Câu hỏi Kiểm tra kiểm toán
1. nếu khái niệm , đối tượng , khách thể, chức năng của kt? phân loại
kt
2. hiểu thế nào về bằng chứng kt? những loại thông tin tài liệu nào có
thể trở thành bằng chứng kt.
3. phân biệt sự giống, khác nhau giữa kt hd, kt tuân thủ và kt BCTC
giữa KTNB, KTDL và KTNN?
4. phân biệt giữa Ktoan vs ktra ktoan và thanh tra?
5. kn về gian lận, sai sót? nhưng yếu tố ảnh hưởng đến gian lận và
sai sót? trách nhiệm của đơn vị được ktoan' và KTV đối với gian lận
và sai sót? cách thức phát hiện gian lận , sai sót?
6. kn về tính trọng yếu trong ktoan? đánh giá , xét đoán và vận dụng
tính trọng yếu trong ktoan như thế nào?
7. kn về rủi ro ktoan , rủi ro tiềm năng , rủi ro ksoat' và rủi ro phat hiện
? các yếu tố ảnh hưởng và trình tự nghiên cứu đánh giá về các loại
rủi ro?
8. hiểu thế nào là cơ sở dữ liệu ? cho ví dụ minh họa
9. kn bằng chứng ktoan ? phân loại và y/c bằng chứng ktoan?
10. kn HTKSNB ? mục tiêu , cơ cấu của KSNB ? trách nhiệm của
KTV trong việc tìm hiểu HTKSNB?
Đề 1:
Kn: Kiểm toán là 1 quá trình tích luỹ (thu thập) và đánh giá bằng
chứng về những
thông tin có thể định lượng được của 1 thực thể kinh tế để xác định
và báo cáo về mức
độ phù hợp giữa những thông tin đó với các tiêu chuẩn đã được thiết
lập. Kiểm toán
cần được thực hiện bởi một người độc lập và thành thạo.
1- Đối tuợng:
Đối tượng chung của kiểm toán chính là các thông tin có thể định
lượng được
* Đối tượng kiểm toán: Là các báo cáo, tài liệu kế toán: BCTC, BC
quyết toán, BC kế
tóan, tài liệu, sổ sách kế toán,
* Chuẩn mực dùng để đánh giá: Kiểm toán báo cáo tài chính Trước
hết là các nguyên
tắc kế toán được chấp nhận phổ biến (GAAP), lấy các chuẩn mực kế
toán hay chế độ
kế toán hiện hành làm thước đo chủ yếu.
* Chủ thể tiến hành: Kiểm toán báo cáo tài chính thường được thực
hiện bởi các kiểm
toán từ bên ngoài (KT độc lập & kiểm toán nhà nước), chủ yếu là
kiểm toán độc lập.
* Kết quả: Để phục vụ cho những người quan tâm tới BCTC của đơn
vị (bên thứ 3) –
các cổ đông, cơ quan quản lý nhà nước, các nhà đầu tư, các TCTD,
các nhà cung cấp
(chủ nợ),…
b. Kiểm toán hoạt động (Opperational Audit).
- K/niệm:
Kiểm toán hoạt động là quá trình kiểm tra và đánh giá về hiệu quả và
và tính
hiệu lực của một hoạt động để từ đó đề xuất phương án cải tiến.
Hay Kiểm toán hoạt động là sự xem xét lại (review) các thủ tục và
phương pháp
hoạt động của bất kỳ một bộ phận nào trong một tổ chức, nhằm mục
đích đánh giá
về hiệu quả (efficciency) và hiệu lực (effectiveness) để từ đó đề xuất
phương án cải
thiện
VD: Đánh giá hiệu quả và tính chính xác về tính lương của một hệ
Là việc kiểm tra nhằm đánh giá mức độ chấp hành luật pháp, chính
sách, chế
độ quản lý, hay các văn bản, qui định nào đó của đơn vị.
- Đối tượng: là việc tuân thủ pháp luật và các qui định hiện hành, có
thể bao gồm:
Luật pháp, chính sách, chế độ tài chính kế toán, chế độ quản lý của
Nhà nước,
Nghị quyết, quyết định, quy chế của Hội đồng quản trị, Ban giám đốc,
nội qui
cơ quan.
