chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại phòng giao dịch thủ đức ngân hàng tmcp quốc tế việt nam - Pdf 23

Trang 1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong thời đại kinh tế mở và hội nhập như hiện nay, Việt Nam đang từng bước
bắt kịp với xu thế chung của nền kinh tế toàn cầu. Điều này đã giúp nước ta thu hẹp
khoảng cách với phần còn lại của thế giới, đồng thời mở ra nhiều cơ hội để phát triển
đất nước. Nhưng bên cạnh những thuận lợi đó, Việt Nam đã phải đối mặt với biết bao
khó khăn, thử thách do những biến động từ nền kinh tế thế giới cũng như những vấn đề
thuộc về nội tại của đất nước. Vượt lên tất cả, nền kinh tế Việt Nam vẫn đứng vững và
có những bước tiến lớn đáng được ghi nhận. Để duy trì những thành quả đạt được và
tiếp tục mục tiêu tăng trưởng kinh tế, nhu cầu về vốn trở thành một nhu cầu mang tính
quyết định. Có vốn chúng ta mới thực hiện được quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Ngân
hàng Thương mại với tư cách là trung tâm tài chính - tiền tệ, là trái tim của nền kinh tế
đã không ngừng nỗ lực để đáp ứng nhu cầu về vốn của toàn xã hội. Do đó, việc mở
rộng và nâng cao tỷ trọng cũng như chất lượng tín dụng trung và dài hạn - một công cụ
đắc lực về vốn trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Là một bộ phận của Ngân hàng Thương mại, Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt
Nam cũng nằm trong dòng chảy chung đó. Khi mà những đòi hỏi về vốn của nền kinh
tế càng lớn và sự cạnh tranh trong thương mại ngày càng cao, VIB nhận thấy cần phải
nâng cao chất lượng trong hoạt động tín dụng nói chung và chất lượng trong cho vay
trung - dài hạn nói riêng. Tức là phải phát huy hiệu quả cao nhất trong hoạt động đầu
tư tín dụng, nhằm đảm bảo việc cho vay có hiệu quả, thu hồi nợ và lãi đúng hạn, đảm
bảo hoạt động tín dụng là công cụ đắc lực trong việc tài trợ nguồn vốn cho nền kinh tế.
Thực tế, thời gian qua VIB đã có những chính sách để đẩy mạnh hoạt động tín dụng
trung - dài hạn đối với mọi thành phần kinh tế bên cạnh hoạt động tín dụng ngắn hạn
truyền thống.
Phòng Giao dịch Thủ Đức - Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam cùng với
những bộ phận khác trong cùng hệ thống đã lấy chủ trương này làm cốt lõi cho việc
GVHD: Nguyễn Anh Phong SVTH: Nguyễn Thị Bích Hảo
Trang 2

GVHD: Nguyễn Anh Phong SVTH: Nguyễn Thị Bích Hảo
Trang 3
Với những gì thể hiện trong đề tài báo cáo thực tập tốt nghiệp này, em hy vọng
sẽ có một số ý kiến đóng góp thiết thực đến việc nâng cao hiệu quả chất lượng tín dụng
trung và dài hạn tại đơn vị em thực tập – Phòng Giao dịch Thủ Đức - Ngân hàng
TMCP Quốc Tế Việt Nam. Do trình độ cũng như thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên
bài viết không tránh khỏi những khiếm khuyết. Em rất mong được sự chỉ bảo và đóng
góp ý kiến của tất cả những ai quan tâm đến vấn đề này để báo cáo được hoàn thiện và
sâu sắc hơn.
Qua đây, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo ở Đại học
Kinh tế - Luật - Đại học Quốc Gia Hồ Chí Minh và đặc biệt là Thầy giáo Thạc sĩ
Nguyễn Anh Phong, người trực tiếp hướng dẫn em hoàn thiện báo cáo này. Em cũng
cảm ơn toàn bộ các anh chị tại Phòng Giao dịch Thủ Đức - Ngân hàng TMCP Quốc Tế
Việt Nam, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong thời gian thực tập nghiên cứu đề tài
để em có thể hoàn thành báo cáo này
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN
1.1 Những vấn đề chung về tín dụng ngân hàng
1.1.1 Khái niệm về tín dụng
Tín dụng là một khái niệm đã tồn tại từ rất lâu đời trong xã hội loài người. Tín
dụng theo nghĩa la tinh là creditim - sự tín nhiệm, tin tưởng tên gọi này xuất phát từ
bản chất của quan hệ tín dụng. Trong quan hệ tín dụng người cho vay sẽ cho người cần
vốn vay theo các điều kiện đã được thoả thuận trước như thời gian cho vay, thời gian
hoàn trả, lãi suất tín dụng … Trong quan hệ đó người cho vay tin tưởng rằng người đi
GVHD: Nguyễn Anh Phong SVTH: Nguyễn Thị Bích Hảo
Trang 4
vay sẽ sử dụng vốn vay đúng mục đích, đúng các thoả thuận, làm ăn có lãi và có khả
năng hoàn trả đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn.
