giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn nam hà nội - Pdf 23


Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Xuân Huỳnh Líp: CQ 46/15.02
1
Lời Nói đầu

Cùng với công cuộc đổi mới và phát triển đất nước của Đảng và Nhà
nước thì ngành ngân hàng cũng không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng
của mình để hoà chung với nhịp độ phát triển của xã hội và khoa học kỹ thuật.
Bên cạnh đó, cũng từng bước đổi thay và ứng dụng công nghệ tiên tiến của
ngân hàng, nhằm làm cho hoạt động của mình ngày càng đa dạng hoá về các
loại hình kinh doanh dịch vụ, tăng cường vai trò cạnh tranh để thu hút khách
hàng, giảm đến mức thấp nhất những rủi ro trong hoạt động kinh doanh và thu
được lợi nhuận cao nhất.
Kinh doanh có hiệu quả và từng bước phát triển ngành ngân hàng là
mục tiêu của mỗi ngân hàng trong hoạt động kinh doanh của mình. Để thực
hiện mục tiêu này đòi hỏi mỗi ngân hàng nói riêng và hệ thống ngân hàng nói
chung phải đa dạng hoá các nghiệp vụ, và một trong những nghiệp vụ đó là
cho vay tiêu dùng. Nó góp phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế
xã hội, thúc đẩy cho việc thực hiện chính sách kích cầu của Chính phủ, tạo ra
công ăn việc làm cho đại bộ phận dân cư trong nền kinh tế của đất nước, tạo
thu nhập cao hơn và nâng cao đời sống cho dân chúng. Về phía ngân hàng,
hoạt động này sẽ giúp họ nhận thức được phần lớn số vốn từ phía dân cư,
không chỉ ở tầng lớp có thu nhập cao mà còn ở bộ phận dân cư có thu nhập
thấp, tạo cơ hội cho khách hàng có được tiện Ých tiêu dùng trước khi có đủ
điều kiện tích luỹ tiền để sở hữu chúng.
Với những điều kiện đã nêu, cùng với lý thuyết đã được học ở trường
và qua quá trình thực tập tại ngân hàng em đã lựa chọn đề tài: Giải pháp
nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Nam Hà Nội. để làm luận văn tốt nghiệp của mình.


được nhiều hàng hoá hơn, người có tiền nhàn rỗi thì mong có thêm thu nhập
khi cho vay. Đó là ba lý do chính hình thành nên nghiệp vụ CVTD.
Trước đây, với hoạt động ngân hàng truyền thống ở nước ta, khách
hàng chỉ có thể vay vốn cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh và làm dịch vụ. Khi
vay vốn, nhìn chung, khách hàng phải có dự án khả thi, thể hiện rõ đối tượng
đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh cái gì, sản phẩm và khả năng tiêu thụ ra
sao, vòng quay vốn và thời hạn thu hồi vốn như thế nào, kèm theo tài sản đảm
bảo tiền vay hoặc tín chấp, thì mới có thể vay được vốn của NHTM.
Hiện nay, trong xu hướng hội nhập quốc tế, các chi nhánh ngân hàng
nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng thương mại nhà nước, ngân
hàng thương mại cổ phần, công ty tài chính,đang cạnh tranh mạnh mẽ với
nhau phát triển các sản phẩm cho vay tiêu dùng, thu hút khách hàng cá nhân.
Đó là cho khách hàng vay tiền với mục đích tiêu dùng chứ không phải đầu tư
cho sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ,Đây là sản phẩm tín dụng xuất hiện từ
lâu trên thế giới và hiện nay đang phát triển rất mạnh, nhất là ở các quốc gia
có tiềm lực về kinh tế và cạnh tranh ngân hàng sôi động, nhưng mới phát triển
một số năm gần đây tại Việt Nam.

Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Xuân Huỳnh Líp: CQ 46/15.02
4
Trong tương lai, CVTD sẽ hướng mục tiêu về sự thuận tiện, ngân hàng
sẽ tạo điều kiện cho cá nhân, hộ gia đình nhận được khoản vay sớm hơn trong
khi vẫn duy trì được sự kiểm soát đối với khoản vay tiêu dùng để tránh những
giảm sút đáng kể về chất lượng tín dụng. Đây chính là xu hướng chủ yếu mà
hoạt động CVTD sẽ phát triển trong tương lai.
Trên thực tế có rất nhiều khái niệm khác nhau về CVTD do đặc trưng
của từng nền kinh tế. Nhìn chung ta có thể đưa ra một khái niệm khái quát:
CVTD là việc ngân hàng giao cho khách hàng bao gồm cá nhân và hộ
gia đình một khoản tiền theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi

doanh truyền thống của các NHTM, hình thành và phát triển cùng với sự phát
triển của ngân hàng thì cho vay tiêu dùng mới chỉ được phát triển trong những
năm gần đây. Tuy ra đời khá muộn nhưng do nhu cầu cho cuộc sống của
người dân ngày càng cao cùng với sự bùng nổ kinh tế đã tạo đà để CVTD trở
thành sản phẩm chủ đạo của đa số các NHTM, đặc biệt là các ngân hàng cổ
phần, ngân hàng ngoài quốc doanh ở nước ta. CVTD, một hoạt động mang lại
lợi nhuận lớn đang ngày càng được các NHTM tập trung và phát triển.
Đây là một hoạt động mang những đặc điểm riêng khác với các hoạt
động cho vay khác về quy mô món vay, rủi ro, lãi suất và chi phí khoản vay.
Một là, quy mô của từng món vay thường nhỏ nhưng số lượng các món
vay lại nhiều:
Các khách hàng vay vốn nhằm mục đích tiêu dùng thông thường có nhu
cầu vay vốn không lớn, thậm chí là khá nhỏ. Điều này là do giá trị của hàng
hoá và dịch vụ tín dụng không đắt hoặc do khách hàng đã có sự tích luỹ trước
đối với các tài sản có giá trị lớn. Tuy vậy, trên thực tế, tổng quy mô vay tiêu
dùng của các ngân hàng là rất lớn. Đó là vì tuy mỗi món vay tiêu dùng có quy
mô nhỏ nhưng do đây là nhu cầu vay vốn phổ biến, đa dạng, thường xuyên
đối với mọi tầng lớp dân cư, nên số lượng khách hàng đến vay vốn là rất

Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Xuân Huỳnh Líp: CQ 46/15.02
6
đông, khiến số lượng các món vay là nhiều, dẫn đến tổng quy mô CVTD khá
lớn.
Hai là, chi phí cho một khoản cho vay tiêu dùng là khá lớn:
CVTD là một trong những khoản mục có chi phí lớn nhất trong danh
mục tín dụng của ngân hàng. Thực tế là mỗi món CVTD thường rất nhỏ, thời
gian vay không lâu, trong khi đó số lượng các món vay tiêu dùng lại lớn. Hơn
nữa, các thông tin về cá nhân thường không đầy đủ và chính xác hoàn toàn.
Điều này khiến cho các ngân hàng vất vả trong quá trình cho vay, từ khâu tiếp

song lại là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định hoàn trả khoản vay
của khách hàng. Đặc biệt khi chất lượng các thông tin của khách hàng không
được đảm bảo do sự không cẩn thận khi tìm hiểu thông tin khách hàng của
nhân viên cũng tạo ra rủi ro cho khoản vay.
Chính vì CVTD tiềm Èn nhiều rủi ro nh- vậy nên cho vay thường có tài
sản đảm bảo. Tài sản đó có thể là một tài sản độc lập khác hoặc là tài sản hình
thành từ nguồn vốn khách hàng vay. Cho dù là tài sản hình thành từ nguồn
vốn nào đi nữa thì cũng đòi hỏi ngân hàng phải thẩm định kĩ càng trước khi
cho vay để hạn chế rủi ro có thể xảy ra đối với khoản vay.
Năm là, lợi nhuận thu được từ các khoản vay tiêu dùng là khá lớn:
CVTD là một trong những khoản mục đem lại mức lợi nhuận cao nhất
trong danh mục cho vay của ngân hàng. Do tính rủi ro cao nên khách hàng
thường phải chịu một mức lãi suất không nhỏ, trong trường hợp khách hàng
không thanh toán gốc hoặc lãi khi đến hạn trả nợ thì phải chịu một mức lãi
suất phạt cao hơn khá nhiều lãi suất trong hợp đồng. Bên cạnh đó, lãi suất
CVTD cao hơn lãi suất cho vay thương mại vì người vay chỉ chú trọng đến
nhu cầu mua sắm mà mình đang mong muốn mà Ýt nhạy cảm với lãi suất.
Ngoài ra, một số ngân hàng còn áp dụng mức lãi suất phạt trong trường
hợp khách hàng muốn trả nợ trước hạn. Điều này khác hẳn với cho vay sản

Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Xuân Huỳnh Líp: CQ 46/15.02
8
xuất kinh doanh, đây cũng chính là một trong các lý do CVTD đem lại mức
lợi nhuận khá cao cho ngân hàng.
Do triển vọng về lợi nhuận cũng như phạm vi đối tượng khách hàng
trong lĩnh vực này mà hầu hết các nước phát triển hiện nay lợi nhuận từ
CVTD đã trở thành một trong những nguồn thu chủ yếu của các NHTM, đóng
vai trò chủ đạo trong dịch vụ NH cũng như trong quản lý NH, và vẫn tiếp tục
hứa hẹn về triển vọng phát triển của loại hình cho vay này trong tương lai.


Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Xuân Huỳnh Líp: CQ 46/15.02
10
tiền vay, khách hàng phải cam kết nếu không trả được nợ đến hạn (thường là
quá 3 kỳ trả nợ), ngân hàng có quyền nhận lương của khách hàng để thu nợ.
- Cho vay có đảm bảo bằng tài sản hình thành từ tiền vay:
Hình thức này áp dụng chủ yếu đối với tài sản có giá trị lớn, thời gian
sử dụng dài như: cho vay mua, sửa chữa nhà, mua sắm phương tiện đi lại,
Mức cho vay của ngân hàng trong hình thức này phụ thuộc vào tình
hình tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng, giá trị tài sản mua sắm, mức
tối đa thường từ 60 - 70% giá trị tài sản mua sắm.
1.1.4.2. Theo mục đích vay:
Cho vay tiêu dùng có thể đáp ứng nhiều nhu cầu tiêu dùng khác nhau của
khách hàng, đó là những nhu cầu chi tiêu mà khách hàng chưa có khả năng chi
trả tại thời điểm hiện tại. Những nhu cầu của cá nhân, hộ gia đình có thể phát
sinh bất ngờ như khám chữa bệnh, mua sắm vật dụng sinh hoạt, hay là có kế
hoạch như nhu cầu mua ô tô, nhà đất, du học, Vì các mục đích vay tiêu dùng là
rất đa dạng và để giúp các ngân hàng dễ dàng trong quản lý khoản vay nên có
thể phân loại CVTD theo mục đích chính như:
- Cho vay mua ô tô.
- Cho vay mua nhà, sửa chữa nhà.
- Cho vay du học.
- Cho vay tiêu dùng khác.
1.1.4.3. Theo phương thức hoàn trả:
- Cho vay tiêu dùng trả một lần:
Theo phương thức này, khách hàng thanh toán cho ngân hàng một lần
khi đến hạn. Thường thì các khoản cho vay tiêu dùng này chỉ được cấp cho
các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn không dài.
- Cho vay tiêu dùng trả góp:

