời được chia và thặng dư giá trị của vốn. Hai yếu tố
này phần lớn chịu ảnh hưởng của lợi nhuận thu được của doanh nghiờp. Phân tích
tài chính đối với nhà đầu tư là để đánh giá doanh nghiệp và ước đoán giá trị cổ
phiếu, dựa vào việc nghiên cứu cỏc bỏo biểu tài chính, khả năng sinh lời, phân tích
rủi ro trong kinh doanh.
* Phân tích tài chính đối với người cho vay: Đây là những người cho doanh
nghiệp vay vốn để đảm bảo nhu cầu sản xuất – kinh doanh. Khi cho vay họ phải
biết chắc được khả năng hoàn trả tiền vay. Thu nhập của họ là lãi suất tiền vay. Do
đó, phân tích tài chính đối với người cho vay là xác định khả năng hoàn trả nợ của
khách hàng.
* Phân tích tài chính đối với những người hưởng lương trong doanh nghiệp:
Đây là những người có nguồn thu nhập nhất là tiền lương được trả. Tuy nhiên, cũng
có những doanh nghiệp, người hưởng lương có một số cổ phần nhất định trong
doanh nghiệp. Đối với những doanh nghiệp này, người hưởng lương có thu nhập từ
tiền lương được trả và tiền lời được chia. Cả hai khoản thu nhập này phụ thuộc vào
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, phân tích tài
chính giúp họ định hướng việc làm ổn định của mỡnh trờn cơ sở yên tâm dồn sức
vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tùy theo công việc được phân
diễn biến luồn chuyển dịch giá trị, sự vận động của vốn hoạt động trong tương lai
của doanh nghiệp. Những quyết định và hành động trong tương lai phụ thuộc vào
diễn biến kinh tế xã hội và hoạt động của doanh nghiệp sẽ diễn ra trong tương lai.
Bản than doanh nghiệp cho dù đang ở giai đoạn nào trong chu kỳ phát triển thỡ cỏc
hoạt động cũng đều hướng tới những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này được
hình thành từ nhận thức về điều kiện, năng lực của bản thân cũng như diễn biến của
tình hình kinh tế quốc tế, trong nước, ngành nghề và các doanh nghiệp khác cùng
loại, sự tác động của các yếu tố kinh tế xã hội trong tương lai. Vì vậy, để có những
quyết định phù hợp và tổ chức thực hiện hợp lý, đáp ứng được mục tiêu mong muốn
của các đối tượng quan tâm cần thấy tình hình tài chính của doanh nghiệp trong
tương lai. Đú chớnh là chức năng dự đoán tài chính doanh nghiệp.
- Chức năng điều chỉnh
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế tài chính dưới hình
thái giá trị phát sinh trong quá trình tiến hành các hoạt động. Hệ thống các quan hệ
đó bao gồm nhiều loại khác nhau, rất đa dạng, phong phú và phức tạp, chịu ảnh
hưởng của nhiều nguyên nhân và nhân tố cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp.
Hệ thống các quan hệ tài chính đó sẽ là bình thường nếu tất cả các mắt xích trong hệ
thống điều diễn ra bình thường và đó là sự kết hợp hài hòa các mối quan hệ. Tuy
nhiên, những mối quan hệ kinh tế ngoại sinh, bản thân doanh nghiệp cũng như các
đối tượng quan tâm không thể kiểm soát và chi phối toàn bộ. Vì thế, để kết hợp hài
hòa các mối quan hệ, doanh nghiệp, các đối tượng có liên quan phải điều chỉnh các
mối quan hệ và nghiệp vụ kinh tế nội sinh. Muốn vậy, cần nhận thức rõ nội dung,
tính chất, hình thức và xu hướng phát triển của các quan hệ kinh tế tài chính có liên
quan. Phân tích tài chính giúp doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm nhận thức
được điều này.
1.2.3.Quy trình phân tích tài chính của doanh nghiệp
+ Thu thập thông tin
Phân tích hoạt động tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý
giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán, đánh giá, lập kế hoạch. Nó bao
thay đổi nhưng phải phản ánh được 4 nội dung cơ bản là: doanh thu, giá vốn hàng
bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, lãi, lỗ. Số liệu trong báo cáo
này cung cấp những thông tin tổng hợp nhất về phương thức kinh doanh của doanh
nghiệp trong thời kỳ và chỉ ra rằng, các hoạt động kinh doanh đó đem lại lợi nhuận
hay lỗ vốn. Đồng thời, nó cũn phản ánh tình hình sử dụng các tiềm năng về vốn, lao
động, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của doanh nghiệp.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả phân tích tài chính của doanh nghiệp.
1.3.1.Nhân tố chủ quan
+ Chất lượng thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
Thông tin là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định chất lượng phân tích tài
chính vì một khi thông tin sử dụng không chính xác không phù hợp thì kết quả mà
phân tích tài chính mang lại sẽ không chính xác không có ý nghĩa. Vì vậy có thể nói
thông tin sử dụng trong phân tích tài chính là nền tảng của phân tích tài chính.
Từ những thông tin bên trong trực tiếp phản ánh tài chính doanh nghiệp đến
những thông tin bên ngoài liên quan đến môi trường hoạt động của doanh nghiệp,
nhà phân tích có thể thấy được tình hình tài chính doanh nghiệp trong quá khứ, hiện
tại và dự đoán tương lai.
+ Trình độ của cán bộ thực hiện việc phân tích tài chính.