Tín dụng được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau, nhưng ta có thể tiếp cận với
một khái niệm thông dụng nhất là: Tín dụng là quan hệ vay mượn được biểu hiện dưới

vốn tiền tệ trong nền kinh tế thị trường.
1.1.2 Phân loại tín dụng
Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau tùy theo yêu cầu của khách hàng và
mục tiêu quản lý của NH. Sau đây là một số cách phân loại phổ biến nhất:
1.1.2.1 Căn cứ vào thời hạn
Đây là cách phân chia thông dụng nhất về tín dụng của ngân hàng. Phân chia
theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết
đến tính an toàn và hiệu quả cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo thời
hạn tín dụng được phân chia thành:
•Tín dụng ngắn hạn: Là những khoản tín dụng có thời hạn cho vay từ 1 năm trở
xuống.
•Tín dụng trung hạn: Là những khoản tín dụng có thời hạn cho vay từ trên 1
năm đến 5 năm.
•Tín dụng dài hạn: Là những khoản tín dụng có thời hạn vay trên 5 năm.
Thời hạn tín dụng được xác định cụ thể (ngày, tháng, năm) và ghi trong hợp
đồng tín dụng. Đó là thời hạn cam kết cấp cho khách hàng một khoản tín dụng. Hay
thời hạn tín dụng còn được hiểu là thời hạn được tính từ lúc đồng vốn đầu tiên của
ngân hàng được phát ra cho đến lúc đồng vốn và lãi cuối cùng phải thu về. Các ngân
hàng căn cứ vào mục đích xin vay, chu kỳ sản xuất kinh doanh để xác định thời hạn
vay của các khoản tín dụng.
1.1.2.2 Căn cứ vào hình thức cho vay
Căn cứ vào hình thức cho vay có các loại tín dụng sau:
•Chiết khấu là việc Ngân hàng Thương mại ứng trước tiền cho khách hàng
tương ứng với giá trị của thương phiếu sau khi đã trừ đi phần thu nhập của Ngân hàng
để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn. Về mặt pháp lý thì Ngân hàng không phải
là nhà cho vay với chủ sở hữu thương phiếu và chỉ là hình thức trao đổi trái quyền.
GVHD: Nguyễn Anh Phong SVTH: Nguyễn Thị Bích Hảo
Trang 6
•Cho vay là việc Ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng với sự cam kết khách
hàng phải hoàn trả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định với mức lãi suất cam kết.

kỹ thuật, mở rộng và xây dựng công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
Tín dụng dài hạn: là khoản tín dụng có thời gian trên 5 năm. Loại tín dụng này
được dùng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản như đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới,
các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất…
Nói chung, tín dụng - trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định
của khách hàng, mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của
doanh nghiệp để từ đó cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở
rộng sản xuất chiếm lĩnh thị trường.
1.2.2 Hình thức tín dụng trung và dài hạn
1.2.2.1 Cho vay đầu tư dự án
Cho vay đầu tư dự án là hình thức tín dụng trung dài hạn chủ yếu của các ngân
hàng thương mại Việt Nam hiện nay. Các dự án được tài trợ thường có hai hình thức
phổ biến là:
•Hình thức tín dụng trung dài hạn nhằm cải tạo, khôi phục, mở rộng, thay thế tài
sản cố định. Trong hình thức này, nguồn vốn của Ngân hàng tham gia vào dự án tương
đối lớn, thời gian tín dụng của dự án không dài, các dự án này thường có quy mô vừa
và nhỏ. Các dự án loại này đã và đang được ngân hàng tài trợ có hiệu quả.