Các qui định về nguyên tắc qui trình nghiệp vụ, thủ tục quản lý của
toàn bộ
hay từng khâu công việc của từng bộ phận.
- Tiêu chuẩn dùng để đánh giá: là các văn bản có liên quan, như: luật
thuế, các văn
bản pháp qui, các nội qui, chế độ, thể lệ
- Chủ thể tiến hành: Được thực hiện chủ yếu bởi kiểm toán viên nội
bộ, kiểm toán
viên nhà nước hay kiểm toán viên độc lập.
- Kết quả: Chủ yếu phục vụ cho các cấp thẩm quyền có liên quan,
các nhà quản lý.
2. Phân loại theo chủ thể kiểm toán
+ Kiểm toán độc lập
+ Kiểm toán nhà nước
+ Kiểm toán nội bộ
2.1- Kiểm toán độc lập
(Independent Audit)
a. K/niệm:
Là hoạt động kiểm toán được tiến hành bởi các kiểm toán viên
chuyên nghiệp
do Ủy ban Chuẩn
mực thuộc Bộ Tài chính xây dựng và công bố, CMKT quốc tế do Uỷ
ban chuẩn mực
kiểm toán quốc tế thuộc IFAC xây dựng và công bố.
e. Đối tượng phục vụ của KTĐL: chủ yếu là những người sử dụng
báo cáo tài chính
(bên thứ 3), ngoài ra tuỳ theo yêu cầu của cơ quan NN hay của chủ
DN mà đối tượng
phục vụ là cơ quan QL NN hay thủ trưởng đơn vị.
f. Tổ chức: Các tổ chức KTĐL hiện nay xét về mặt quy mô và phạm
vi hoạt động có
thể là công ty kiểm toán quốc tế, công ty quốc gia, công ty điạ
phương và khu vực,
các công ty nhỏ. Xét về sở hữu có công ty đa quốc gia, công ty thuộc
sở hữu NN,
công ty cổ phần, công ty đối nhân, công ty tư nhân, văn phòng kiểm
toán….
g. Các dịch vụ mà công ty KTĐL có thể cung ứng:
- Dịch vụ kiểm tóan và xác nhận
- Dịch vụ thuế
- Dịch vụ kế toán
- Dịch vụ tư vấn quản lý
- Dịch vụ tư vấn tài chính, tư vấn đầu tư
- ….
2.2. Kiểm toán Nhà nước
(State Audit)
Khái niệm:
Là hoạt động kiểm toán do cơ quan kiểm toán Nhà nước (cơ quan
kiểm tra tài chính
nhà nước độc lập) tiến hành. KTNN thường tiến hành kiểm toán tuân
- Chuẩn mực:
+ CM quốc tế: Do tổ chức các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI)
xây dựng và
công bố.
+ CM quốc gia: Do thường vụ quốc hội quy định, Tổng KTNN xây
dựng và ban
hành.
Tính chất của cuộc kiểm toán là mang tính bắt buộc
Báo cáo KT của KTNN là căn cứ để:
- Quốc hội xem xét, quyết định dự toán NSNN, phân bổ NS TW, QĐ
dự án & công
trìnhquan trọng quốc gia được đầu tư từ nguồn NSNN. Xem xét phê
chuẩn quyết toán
NSNN, giám sát thực hiện NSNN, CS tài chính, chính sách tiền tệ
quốc gia…
- Chính phủ & cơ quan QLNN sử dụng trong quản lý NN
Báo cáo KT của KTNN là căn cứ:
- Hội đồng ND xem xét dự toán, phân bổ, giám sát thực hiện và
quyết toán NS địa
phương
- Toà án và các cơ quan luật pháp sử dụng để xử lý các hành vi vi
phạm PL về kinh
tế, tài chính
- ĐV được kiểm toán thực hiện các biện pháp khắc phục các sai
phạm, yếu kém
trong hoạt động do KTNN phát hiện và kiến nghị
2.3- Kiểm toán nội bộ
(Internal Audit)
Chức năng kiểm toán:
- chức năng xác minh găn liền với sự ra đời của kiểm toán chức
thông tin người nói thông qua phỏng vấn hay viết từ phía người được
kiểm
Xem them sgk trang 32
Đề 3
Kiểm toán độc lập
Kiểm toán độc lập là loại kiểm toán được tiến hành bởi các kiểm toán
viên thuộc các công ty, các văn phòng kiểm toán chuyên nghiệp.
