Chủ tịch hội đồng quản trị
Ban giám đốc
Phòng tổ chức- hành chính
Phòng tài chính- kế toán
Phòng kế hoạch- kỹ thuật
Phòng thiết bị- vật tư
Chi nhánh Cao Bằng
Chi nhánh tại Lào
Chi nhánh Hà Giang
Các dự án khác
Đấu thầu
Ký hợp đồng với bên A
Tổ chức thi công
Nghiệm thu kỹ thuật và tiến độ thi công với bên A
Bàn giao và thanh quyết toán công trình với bên A
KT tổng hợp
KT ngân hàng
KT thanh toán
KT tiền lương
KT TSCĐ
Thủ quỹ
KT chi nhánh Cao Bằng
KT chi nhánh Hà Giang
KT chi nhánh Lào
Kế toán trưởng
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay nước ta đang trong thời kỳ hội nhập với những khó khăn, biến
động và cũng đầy thách thức của nền kinh tế thị trường. Bất kỳ một doanh
nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển cũng phải có những yếu tố như vốn, khả
xét về hình thái giá trị được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.
Trong các doanh nghiệp người ta thường chia tài sản lưu động ra làm hai
loại: tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông. Tài sản lưu động
sản xuất gồm các loại nguyên, nhiên, vật liệu, phụ tùng thay thế, bán thành
phẩm, sản phẩm dở dang … đang trong quá trình dự trữ sản xuất hoặc sản xuất,
chế biến. Tài sản lưu động lưu thông bao gồm các sản phẩm, thành phẩm chờ
tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các loại chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả
trước…
1.1.2 Đặc điểm và vai trò của vốn lưu động.
*Đặc điểm vốn lưu động.
Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm vận động của
vốn lưu động luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu động.
- Vốn lưu động của doanh nghiệp không ngừng vận động qua các giai
đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu động. Quá trình
này được diễn ra liên tục và thường xuyên lặp lại theo chu kỳ được gọi là quá
trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động. Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ
kinh doanh, vốn lưu động lại thay đổi hình thái biểu hiện từ hình thái vốn tiền tệ
ban đầu chuyển sang vốn vật tư hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng
trở về hình thái vốn tiền tệ. Sau mỗi chu kỳ sản xuất, vốn lưu động hoàn thành
một vòng chu chuyển.
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
- Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn lưu
động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau khi
doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm thu được bằng tiền bán hàng. Như vậy vốn lưu
động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh.
*Vai trò của vốn lưu động.
Vốn kinh doanh nói chung và vốn lưu động nói riêng là một bộ phận của
sản xuất kinh doanh. Nó đóng góp một vai trò rất to lớn trong sự tăng trưởng và
phát triển của doanh nghiệp. Cụ thể:
- Vốn bằng tiền: bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền
gửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán.
Cách phân loại này giúp các doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức tồn kho
dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
* Phân loại theo quan hệ sở hữu về vốn:
_ Vốn chủ sở hữu: là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ quyền chiếm hữu, sử dụng, phân phối và định
đoạt. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp mà vốn chủ sở hữu được hình thành từ
những nguồn khác nhau: nguồn đóng góp ban đầu và bổ sung của các nhà đầu
tư, vốn từ ngân sách Nhà nước, nguồn đóng góp bổ sung từ kết quả hoạt động
kinh doanh…
- Các khoản nợ: là các khoản vốn lưu động được hình thành từ vốn vay
các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tín dụng khác. Doanh nghiệp chỉ có
quyền sử dụng trong một thời gian nhất định.
Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp được
hình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay từ các khoản nợ. Từ đó có
các quyết định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý hơn,
đảm bảo an ninh tài chính trong sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Ngoài ra còn một số cách phân loại khác như: Phân loại theo nguồn hình
thành ( nguồn vốn điều lệ, nguồn vốn tự bổ sung, nguồn vốn liên doanh, liên kết,
nguồn vốn đi vay, nguồn vốn huy động từ thị trường vốn), phân loại theo thời
gian huy động vốn ( nguồn vốn huy động thường xuyên, nguồn vốn lưu động
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
tạm thời), phân loại theo phạm vi huy động vốn ( nguồn vốn bên trong doanh
nghiệp, nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp).