•Hình thức tín dụng trung dài hạn nhằm để đầu tư xây dựng theo dự án mới, đổi
mới kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ để tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh. Khi tham gia vào hình thức này nguồn vốn của ngân hàng tham gia thường nhỏ
hơn nguồn vốn tự có của chủ đầu tư, thời gian của dự án thường dài.
Các NH sẽ tiến hành thẩm định dự án để quyết định phần vốn vay và xác định
khả năng hoàn trả của doanh nghiệp.
1.2.2.2 Cho thuê tài chính
Thuê mua tài chính là một phương thức tín dụng trung - dài hạn trên cơ sở hợp
đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng với khách hàng thuê. Khi
hết thời hạn thuê, khách hàng có thể thuê tiếp hoặc mua lại theo các thoả thuận trong
hợp đồng thuê. Trong thời hạn thuê các bên không được đơn phương huỷ bỏ hợp đồng.
GVHD: Nguyễn Anh Phong SVTH: Nguyễn Thị Bích Hảo
Trang 8

Tín dụng trung – dài hạn thường có những đặc điểm sau:
1.2.3.1 Vốn đầu tư lớn, thời gian dài, thu hồi vốn chậm
Nếu như tín dụng ngắn hạn tài trợ chủ yếu cho các tài sản lưu động của doanh
nghiệp và được hoàn trả trong thời hạn ngắn (dưới 1năm) thì tín dụng trung dài hạn
phần lớn tài trợ cho bất động sản, công cụ lao động, hay đổi mới công nghệ của doanh
nghiệp. Do đó việc tài trợ này còn đòi hỏi một khối lượng vốn lớn, thời gian đầu tư dài.
Những khoản tín dụng trung dài hạn này thì nguồn trả nợ gốc và lãi chủ yếu dựa vào
khấu hao và lợi nhuận của dự án đầu tư. Nguyên nhân là do những khoản vay này
thường gắn với tài sản cố định, vốn cố định. Trong khi đó ngân hàng phải bỏ vốn trong
suốt thời gian xây dựng dự án và chỉ tiến hành thu hồi vốn đầu tư khi dự án đi vào hoạt
động và đạt kết quả, dẫn đến thời hạn thu hồi vốn chậm.
1.2.3.2 Độ rủi ro cao
Do khối lượng vốn đầu tư lớn, thời gian đầu tư dài, thu hồi vốn chậm nên độ rủi
ro của một khoản tín dụng trung dài hạn là cao hơn so với các khoản vay ngắn hạn. Kết
quả của một dự án đầu tư chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Sự phân tích và xác định
của ngân hàng về các rủi ro này là có hạn. Các ngân hàng cũng không thể khắc phục
hết được các rủi ro này. Khi khoản cho vay dài hạn thời gian đầu tư dài, có rất nhiều sự
thay đổi trong môi trường kinh tế: Như những thay đổi về chính sách, thị trường, thiên
tai, chiến tranh… Khiến cho dự án bị thua lỗ hoặc không có khả năng thu hồi vốn.
1.2.3.3 Lợi nhuận từ các khoản cho vay trung – dài hạn lớn
Khi độ rủi ro của các dự án càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng mà nhà đầu tư mong
đợi càng nhiều. Không nằm ngoài quy luật này các khoản tín dụng trung dài hạn của
ngân hàng thường mang lại cho ngân hàng các khoản thu nhập lớn. Biểu hiện cụ thể đó
là lãi suất các khoản cho vay tín dụng trung dài hạn rất cao. Có đặc điểm này là do để
bù đắp cho những chi phí trong việc huy động những nguồn vốn phục vụ cho hoạt
động cho vay trung dài hạn, chi phí bù đắp rủi ro
1.2.4 Vai trò của tín dụng trung và dài hạn trong nền kinh tế thị trường
GVHD: Nguyễn Anh Phong SVTH: Nguyễn Thị Bích Hảo
Trang 10
Tín dụng trung và dài hạn là hoạt động tài chính cho vay vốn trung và dài hạn

• Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện để phát triển quan hệ kinh tế
đối ngoại. Trong thời đại hội nhập như hiện nay, hợp tác quốc tế là vô cùng quan trọng
để phát triển kinh tế. Trong đó, đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh hàng hóa xuất
nhập khẩu là hai lĩnh vực hợp tác thông dụng nhất. Ta dễ dàng nhận thấy vốn chính là
nhân tố quyết định đầu tiên cho quá trình này. Lúc này NHTM sẽ là trợ thủ đắc lực về
vốn cho các nhà đầu tư và kinh doanh xuất nhập khẩu. Ở các nước đang phát triển như
nước ta, để thực hiện được các chính sách phát triển kinh tế cần thiết phải thu hút và
tiếp nhận các khoản viện trợ ban đầu, vay nợ của các nước phát triển thông qua các
hình thức tín dụng quốc tế. Từ đó tạo môi trường thuận lợi cho việc đầu tư vốn làm
động lực cho sự tăng trưởng kinh tế.