nhiên trong cuộc sống lại nảy sinh rất nhiều nhu cầu tự nhiên, thiết yếu nên

Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Xuân Huỳnh Líp: CQ 46/15.02
12
nếu chỉ dựa vào thu nhập hiện tại thì sẽ không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu
của mình. Nhờ có CVTD, người tiêu dùng có thể được hưởng những tiện Ých
trước khi tích luỹ đủ tiền và quan trọng hơn, nó rất cần thiết cho những trường
hợp cá nhân có nhu cầu chi tiêu cấp bách như chi tiêu cho giáo dục, y tế,
Nh- vậy, CVTD đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của khách hàng vay,
tạo điều kiện cho người dân cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống. Ngân
hàng với hoạt động này đã giúp người tiêu dùng kết hợp nhu cầu hiện tại và
khả năng thanh toán cho tương lai, kích thích người tiêu dùng lao động để
hướng tới cuộc sống đầy đủ. Có thể nói, người tiêu dùng là người được hưởng
thụ trực tiếp và nhiều nhất những lợi Ých mà hoạt động CVTD mang lại.
Nhưng nếu lạm dụng việc đi vay để tiêu dùng thì cũng rất tai hại vì nó
có thể làm cho người đi vay chi tiêu vượt quá mức cho phép, làm giảm khả
năng tiêu dùng hoặc chi tiêu trong trương lai, hoặc nghiêm trọng hơn người
tiêu dùng mất khả năng chi trả thì họ sẽ gặp nhiều rắc rối trong cuộc sống.
1.1.5.2. Đối với nhà sản xuất:
CVTD của ngân hàng thương mại đã trực tiếp làm gia tăng nhu cầu mua
sắm của người tiêu dùng, góp phần làm gia tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm
của nhà sản xuất. Không những thế, nhà sản xuất lại không phải bán chịu do
đã có trợ giúp của ngân hàng nên có thể thu hồi và quay vòng vốn nhanh, đem
lại lợi nhuận cao hơn để mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường.
Ngoài ra, CVTD còn thúc đẩy các nhà sản xuất gia tăng khả năng cạnh
tranh về cả số lượng, mẫu mã, chủng loại sản phẩm và đặc biệt là chất lượng
để tăng uy tín phục vụ khách hàng.
1.1.5.3. Đối với ngân hàng thương mại:
CVTD giúp các NHTM mở rộng quan hệ đối với khách hàng, từ đó làm

động CVTD đồng nghĩa với việc kích cầu, tăng sức mua, tạo nên sự sôi động
cho thị trường và tạo sự thịnh vượng cho cả nền kinh tế.

Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Xuân Huỳnh Líp: CQ 46/15.02
14
Nói chung, hoạt động CVTD là một tất yếu, phù hợp với sự phát triển
của xã hội và tuân theo quy luật kinh tế. Dù đứng ở vị trí nào: người tiêu dùng
hay người cung cấp, NHTM hay nền kinh tế nói chung đều được hưởng lợi
Ých từ hoạt động này. Vì nó là một hoạt động tất yếu, khách quan và đóng
một vai trò không nhỏ trong đời sống xã hội hiện nay.

Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Xuân Huỳnh Líp: CQ 46/15.02
15
1.2. Hiệu quả cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại:
1.2.1. Khái niệm về hiệu quả cho vay tiêu dùng:
Trong bối cảnh hiện nay, thị trường CVTD đã không còn là thị trường
tiềm năng nữa mà đã trở thành một thị trường có lợi nhuận hấp dẫn đối với tất
cả các NHTM. Vì vậy, các ngân hàng muốn thu hút khách hàng, tìm kiếm lợi
nhuận cao buộc phải nâng cao hiệu quả CVTD. Ta có thể đưa ra khái niệm về
hiệu quả CVTD nh- sau:
Hiệu quả CVTD là sự đáp ứng tốt nhất nhu cầu về vốn của khách hàng
để thực hiện hoạt động tiêu dùng, đảm bảo sự tồn tại, phát triển của ngân hàng
và phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội.
Đây là quan niệm tổng quát về chất lượng CVTD, song mét quan hệ tín
dụng luôn luôn có sự ảnh hưởng tới ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế.
1.2.2. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả CVTD:
Ngân hàng là một trung gian tài chính, hoạt động chủ yếu là huy động
vốn, cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh toán trong nền kinh tế, nhằm đáp

chế các hoạt động không lành mạnh như cầm đồ, vay nặng lãi,tồn tại trong
các nền kinh tế có thị trường tài chính chưa phát triển.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay tiêu dùng:
- Nợ quá hạn: Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc
và/hoặc lãi đó quá hạn.
- Nợ xấu: Nợ xấu (NPL) là các khoản nợ thuộc cỏc nhúm 3, 4 và 5 quy định
tại Điều 6 hoặc
Điều 7 Quy định493. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đỏnh giá chất
lượng tín
dụng của tổ chức tín dụng
- Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động và tổng nguồn vốn:
+ Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động:

Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Xuân Huỳnh Líp: CQ 46/15.02
17
Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động
=
Dư nợ
Vốn huy động

Chỉ tiêu này đánh giá khả năng sử dụng vốn huy động vào việc cho vay
vốn. Thông thường khi tỷ lệ vốn của ngân hàng chiếm tỷ lệ thấp so với tổng
nguồn vốn sử dụng thì dư nợ thường cao gấp nhiều lần so với vốn huy động.
Nếu ngân hàng sử dụng vốn cho vay phần lớn từ nguồn vốn trờn thì sẽ không
hiệu quả bằng nguồn vốn huy động được. Do vậy, tỷ lệ này càng gần 1 thì
càng tốt vì khi đó ngân hàng đã sử dụng hiệu quả đồng vốn huy động được.
+ Tỷ lệ dư nợ trên tổng nguồn vốn:
Tỷ lệ dư nợ trên tổng nguồn vốn
=

- Môi trường kinh tế xã hội:
Đặc trưng của môi trường kinh tế xã hội là trình độ phát triển kinh tế, thu
nhập quốc dân, thu nhập bình quân đầu người và mức sống dân cư cùng với yếu
tố kinh tế xã hội khác. Môi trường kinh tế tác động mạnh mẽ đến nhu cầu và
cách thức tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng của khách hàng. Nó vừa tạo
ra cơ hội kinh doanh cho ngân hàng, đồng thời cũng tạo ra không Ýt thách thức
đòi hỏi các ngân hàng phải có chiến lược rõ ràng.
Khi nền kinh tế tăng trưởng, các biến số kinh tế vĩ mô ổn định, đây sẽ là
cơ hội tốt đÓ NH nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình. Ngược
lại, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, thu nhập người dân giảm sút, lạm phát
cao, khi đó nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của NH cũng bị thu hẹp, đây chính
là yếu tố làm giảm quy mô cũng như hiệu quả hoạt động tín dụng của NH.
- Môi trường văn hoá:
Môi trường văn hoá bao gồm trình độ dân trí, lối sống, thói quen sử
dụng và sự hiểu biết của dân chúng về hoạt động của NH. Mặt khác, đặc thù
của sản phẩm NH là vô hình nên khách hàng thường dựa vào sự tin tưởng
hoặc kinh nghiệm để lựa chọn NH cũng như các sản phẩm của NH. Đây chính
là vấn đề tâm lý của người dân, mà nó ảnh hưởng rất lớn tới hành vi còng nh-
nhu cầu của người tiêu dùng đối với sản phẩm của NH.

Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Xuân Huỳnh Líp: CQ 46/15.02
19
Việc nghiên cứu các yếu tố văn hoá không chỉ xác định rõ các tác động
của chúng tới hành vi tiêu dùng của khách hàng mà còn giúp NH xây dựng
các chính sách, thủ tục nghiệp vụ phù hợp với từng khu vực thị trường.
- Môi trường pháp lý:
Kinh doanh ngân hàng là một trong những ngành nghề kinh doanh chịu
sự giám sát chặt chẽ của pháp luật và các cơ quan chức năng của Chính phủ.
Môi trường pháp lý tác động đến tính trật tự, tính ổn định và tạo điều