1.2 Quản lý vốn lưu động.
1.2.1 Sự cần thiết phải quản lý vốn lưu động.
Trong nền kinh tế thị trường để có thể tồn tại và phát triển các doanh
nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ quản lý các hoạt động kinh doanh
bao gồm:
+ Xác định mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý để có thể tránh được các rủi ro
không có khả năng thanh toán ngay.
+ Dự đoán và quản lý các luồng nhập xuất vốn tiền mặt. Trên cơ sở so
sánh các luồng nhập, xuất ngân quỹ doanh nghiệp có thể thấy được mức thặng
dư hay thâm hụt ngân quỹ.
+ Quản lý sử dụng các khoản thu chi vốn tiền mặt.
- Quản lý vốn tồn kho dự trữ:
Tồn kho dự trữ của doanh nghiệp là những tài sản mà doanh nghiệp lưu
giữ để sản xuất hoặc bán ra sau này. Trong các doanh nghiệp, tài sản tồn kho dự
trữ thường ở ba dạng: nguyên vật liệu, nhiên liệu dự trữ sản xuất; các sản phẩm
dở dang và bán thành phẩm; các thành phẩm chờ tiêu thụ. Tuỳ theo ngành nghề
kinh doanh mà tỷ trọng các loại tài sản dự trữ trên có khác nhau. Việc quản lý
tồn kho dự trữ trong các doanh nghiệp là rất quan trọng vì sẽ giúp cho doanh
nghiệp không bị gián đoạn sản xuất, không bị thiếu sản phẩm hàng hoá để bán,
đồng thời lại sử dụng tiết kiệm và hợp lý vốn lưu động.
- Quản lý các khoản phải thu:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh do nhiều nguyên nhân khác nhau thường
tồn tại một khoản vốn trong thanh toán, đó là các khoản phải thu, phải trả. Tỷ lệ
các khoản phải thu trong các doanh nghiệp có thể khác nhau, thông thường
chúng chiếm từ 15% - 20% trên tổng tài sản của doanh nghiệp. Để giúp doanh
nghiệp có thể nhanh chóng thu hồi các khoản phải thu, hạn chế việc phát sinh
các chi phí không cần thiết hoặc rủi ro, doanh nghiệp cần phải có biện pháp
quản lý tốt.
-Quản lí các khoản phải trả:
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
Khác với các khoản phải thu, các khoản phải trả là các khoản vốn doanh nghiệp
phải thanh toán cho khách hàng theo các hợp đồng cung cấp, các khoản phải nộp
cho Ngân sách Nhà nước hoặc thanh toán tiền công cho người lao động. Việc
Obj368
Obj369
V
đq1
: Vốn lưu động đầu quý 1
V
cq1
; V
cq2
; V
cq3
; V
cq4
: Vốn lưu động cuối quý 1,2,3,4
*Kỳ luân chuyển vốn: phản ánh số ngày thực hiện một vòng quay vốn lưu động.
Công thức xác định như sau:
K = hay K =
K: Kỳ luân chuyển vốn lưu động
VLĐ
bq
: Vốn lưu động bình quân trong kỳ
M: Tổng mức luân chuyển VLĐ trong kỳ
Vòng quay VLĐ càng nhanh thì kì luân chuyển vốn càng được rút ngắn,
chứng tỏ VLĐ càng được sử dụng có hiệu quả.
1.3.2. Mức tiết kiệm vốn lưu động
Mức tiết kiệm VLĐ: là chỉ tiêu phản ánh số VLĐ tiết kiệm được do tăng
tốc độ luân chuyển vốn nên doanh nghiệp có thể tăng thêm tổng mức luân
chuyển vốn song không cần tăng thêm hoặc tăng không đáng kể quy mô VLĐ.
Công thức được xác địng như sau:
hoặc
Điều này là tốt với các doanh nghiệp.
Kỳ thu tiền trung bình = x 360
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày cần thiết để thu hồi các khoản phải thu. Chỉ
tiêu này càng nhỏ càng tốt.
Trên đây là các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp. Căn
cứ vào các chỉ tiêu này có thể biết được doanh nghiệp quản lí và sử dụng VLĐ
tốt hay không, để từ đó có thể phát huy hay khắc phục.
1.4. Các biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Kinh doanh có hiệu quả là điều kiện tiên quyết để đảm bảo sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Để kinh doanh có hiệu quả
doanh nghiệp phải có những chính sách, những biện pháp thực hiện và một
trong những biện pháp đó là nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ.