1.2.4.2 Đối với doanh nghiệp
• Tín dụng trung và dài hạn là nguồn tài trợ giúp doanh nghiệp có điều
kiện mở rộng quy mô sản xuất, quy mô thị trường. Khi mà sự vận động của nền
kinh tế là không ngừng, lượng hàng hóa sản xuất ra càng nhiều, nhu cầu của con người
ngày một nâng cao thì doanh nghiệp cần thiết phải mở rộng quy mô để đảm bảo cho sự
tồn tại và phát triển của mình. Tuy nhiên, đây không phải là một vấn đề có thể thực
hiện trong một sớm một chiều mà còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng
nhất là nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn dài hạn. Doanh nghiệp có thể huy động
nguồn vốn từ nhiều nguồn như là nguồn vốn tự tích lũy, từ thị trường chứng khoán…
Nhưng kênh huy động vốn nhiều nhất và quan trọng nhất là vay từ các NH. Với những
lợi thế đặc thù, tín dụng trung - dài hạn trở thành nguồn tài trợ quan trọng và chủ yếu
giúp các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và mở rộng chiếm lĩnh thị
trường mới.
• Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới
công nghệ, thay đổi cơ cấu sản xuất. Vấn đề này là hết sức ý nghĩa đối với các doanh
nghiệp, nó giúp doanh nghiệp sẽ thích nghi với tình hình biến động của thị trường,
GVHD: Nguyễn Anh Phong SVTH: Nguyễn Thị Bích Hảo
Trang 12
đồng thời hoạt động của doanh nghiệp trở nên hiệu quả và ngày càng hoàn thiện hơn.
Thực tế, các doanh nghiệp luôn chú trọng đến việc mở rộng sản xuất, xây dựng nhà

chủ yếu trong tổng thể các hoạt động của Ngân hàng Thương mại từ trước đến nay.
• Khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng chính là ngân hàng đang
tạo ra và duy trì khách hàng của mình trong tương lai. Tín dụng trung - dài hạn đã
tạo điều kiện cho các NH mở rộng phạm vi hoạt động của mình, khẳng định vị thế, vai
trò của mình trong nền kinh tế. Nó là công cụ hiệu quả để tạo mối quan hệ với khách
hàng trong tương lai, củng cố lòng trung thành với khách hàng truyền thống, đồng thời
tạo mối quan hệ với các khách hàng mới. Chính vì thế mà các NH đã không ngừng đa
dạng hóa hoạt động cho vay, đa dạng hóa khách hàng, thời hạn vay để có thể đứng
vững trong nền kinh tế thị trường có quá nhiều sự cạnh tranh giữa các NH.
• Tín dụng trung và dài hạn là cách thức khả thi để giải quyết nguồn vốn
huy động thừa tại mỗi NHTM. Đồng thời là cách để Ngân hàng gọi vốn từ nền kinh
tế đáp ứng nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp. Vì vậy cần phải nâng cao chất lượng
tín dụng trung và dài hạn để giải quyết vấn đề huy động và sử dụng vốn có hiệu quả,
thu được lợi nhuận qua đó phát triển hoạt động của mình, tăng cường khả năng cạnh
tranh với các Ngân hàng khác.
1.3 Chất lượng tín dụng trung và dài hạn trong hoạt động của NHTM
1.3.1 Khái niệm chất lượng tín dụng trung - dài hạn
Trong nền kinh tế thị trường, với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì các doanh
nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải không ngừng nâng cao vị thế của mình trên thị
trường. Ngoài việc chạy đua về số lượng sản phẩm làm ra, các doanh nghiệp đã không
ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm của mình. NHTM cũng là một doanh nghiệp,
kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, với những khoản tín dụng là sản phẩm, nó cũng cần
phải quan tâm đến chất lượng. Tuy nhiên, với đặc thù là một ngành kinh tế đặc biệt, có
liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế khác thì chất lượng tín dụng của NH có những đặc
trưng riêng.