Kết quả của việc phân tích tài chính doanh nghiệp có chính xác hay không
phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của cán bộ thực hiện phân tích. Mặc dù có được
thông tin phù hợp và chính xác nhưng xử lý những thông tin đó như thế nào để có
kết quả phân tích đạt chất lượng thì lại phụ thuộc vào trình độ của cán bộ phân tích.
Từ các thông tin thu thập được cán bộ phân tích tiến hành tính toán các chỉ tiêu, lập
các bảng biểu và nhiệm vụ của người phân tích là gắn kết tạo lập mối quan hệ giữa
các chỉ tiêu, kết hợp với các thông tin về điều kiện hoàn cảnh cụ thể của doanh
nghiệp để giải thích tình hình tài chính của doanh nghiệp. Xác định được những
điểm mạnh yếu và nguyên nhân của nó. Tầm quan trọng và tính phức tạp của việc
phân tích tài chính đòi hỏi người cán bộ phân tích phải có trình độ chuyên môn cao.
+ Nhận thức về phân tích tài chính của chủ doanh nghiệp
Sự phát triển của doanh nghiệp luôn được đặt trong mối liên hệ với các hoạt
động chung của ngành kinh doanh. Do vậy, muốn phân tích tài chính có hiệu quả
cao, nhà phân tích phải có sự so sánh với các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp
với hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành.
Đặc điểm của ngành kinh doanh liên quan đến:
- Tính chất các sản phẩm của doanh nghiệp
- Quy trình kỹ thuật mà doanh nghiệp áp dụng
- Cơ cấu sản xuất của doanh nghiệp: cơ cấu sản xuất này có tác động đến khả
năng sinh lời, vòng quay dự trữ, vòng quay hàng tồn kho
- Nhịp độ phát triển của các chu kỳ kinh tế
Do tầm quan trọng của việc nghiên cứu ngành kinh tế, nên điều hiển nhiên là
trước khi phân tích tài chính của một doanh nghiệp nhà phân tích phaỉi xem xét bối
cảnh của thị trường, của ngành kinh doanh, các chính sách liên quan đến ngành kinh
doanh. Không những thế, trong quá trình phân tích, các chỉ tiêu tài chính cần phải
được so sánh với hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành để kết quả phân tích được
chính xác hơn, phản ánh đúng tình trạng tài chính của doanh nghiệp so với các
doanh nghiệp khác trong cùng ngành, tránh được các đánh giá chủ quan.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI HT VIỆT NAM
2.1.Tổng quan về công ty Cổ phần xây dựng và Thương mại HT Việt Nam
2.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển Công ty Cổ phần xây dựng và
Thương mại HT Việt Nam
Tên công ty: Công ty Cổ phần xây dựng và Thương mại HT Việt Nam
Địa chỉ: Phương Liệt – Thanh Xuân – Hà Nội
Mã số thuế: 0102299702
Công ty là Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt
Nam. Công ty được thành lập theo hình thức chuyển từ doanh nghiệp nhà
nước thành công ty cổ phần, hoạt động theo Luật doanh nghiệp và các quy
định khác của pháp luật. Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày thành lập.
đã phấn đấu vượt mọi khó khăn, thử thách để hoàn thành vượt mức kế hoạch
giá trị tổng sản lượng năm 2010 đạt 29 tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước 800
- 900 triệu đồng.
2.1.2.Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Công ty Cổ phần xây dựng
và thương mại HT Việt Nam
Do các công trình có đặc điểm thi công khác nhau nên lực lượng lao
động của Công ty tổ chức thành các đội sản xuất, mỗi đội phụ trách thi công
một công trình. Do đó bộ máy quản lý của các doanh nghiệp nói chung và của
Công ty Cổ phần xây dựng và Thương mại HT Việt Nam nói riêng giữ vai trò
hết sức quan trọng, nó quyết định đến sự thất bại hay tồn tại của doanh nghiệp
trong quá trình sản xuất kinh doanh. Hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu
quả cao, đồng thời vượt qua được những khắc nghiệp của nền kinh tế thị
trường thì doanh nghiệp trước hết phải tổ chức bộ máy điều hành một cách
hợp lý, bố trí lại cỏc dõy truyền sản xuất và dịch ra nhiệm vụ cụ thể của từng
bộ phận tạo ra một bộ máy hoạt động nhịp nhàng đồng bộ. Do vậy Bộ máy
của Công ty bao gồm: Giám đốc, Phó giám đốc, Phó giám đốc kỹ thuật, Phó
giám đốc kinh tế.
Bộ máy quản lý của Công ty gồm có 5 phòng ban và 7 đội sản xuất, mỗi
phòng ban đều có chức năng nhiệm vụ riêng, song đều có chức năng tham
mưu giúp việc cho Ban Giám đốc trong quản lý và điều hành Công ty: Phòng
tổ chức lao động, Phòng tài vụ, Phòng kế hoạch, Phòng kỹ thuật, Phòng vật tư
thiết bị, các đội sản xuất.
Trong mỗi đội thi công lại tổ chức thành các tổ (nhóm) thi công nhỏ để
tạo điều kiện quán lý chặt chẽ về mặt kinh tế cũng như kỹ thuật đối với từng
đội thi công, từng tổ công trình. Đồng thời tạo điều kiện để Công ty ký hợp
đồng làm khoán với từng đội thi công.
Công ty cổ phần xây dựng và Thương mại HT Việt Nam doanh nghiệp
hạch toán kinh doanh độc lập theo luật doanh nghiệp và điều lệ Công ty. Bộ
máy tổ chức của Công ty được tổ chức theo mô hình chức năng.
S 2.1 - T chc b mỏy qun lý
thuỷ lợi