Thứ nhất: Xác định chính xác nhu cầu VLĐ thường xuyên, cần thiết cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc xác định chính xác nhu cầu VLĐ sẽ đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của
doanh nghiệp được tiến hành bình thường liên tục. Nếu không xác định chính
xác sẽ dẫn đến tình trạng thiếu vốn gây gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Ngược lại, sẽ dẫn đến thừa vốn, gây lãng phí, vốn luân
chuyển chậm sẽ phát sinh thêm nhiều chi phí không hợp lí làm cho chi phí sản
xuất tăng lên kéo theo lợi nhuận cua doanh nghiệp giảm xuống. Do đó, cần thúc
đẩy VLĐ luân chuyển nhanh nhằm nang cao hiệu quả sử dụng VLĐ.
Thứ hai: Lựa chọn các hình thức huy động VLĐ thích hợp. Tích cực tổ
chức khai thác triệt để các nguồn VLĐ bên trong doanh nghiệp, vừa đáp ứng kịp
thời vốn cho nhu cầu VLĐ tối thiểu cần thiết một cách chủ động, vừa giảm được
khoản chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp. Tránh tình trạng tồn kho dưới hình
thái tài sản không cần sử dụng, vật tư hàng hoá kém phẩm chất… mà doanh
nghiệp lại phải đi vay để duy trì sản xuất với lãi suất cao, chịu sự giám sát của
chủ nợ làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Thứ ba: Tổ chức tốt công tác thanh toán.
Tổ chức thực hiện tốt công tác thanh toán là đảm bảo thu hồi vốn nhanh,
THỰC TRẠNG QUẢN LÍ, SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ KHAI THÁC MỎ VIỆT NAM
2.1. Khái quát tình hình chung về công ty cổ phần xây dựng và khai thác
mỏ Việt Nam.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Công ty cổ phần xây dựng và khai thác mỏ Việt Nam( COMICO) được
thành lập theo giấy phép đăng kí kinh doanh số 0103001183 do sở kế hoạch Đầu
tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 26/06/2002. Công ty có trụ sở kinh doanh tại 203
DN 3/3 khu đô thị Nghĩa Đô, Dịch Vọng, phố Nguyễn Khánh Toàn, Phường
Quan Hoa, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
Công ty có ba chi nhánh:
- Văn phòng đại diện tại Cao Bằng
- Văn phồng đại diện tại Hà Giang
- Văn phòng đại diện tại nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
Ngành nghề kinh doanh chính của công ty bao gồm: Bốc xúc đất đá và khai thác
mỏ; xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi, thuỷ điện, cầu, hầm; xây lắp
các công trình điện đến 35kV; xây dựng dân dụng, công nghiệp; dịch vụ cho
thuê máy móc, xây dựng; buôn bán trng thiết bị, vật tư, phụ tùng; khảo sát, thăm
dò, khai thác và buôn bán các loại khoáng sản( trừ một số khoáng sản Nhà nước
cấm); buôn bán và sản xuất điện năng.
Công ty cổ phần xây dựng và khai thác mỏ Việt Nam đã tham gia thi công
nhiều công trình lớn như: thi công mở đường mới tại tỉnh Hà Giang, tham gia
xây dựng công trình thư viện Quốc gia Hà Nội, thi công xây dựng kênh dẫn
đoạn II Nhà máy thuỷ điện Nà Loà- Cao Bằng… Các công trình công ty tham
gia thi công đều hoàn thành tốt về chất lượng, đúng tiến độ và được các chủ thầu
đánh giá cao. Lợi nhuận sau thuế hàng năm của công ty liên tục tăng. Cụ thể:
Đvt: 1000đ
Năm 2004 2005 2006
Lợi nhuận sau thuế 47.721 60.765 125.093
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
xuất của các loại sản phẩm chủ yếu của công ty cổ phần xây dựng và khai
thác mỏ Việt Nam nói riêng và các công ty xây dựng nói chung có đặc điểm
là sản xuất liên tục, phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi công
trình đều có dự toán, thiết kế riêng. Tuy nhiên, hầu hết tất cả các công trình
đều phải tuân theo một quy trình công nghệ sản xuất như sơ đồ sau:
Với một năng lực sản xuất nhất định hiện có, để thực hiện đồng thời nhiều
hợp đồng xây dựng khác nhau, công ty đã tổ chức lao động tại chỗ nhưng
cũng có lúc điều lao động từ công trình này đến công trình khácnhằm đảm
bảo công trình được tiến hành đúng tiến độ thi công.