Ta có thể hiểu chất lượng tín dụng là mức độ đáp ứng yêu cầu của khách hàng
(cả người vay lẫn người cho vay tiền), phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội và
GVHD: Nguyễn Anh Phong SVTH: Nguyễn Thị Bích Hảo
Trang 14
điều kiện đặc thù của bản thân ngân hàng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản tín dụng trung dài hạn
của ngân hàng, cho biết một đồng dư nợ cho vay trung - dài hạn mang lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận. Bất kỳ một khoản tín dụng nào sẽ không được đánh giá là chất lượng
cao nếu không mang lại lợi nhuận thực tế cho NH. Trong thị trường cùng điều kiện và
rủi ro như nhau thì chỉ tiêu này càng lớn càng có lợi.
Một chỉ tiêu khác liên quan tới lợi nhuận là:
Lợi nhuận từ tín dụng trung dài hạn
Tỷ lệ lợi nhuận =
Tổng lợi nhuận của NH
Chỉ tiêu này cho biết mức độ đóng góp của hoạt động tín dụng trung dài hạn vào
toàn bộ kết quả sản xuất kinh doanh của ngân hàng. Tỷ lệ cao phản ánh chất lượng tín
dụng khả quan nhưng đồng nghĩa với việc ngân hàng chấp nhận đối mặt với nguy cơ
rủi ro tiềm tàng.
1.3.2.2 Chỉ tiêu hệ số sử dụng vốn
Tổng dư nợ trung dài hạn
Hệ số sử dụng vốn =
Tổng nguồn vốn trung dài hạn
Hệ số sử dụng vốn cho biết khả năng sử dụng nguồn vốn trung dài hạn huy động
được để cho vay trung dài hạn là cao hay thấp. NH có thể sử dụng nguồn vốn trung -
dài hạn và một phần nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung - dài hạn. Chỉ tiêu nay phản
ánh hiệu quả tín dụng. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ NH sử dụng nguồn vốn huy
động được càng hiệu quả.
1.3.2.3 Chỉ tiêu vòng quay vốn
GVHD: Nguyễn Anh Phong SVTH: Nguyễn Thị Bích Hảo
Trang 16
Doanh số thu nợ trung dài hạn
Vòng quay của vốn =
Tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn bình quân
Chỉ tiêu này cho ta biết ngân hàng thu nợ theo kế hoạch trong hợp đồng tín dụng
được bao nhiêu để có thể lại cho vay dự án mới. Vòng quay của vốn càng lớn thì càng

NHTM. Theo những quyết định trên thì dư nợ của các NHTM được chia thành 5 nhóm,
nợ quá hạn là thuộc nhóm 2, 3, 4 và 5 theo cách phân loại nợ như đã nêu ở phần trên.
Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn cho cả hệ thống thì các NH phải tính dự phòng cho cả
nhóm 1.
Dự phòng cụ thể cho cac khoản vay và ứng trước tai thời điểm kết thúc kỳ kế
toán (Ngày 31/12/2008) được xác định dựa trên cac tỷ lệ dự phòng sau đây đối với các
khoản cho vay tại ngày 30/11/2008 sau khi đã trừ đi giá trị tài sản thế chấp đã được
định giá tại ngày này:
Nhóm Tình trạng quá hạn Tỷ lệ dự
phòng
1 Nợ đủ tiêu chuẩn Trong hạn, quá hạn không quá 10
ngày
0%
2 Nợ cần chú ý Quá hạn dưới 90 ngày 5%
3 Nợ dưới tiêu chuẩn Quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày 20%
4 Nợ nghi ngờ Quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày 50%
5 Nợ có khả năng mất
vốn
Quá hạn trên 360 ngày 100%
Dự phòng chung cho các khoản cho vay và ứng trước, các khoản ứng trước
được Ngân hàng trích lập theo tỷ lệ 0.75% trên giá trị thuần các khoản đó.
GVHD: Nguyễn Anh Phong SVTH: Nguyễn Thị Bích Hảo
Trang 18
Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì tính an toàn của khoản vay càng thấp, khả năng
mất vốn của NH càng lớn, từ đó làm giảm đến thu nhập của NH, ảnh hưởng đến sự tồn
tại và phát triển của NH. Ngược lại nếu tỷ lệ này thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng là
cao, NH thực hiện tốt các bước cho vay, thu đầy đủ gốc và lãi của các khoản vay, giảm
được chi phí trong việc quản lý nợ quá hạn.