Kiểm toán độc lập là hoạt động dịch vụ tư vấn được pháp luật thừa
nhận và quản lý chặt chẽ. Quan hệ giữa các chủ thể kiểm toán (kiểm
toán viên/tổ chức kiểm toán và đơn vị kinh tế được kiểm toán) là
quan hệ mua bán dịch vụ, đơn vị kinh tế được kiểm toán trả phí dịch
vụ cho các kiểm toán viên theo thoả thuận trong hợp đồng kiểm toán.
Các kiểm toán viên độc lập là những người hội đủ các tiêu chuẩn
theo chuẩn mực kiểm toán và các qui định pháp lý về hành nghề
kiểm toán.
Kiểm toán độc lập chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán báo
cáo tài chính, thực hiện các dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán. Ngoài
ra, tuỳ từng thời kỳ kinh tế và yêu cầu cụ thể của khách hàng, kiểm
toán viên độc lập còn thực hiện các dịch vụ khác như kiểm toán hoạt
động, kiểm toán tuân thủ và đặc biệt là kiểm toán các quyết toán giá
trị công trình xây dựng cơ bản hoàn thành, xác định giá trị vốn góp.
Hoạt động kiểm toán độc lập là hoạt động kiểm toán rất phổ biến ở
các nước có nền kinh tế phát triển, vì thế hoạt động kiểm toán nói
chung thường được coi là hoạt động kiểm toán độc lập. Trong hoạt
động kiểm toán độc lập thì kiểm toán báo cáo tài chính là chủ yếu,
theo đó đề cập về kiểm toán độc lập tức là kiểm toán độc lập báo cáo
tài chính.
Kiểm toán Nhà nước
Nếu kiểm toán độc lập là hoạt động dịch vụ và thu phí thì kiểm toán
nhà nước lại là công việc kiểm toán do cơ quan kiểm toán nhà nước
a/Kiểm toán là một hoạt động kiểm tra đặc biệt nhằm xác
minh tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế
toán, báo cáo tài chính của các tổ chức, cơ quan đơn vị,
doanh nghiệp, bảo đảm việc tuân thủ các chuẩn mực và các
quy định hiện hành.
Công tác kiểm toán do cơ quan chuyên môn gồm các
chuyên gia có trình độ nghiệp vụ thích hợp được pháp
luật thừa nhận hoặc các công ty kiểm toán độc lập thực
hiện.Tùy theo các loại hình kiểm toán mà việc thực hiện
kiểm toán được thực hiện bằng mệnh lệnh hành chính hoặc
là các giao kết kinh tế, dân sự.
b/iểm tra kế toán là xem xét, đánh giá việc tuân thủ pháp
luật về kế toán, sự trung thực, chính xác của thông tin, số
liệu kế toán.
Đơn vị kế toán phải chịu sự kiểm tra kế toán của cơ quan
có thẩm quyền và không quá một lần kiểm tra cùng một nội
dung trong một năm. Việc kiểm tra kế toán chỉ được thực
hiện khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền theo quy
định của pháp luật.
c/Thanh tra là hoạt động kiểm tra của tổ chức thanh tra Nhà
nước đối với các tổ chức, cá nhân nhằm phát hiện, chấn
chỉnh những sai lầm, xử lý những vi phạm trong các hoạt
động kinh tế- xã hội nhằm giúp cho bộ máy quản lý vận
hành được tốt. :
+ Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ,
kế hoạch Nhà nước của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trừ
hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, kiểm sát của các cơ quan
điều tra, kiểm sát, tòa án và giải quyết tranh chấp hợp đồng
kinh tế.
+ Xem xét, kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết
Tiếp thu và giải trình kịp thời đầy đủ
Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận sai sót
Thông qua việc tìm kiếm gian lận, sai sót và sự ảnh hưởng của nó
đến báo cáo tài chính
làm cơ sở đưa ra ý kiến cho phù hợp
[FONT="] [/FONT]
Gian lận là hành vi có chủ ý, hoặc cố ý để lừa dối, giấu diếm, xuyên
tạc sự thật về thong tin tài chính nhằm mục đích tư lợi cho cá nhân
hoặc đơn vị.