2.1.2.3. Đặc điểm về bộ máy kế toán của công ty
Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức tại Phòng Tài chính-Kế toán,
chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc công ty. Công ty tổ chức kế toán theo
hình thức tập trung- tổ chức hoạch toán cho công trình, dự án thuộc công ty
do bộ máy kế toán của Văn phòng Công ty thực hiện.
1. Kế toán trưởng: Chỉ đạo trực tiếp toàn hệ thống kế toán của toàn Công ty,
có nhiệm vụ báo cáo cho Giám đốc tình hình hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty, trợ giúp cho Ban giám đốc trong các quyết định tài
chính.
2. Kế toán tổng hợp: Có nhiệm vụ báo cáo cho kế toán trưởng các thông tin
tài chính cần thiết, tập hợp chi phí và tính giá thành lập báo cáo tài chính,
xác định kết quả kinh doanh( lỗ, lãi) hàng tháng, báo cáo cho kế toán
trưởng.
3. Kế toán ngân hàng: Có nhiệm vụ theo dõi tình hình vay, trả tiền vay của
Công ty với Ngân hàng. Thiết lập quan hệ với các Ngân hàng, lập hồ sơ
vay vốn, tìm kiếm nguồn vốn cho các dự án của Công ty.
4. Kế toán thanh toán: Theo dõi tình hình các khoản nợ phải thu của khách
hàng, các khoản nợ phải trả nhà cung cấp.
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
5. Kế toán tiền lương: Có nhiệm vụ tính lương và các khoản trích theo lương
20.072 34.781
3. Phải thu
khách hàng
9.517.837 23.016.629 3. Quỹ khen
thưởng phúc lợi
10.890 12.210
4. ứng trước cho
người bán
780.024 1.936.671 4. Lợi nhuận
chưa phân phối
191.210 201.112
5. Phải thu khác 653.250 580.834 5. Nguồn vốn
xây dựng cơ bản
dở dang
97.900 99.778
6. Nguyên vật
liệu
386.977 897.181 II. Nguồn vốn
vay
23.688.541 54.718.375
7. Công cụ dụng
cụ
115.325 142.565 A. Nợ ngắn hạn 22.975.591 53.578.409
8. Thành phẩm 1.250 10.716 1. Vay ngắn hạn 6.955.359 20.182.451
9. Hàng hoá 2.152.232 12.192.136 2. Phải trả người
bán
10.033.137 24.739.344
10. Chi phí sản
xuất
1.944.687 4.222.842 3. Người mua
Chỉ tiêu 31/12/2005 31/12/2006 Chênh lệch
Số tiền % Số tiền % Số tiền %
A. Tài sản 25.931.463 100 56.998.308 100 +31.066.845 +119,8
1. TSLĐ và
ĐTNH
19.392.493 74,8 48.592.947 85,25 +29.200.454 +150,6
2. TSCĐ và
ĐTDH
6.538.970 25,2 8.405.361 14,75 +1.866.391 +28,5
B. Nguồn vốn 25.931.463 100 56.998.308 100 +31.066.845 +119,8
1. Nợ phải trả 23.688.541 91,35 54.718.375 96 +31.029.834 +131
- Nợ ngắn hạn 22.975.591 88,6 53.578.409 94 +30.602.819 +133,2
- Nợ dài hạn 712.950 2,75 1.139.966 2 +427.016 +59,9
2. Vốn chủ sở
hữu
2.242.922 8,65 2.279.933 4 +37.011 +1,65
Nguồn: Bảng cân đối kế toán năm 2006.
Tính đến ngày 31/12/2006, tổng tài sản của Công ty so với năm 2005 tăng
119,8% tương ứng số tiền là: 31.066.845( nghìn đồng). Tài sản của công ty được
hình thành từ hai nguồn:
- Nguồn vốn chủ sở hữu: 2.279.933(nghìn đồng).
- Nợ phải trả: 54.718.375( nghìn đồng).
Để đánh giá tình hình quản lí và sử dụng vốn lưu động của Công ty trước hết
chúng ta hãy xem xét bảng số liệu sau:
Bảng 2.2. Tình hình tài trợ vốn của Công ty năm 2006
Đvt: 1000đ
Nguồn tài trợ
31/12/2005 31/12/2006
Số tiền % Số tiền %
1. Nguồn tạm thời 23.177.863 89,4 53.920.399 94,6