Thông thường tỷ lệ này được coi là cao hay thấp cần được so sánh với tỷ lệ
chung của ngành và tỷ lệ chấp nhận của chính NH.

ngân hàng của khách hàng.
• Nợ xấu = Nợ quá hạn được cơ cấu lại hơn 90 ngày + các khoản nợ của khách
hàng mất khả năng thanh toán ở hiện tại hoặc chắc chắn trong tương lai + Nợ quá hạn
dưới 90 ngày nhưng có bằng chứng chắc chắn về mất hoặc suy giảm khả năng thanh
toán. Nợ xấu khó xác định do phụ thuộc vào bằng chứng trong quá trình sản xuất kinh
doanh cũng như khả năng thanh toán của khách hàng.
Rõ ràng tỷ lệ nợ xấu càng cao thì sẽ tác động không tốt đến hoạt động của NH.
Nợ xấu có nguy cơ làm giảm lợi nhuận của NH và nếu có quá nhiều nợ xấu sẽ có thể
làm cho NH phá sản. Các NH đang cố gắng giảm đến mức tối đa các khoản nợ xấu để
làm tăng hiệu quả tín dụng trung - dài hạn.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG – DÀI HẠN
GVHD: Nguyễn Anh Phong SVTH: Nguyễn Thị Bích Hảo
Trang 20
TẠI PHÒNG GIAO DỊCH THỦ ĐỨC – NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT
NAM (VIB BANK)
2.1 Tổng quan về Phòng Giao dịch Thủ Đức - Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt
Nam
2.1.1 Tổng quan sơ lược về Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam
Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (tên gọi tắt là Ngân hàng Quốc tế - VIB
Bank chính thức đi vào hoạt động từ ngày 18 /09/1996 theo Quyết định số 22/QĐ/NH5
ngày 25/01/1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Cổ đông sáng lập Ngân hàng Quốc Tế bao gồm Ngân hàng Ngoại Thương Việt
nam, Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam, các cá nhân và
doanh nhân hoạt động thành đạt tại Việt Nam và trên trường quốc tế.
Từ khi bắt đầu hoạt động với số vốn điều lệ ban đầu là 50 tỷ đồng Việt Nam với
23 thành viên, Ngân hàng Quốc Tế đang phát triển thành một trong những ngân hàng
thương mại cổ phần dẫn đầu thị trường Việt Nam.
Ngân hàng Quốc Tế hoạt động trên 3 lĩnh vực chủ yếu là Dịch vụ Ngân hàng
Doanh nghiệp, Dịch vụ ngân hàng Cá nhân và Dịch vụ Ngân hàng định chế. Cơ cấu

VIB trở thành một trong 3 NHTM đứng đầu cả nước. Phòng Giao dịch Thủ Đức thành
lập vào cuối năm 2007, cho tới nay thì PGD chỉ có hơn hai năm hoạt động. Chính điều
đó, PGD đã gặp phải một số khó khăn nhất định trong thời gian đầu. Tuy nhiên, với đội
ngũ cán bộ tâm huyết, gắn liền với PGD từ những ngày đầu thành lập, họ đã từng bước
đưa VIB Thủ Đức trở thành một địa điểm tin cậy cho các khách hàng ở phạm vi Thủ
Đức cũng như của các khu vực lân cận. Đây là một nỗ lực đáng được ghi nhận.
Phòng Giao dịch Thủ Đức là PGD thuộc Chi nhánh Quận 2 - Ngân hàng Quốc
Tế Việt Nam có tất cả 1 trưởng phòng và 7 nhân viên. PGD có 2 bộ phận cơ bản là
phòng dịch vụ khách hàng và phòng tín dụng. Phạm quy hoạt động của PGD là: Mở tài
khoản tiền gửi thanh toán, và thực hiện các giao dịch thanh toán trong nước cho khách
hàng; Nhận tiền gửi tiết kiệm, chi trả tiết kiệm, thu chi tiềm mặt cho khách hàng; thực
GVHD: Nguyễn Anh Phong SVTH: Nguyễn Thị Bích Hảo
Trang 22
hiện cho vay, bảo lãnh cho các cá nhân, doanh nghiệp trong hạn mức cho phép thuộc
thẩm quyền phê duyệt của Trưởng Phòng Giao dịch. Chức năng riêng của từng bộ
phận:
 Trưởng Phòng Giao dịch chịu trách nhiệm điều hành, quản lý chung toàn bộ
hoạt động của PGD, trực tiếp quản lý mảng hành chính nhân sự, quan hệ khách hàng,
kiểm tra nội bộ, tổ chức nhân sự thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh của PGD.