Sai sót là sự nhầm lẫn hoặc bỏ sót không chủ ý.
+ các yếu tố ảnh hưởng tới việc xảy ra gian lận
_ Sự xúi giục : áp lực từ phía cá nhân người thực hiên hành vi gian
lận hoặc bởi 1 người nào đó
_ Cơ hội: thời cơ để thực hiện hành vi gian lận
_ Thiếu liêm khiết: làm cho sự kết hợp giữa xúi dục và thời cơ biến
thành hành động gian lận
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến sai sót: năng lực, sức ép, lề lối làm việc
Trách nhiệm của kiểm toán viên: KTV phải tiến hành đánh giá những
rủi ro về gian lận và sai sót ảnh hưởng trọng yếu tới báo cáo tài
chính, đồng thời phải nêu ý kiến, đề xuất giải pháp giúp doanh
nghiệp ngăn chặn, phát hiện các hành vi gian lận, giảm thiểu các sai
sót trong báo cáo tài chính .
Tóm tắt 1 số biểu hiện của gian lận : sự luôn chuyển nhanh trong các
vị trí lam việc trong lĩnh vực tài chính, thiếu vốn hoạt động, chỉ sử
dụng 1 nguồn cung cấp duy nhất, chi phí công tác quá cao, thay đổi
kiểm toán viên bên ngoài, chuyển giao giá giữa các công ty thành
viên hay giữa các chi nhánh, chi phí tư vấn hay kiện tụng quá cao,
giảm sút các chi tiêu tài chính quan trọng, tồn tại các mâu thuẫn lợi
ích, thiếu hụt tài sản đặc biệt là TSCĐ không giải thích được, sự suy
giảm trong hoạt động, công việc quản lý được thực hiên bởi 1 số cá
Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính là để kiểm toán viên và
công ty kiểm toán đưa ra ý
kiến xác nhận xem báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn
mực và chế độ kế toán
hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và
có phản ánh trung thực
và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không. Việc xác định mức
trọng yếu là công việc
xét đoán mang tính nghề nghiệp của kiểm toán viên.Khi lập kế hoạch
kiểm toán, kiểm toán viên
phải xác định mức trọng yếu có thể chấp nhận được để làm
tiêuchuẩn phát hiện ra những sai
sót trọng yếu về mặt định lượng. Tuy nhiên, để đánh giá những sai
sót đượccoi là trọng yếu,
kiểm toán viên còn phải xem xét cả hai mặt định lượng và định tính
của sai sót. Ví dụ: Việc
không chấp hành chế độ kế toán hiện hành có thể được coi là sai sót
trọng yếu nếu dẫn đến
việc trình bày sai các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính làm cho người sử
dụng thông tin tài chính
hiểu sai bản chất của vấn đề; hoặc trong báo cáo tài chính không
thuyết minh những vấn đề có
liên quan đến hoạt động không lien tục của doanh nghiệp.Kiểm toán
viên cần xét tới khả năng
có nhiều sai sót là tương đối nhỏ nhưng tổng hợp lại có ảnh
hưởngtrọng yếu đến báo cáo tài
chính, như: một sai sót trong thủ tục hạch toán cuối tháng có thể trở
thành một sai sót trọng
yếu, tiềm tàng nếu như sai sót đó cứ tiếp tục tái diễn vào mỗi
tháng.Kiểm toán viên cần xem
đối với kiểm toán viên khi xem xét (xét đoán) ước lượng ban đầu về
tính trọng yếu là: Sai sót
về tổng lợi nhuận thuần trước thuế là cơ sở quan trọng nhất để quyết
định cái gì là trọng yếu,
bởi nó được xem như một khoản mục then chốt nhất đối với người
sử dụng. Các sai sót về Tài
sản ngắn hạn trong Tổng tài sản; nợ phải trả ngắn, vốn cổ đông.cũng
là cơ sở quan trọng khi
xét đoántính trọng yếu.
b. Yếu tố định tính:Kế hoạch kiểm toán được lập ra để tìm ra các sai
sót nghiêm trọng về mặt
định lượng, nhưng trên thực tếkiểm toán viên phải xét đoán và đánh
giá cả về trị giá(số lượng)
và bản chất (chất lượng) của bất cứ sai sótnào phát hiện ra Một sai
sót luôn luôn được coi là
trọng yếu bất chấp về số lượng, qui mô, tức chỉ xét bản chất.
Về việc vận dụng tính trọng yếu trong quy trình kiểm toán
1. Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
- Xác định mức trọng yếu cho toàn bộ BCTC
-Xác lập mức trọng yếu cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính
2. Giai đoạn thực hiện kiểm toán
Mức trọng yếu phân bổ cho từng khoản mục chính là sai lệch có thể
chấp nhận được là cơ sở giúp KTV:
• Lựa chọn các phần tử để thử nghiệm
Đối với những khoản mục có giá trị lớn hơn mức trọng yếu phân bổ.
Nếu tổng thể có ít phần tử nhưng giá
trị các phần tử rất lớn, sai lệch trên một phần tử có thể gây ảnh
hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính,
KTV nên lựa chọn phương pháp kiểm tra toàn bộ. Ví dụ ở các đơn vị
các khoản đầu tư lớn về bất động
và sai lệch ước tính nếu lớn hơn mức
trọng yếu, lúc này KTV phải điều chỉnh nội dung và phạm vi của các
thủ tục kiểm toán khác.
Thông báo sai lệch cho Nhà quản lý
KTV nên tập hợp tất cả các sai lệch kiểm toán có thể xảy ra và sai
lệch đã phát hiện được nhận diện trong
quá trình kiểm toán để thông báo các sai lệch này cho Nhà quản lý
thích hợp vào thời gian thích hợp.
Tuy nhiên, chuẩn mực lưu ý KTV nên điều chỉnh mọi sai lệch phát
hiện trong quá trình kiểm toán, kể cả
trọng yếu hay không.
3. Giai đoạn hoàn thành kiểm toán
• Đánh giá ảnh hưởng của các sai lệch chưa điều chỉnh
KTV cần tổng hợp các sai lệch chưa điều chỉnh trước khi đưa ra ý
kiến trên báo cáo kiểm toán. Khi đánh
giá, KTV phải xem xét quy mô và bản chất của các sai phạm liên
quan tới từng loại nghiệp vụ, số dư tài
khoản hay liên quan đến sự trình bày BCTC.
KTV phải xem xét cả về phương diện định lượng và định tính. Nếu
KTV tin rằng sai lệch có thể là do
gian lận, KTV xem xét lại mối quan hệ của nó với rủi ro kiểm toán, kể
cả trong trường hợp sai lệch này
không trọng yếu.
Đánh giá ảnh hưởng cuộc kiểm toán đến toàn bộ BCTC để phát
hành báo cáo kiểm toán thích
hợp
Nếu KTV tin rằng BCTC tổng thể còn có các sai lệch trọng yếu, KTV
nên đòi hỏi Nhà quản lý thực hiện
các điều chỉnh cần thiết. Nếu Nhà quản lý từ chối điều chỉnh, KTV
phải xem xét mối liên hệ đến báo cáo
-tính thích hợp ,đầy đủ của các thủ tục,trình tự ksoát
*rủi ro phát hiện
Kn: là rr mà ktoán viên ko phát hiện ra các sai phạm trọng yếu trong
các thong tin đc ktoán khi chúng
nằm riêng biệt hay khi gộp với các sai phạm khác.
+các yếu tố a/h đến rr phát hiện:
-do trình độ năng lực của ktv
-sự xét đoán của ktv về rr tiềm năng và rr ksoát ko chính xác,do đó
đã áp dụng các phương pháp,phạm
vi ktoán ko phù hợp.
-Do sự gian lận:đặc biệt là sự gian lận có hệ thống từ BGĐ
MQH giữa các loại rr:
-rr tiềm năng và rr ksoát là những rr gắn liền với qtrình hđ của doanh
nghiệp,nó luôn tồn tại cho dù có
tiến hành hđ ktoán hay không. rr tiềm năng và rr ksoát có a/h đến rr
phát hiện và tới rr ktoán.