Trưởng Phòng Giao dịch sẽ là người trực tiếp phổ biến những kế hoạch từ các cấp cao
hơn và có nhiệm vụ báo cáo tình hình hoạt động của PGD cho các cấp đó. Phạm quy
thẩm quyền của Trưởng Phòng Giao dịch chỉ được ký kết, phê duyệt các hợp đồng cho
vay, bảo lãnh không quá 500 triệu đồng. Trong trường hợp mà các khoản cho vay, bảo
lãnh này vượt quá Mứt phê duyệt của Trưởng Phòng Giao dịch thì PGD phải trình lên
Giám đốc Chi nhánh để xem xét giải quyết.
 Phòng dịch vụ khách hàng: Mở tài khoản, thực hiện thanh toán cho các
khách hàng là tổ chức kinh tế, các công ty và cá nhân; Thực hiện nghiệp vụ huy động
vốn bằng cách nhận tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ, đồng Việt Nam; Quản lý hệ thống
máy rút tiền tự động; Thực hiện các giao dịch Thẻ tín dụng (Visa, Master Card…);
Quản lý lượng vốn huy động được; Thực hiện công tác kế toán cho PGD …

Đức, dư nợ tín dụng năm 2008 đạt 152.12 tỷ đồng; Năm 2009 dư nợ đạt 372.69 tỷ
đồng, tăng 145% so với năm 2008, hoàn thành kế hoạch đề ra. Trong đó, tín dụng cá
nhân là chủ yếu chiếm 80% dư nợ tín dụng của PGD.
Như vậy, tình hình hoạt động của PGD Thủ Đức là rất tốt, đạt kết quả tăng
trưởng cao sau hơn 2 năm hoạt động. Lợi nhuận trước thuế năm 2009 tăng 215% so
với năm 2008, tức tăng từ 1.77 tỷ đồng lên 5.58 tỷ đồng
Mặc dù chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu từ những tháng
cuối năm 2008 kéo dài đến năm 2009, VIB ở Thủ Đức lại là đơn vị còn non trẻ, nhưng
những thành tích đang đạt được chứng tỏ đội ngũ cán bộ ở đây đã định hướng đúng
hoạt động của mình. PGD Thủ Đức đã đạt được hiệu quả hoạt động cao và dần khẳng
định được vị thế của mình so với các NHTM khác trong khu vực Thủ Đức.
GVHD: Nguyễn Anh Phong SVTH: Nguyễn Thị Bích Hảo
Trang 24
Biểu đồ 1: Tăng trưởng tổng tài sản – Huy động – Dư nợ
Đơn vị: Tỷ đồng
2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Phòng Giao dịch Thủ
Đức – Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam
2.2.1 Các quy định về chính sách tín dụng trung và dại hạn tại Phòng Giao
dịch Thủ Đức – Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam
Phòng Giao dịch Thủ Đức là một bộ phận của Ngân hàng Quốc Tế, do đó,
những chính sách về tín dụng trung và dài hạn của PGD là phù hợp với quy chế chung
của hệ thống và phù hợp với những quy định của NHNN. Sau đây là một số chính sách
tín dụng trung và dài hạn quan trọng trong năm 2009:
 Điều kiện vay vốn của khách hàng: KH có năng lực Pháp luật dân sự, năng
lực hành vi dân sự đầy đủ và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật; Mục
đích sử dụng vốn của KH là hợp pháp; KH phải có đủ khả năng tài chính để trả nợ gốc,
lãi; Thực hiện đúng thủ tục về đảm bảo tiền vay theo quy định của Pháp luật và VIB.
 Lãi suất cho vay: VIB Thủ Đức áp dụng lãi suất trần theo quy định NHNN
đối với các khoản vay kinh doanh, vay tiêu dùng áp dụng lãi suất thỏa thuận điều chỉnh
GVHD: Nguyễn Anh Phong SVTH: Nguyễn Thị Bích Hảo

Trích đoạn Tăng cường công tác giám sát sử dụng tiền vay trung dài hạn Nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ tín dụng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status