Câu 8
2. Cơ sở dẫn liệu của BCTC (CM 500)
2.1. Cơ sở dẫn liệu của BCTC: Là căn cứ của các khoản mục và
thông tin trình bày trong
BCTC do Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị chịu trách nhiệm
lập trên cơ sở các
chuẩn mực và chế độ kế toán qui định phải được thể hiện rõ ràng
hoặc có cơ sở đối với
từng chỉ tiêu trong BCTC.
Khi thu thập bằng chứng kiểm toán từ các thử nghiệm cơ bản, KTV
phải xem xét sự đầy
đủ và tính thích hợp của các bằng chứng từ các thử nghiệm cơ bản
kết hợp với các bằng
chứng thu được từ thử nghiệm kiểm soát nhằm khẳng định cơ sở
chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được thừa nhận);
g) Chính xác: Một nghiệp vụ hay một sự kiện được ghi chép theo
đúng giá trị của nó,
doanh thu hay chi phí được ghi nhận đúng kỳ, đúng khoản mục và
đúng về toán học.
h) Trình bày và công bố: Các khoản mục được phân loại, diễn đạt và
công bố phù hợp
với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận).
Sgk tr 30-31
Có thể hiểu từ " cơ sở dẫn liệu" theo kiểu đơn giản là : cơ sở trích để
đưa ra số liệu, tài
liệu. Một khoản mục hay thông tin trình bày trong BCTC phải đáp
ứng các yêu cầu như :
Sự hiện hữu, quyền và nghĩa vụ, phát sinh, đầy đủ, tính giá, chính
xác, trình bày và công
bố
Ví dụ như một khoản mục TSCĐ được trình bày trên BCĐKT nhưng
thực tế trong DN
không hề có TSCĐ này, tức là nó vi phạm cơ sở dẫn liệu Sự hiện
hữu.
Nếu TSCĐ là tài sản đi thuê hoạt động nhưng lại trình bày trên
BCĐKT > vi phạm cơ
sở dẫn liệu quyền và nghĩa vụ, vì tài sản này không thuộc quyền sở
hữu của DN nên ko
đc phép trình bày trên BCĐKT.
Sự phát sinh : Một nghiệp vụ hay một sự kiện đã ghi chép thì phải đã
xảy ra và có liên
quan đến đơn vị trong thời kỳ xem xét. Ví dụ ghi một nghiệp vụ ghi
nhận doanh thu phát
sinh từ cuối năm trước vào doanh thu năm nay thì là vi phạm cơ sở
của mình trên báo
cáo kiểm toán".
=> Như vậy bằng chứng kiểm toán chính là cơ sở để chứng minh
cho báo cáo kiểm
toán, và thực chất của giai đoạn thực hiện kiểm toán là quá trình thu
thập các bằng
chứng kiểm toán.
b. Phân loại
- Phân loại theo nguồn gốc của bằng chứng kiểm toán:
+ Bằng chứng do đơn vị được kiểm toán cung cấp
+ Bằng chứng do bên ngoài cung cấp (có thể có liên quan hoặc
không liên
quan): đối thủ cạnh tranh, bạn hàng, đối tác của đơn vị được kiểm
toán, những người
khác
+ Bằng chứng thu thập từ các nguồn thông tin đại chúng
+ Bằng chứng do kiểm toán viên tự tính toán
- Phân loại theo hình thức biểu hiện:
+ Bằng chứng vật chất
+ Bằng chứng tài liệu
+ Bằng chứng lời nói
.2. Yêu cầu của bằng chứng kiểm toán.
a. Tính thích hợp. (Competence)
- Là khái niệm để chỉ chất lượng hay độ tin cậy của bằng chứng kiểm
toán.
- Các nhân tố ảnh hưởng tới tính thích hợp của bằng chứng kiểm
toán:
+ Nguồn gốc của bằng chứng kiểm toán
+ Dạng của bằng chứng kiểm toán
+ Hệ thống kiểm soát nội bộ
của các TS vật chất đó.
- Kiểm tra đối chiếu thường bao gồm 2 loại:
Kiểm tra vật chất