khít để có thể tiếp xúc một cách mật thiết với khách hàng.
- Đối thủ cạnh tranh:
Xu hướng tự do hoá và quá trình mở cửa hội nhập của Việt Nam gần
đây đã đặt các NH trước nguy cơ cạnh tranh rất cao. Ngày càng có nhiều NH
được thành lập, trong nước cũng như các chi nhánh của NH nước ngoài khiến
cho thị trường NH trở lên sôi động hơn. Như lực đẩy buộc các NHTM muốn
đứng vững trên thị trường phải nâng cao hiệu quả hoạt động và củng cố năng
lực tài chính, áp lực cạnh tranh ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong
sự phát triển và hoàn thiện sản phẩm dịch vụ NH trong hiện tại và tương lai.
Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, các ngân hàng thường tập trung vào
nghiên cứu cấu trúc thị trường và hành vi của các NH trên thị trường, nghiên
cứu đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm Èn Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh
không những ảnh hưởng trực tiếp tới việc mở rộng thị phần, quy mô tín dụng
của ngân hàng mà còn ảnh hưởng tới chiến lược mở rộng kinh doanh của NH.
- Môi trường tự nhiên:
Những tác động từ phía tự nhiên nh-: lũ lụt, động đất,là những tác động
mà ngân hàng khó kiểm soát được. Chúng có thể làm suy yếu khả năng chịu
đựng rủi ro của ngân hàng và gây cho ngân hàng những thiệt hại về tài chính.
Tóm lại, việc nghiên cứu các yếu tố khách quan có ý nghĩa rất quan
trọng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng, các yếu tố này luôn luôn biến

Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Xuân Huỳnh Líp: CQ 46/15.02
21
động và thay đổi không ngừng, vì vậy đòi hỏi các ngân hàng phải chủ động
điều chỉnh kịp thời, nắm bắt xu hướng biến động của nó để có thể đảm bảo
chắc chắn cho việc nâng cao hiệu quả cho sản phẩm tín dụng của mình.
1.2.4.2. Các nhân tố chủ quan:
Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng tới việc nâng cao hiệu quả CVTD
được coi như là các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của ngân

và phần cứng của thiết bị thông tin được dùng trong ngân hàng. Với công
nghệ hiện đại như các máy tính, máy ATM, scan, giúp cho ngân hàng đơn
giản hoá thủ tục, rút ngắn thời gian giao dịch, bảo mật thông tin cho khách
hàng tốt hơn. Trình độ quản lý thể hiện trong việc điều hành kiểm tra, kiểm
soát các hoạt động của ngân hàng, với khả năng quản lý tốt sẽ giúp các ngân
hàng hoạt động có chất lượng, đạt được các mục tiêu về lợi nhuận. Mặt khác,
nâng cao trình độ công nghệ và quản lý giúp ngân hàng nhanh chóng nâng
cao vị thế cạnh tranh của mình trong thời kì hội nhập.
- Khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng của ngân hàng:
Khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng thể hiện ở chất lượng nguồn
nhân lực của ngân hàng, địa điểm nơi đặt trụ sở, mạng lưới chi nhánh ngân
hàng, nguồn vốn có đủ đáp ứng nhu cầu của khách hàng không.
+ Nguồn nhân lực:
Đối với bất kỳ tổ chức, doanh nghiệp nào, nhân tố con người luôn đóng
vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Và đặc biệt là
trong ngành NH, con người luôn là nhân tố quyết định sự thành bại của ngân
hàng. Xem xét nguồn nhân lực, nguời ta thường xem xét nó dưới các góc độ
sau: trình độ nghiệp vụ, khả năng giao tiếp, sự nhiệt tình công việc, khả năng
tư duy độc lập sáng tạo. Nâng cao hiệu quả hoạt động của NH phải gắn liền
với nâng cao hiệu quả chiến lược nhân sự thì mới đem lại thành công cho NH.
+ Địa điểm của nơi đặt trụ sở và mạng lưới chi nhánh của ngân hàng:

Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Xuân Huỳnh Líp: CQ 46/15.02
23
Ngày nay, vấn đề tiện lợi trong quá trình sử dụng dịch vụ được khách
hàng đặc biệt quan tâm. Vì thế, nếu trụ sở ngân hàng đặt ở những nơi trung
tâm, đông dân cư sẽ là một lợi thế rất lớn đối với ngân hàng.
Mạng lưới chi nhánh của ngân hàng là một yếu tố quan trọng. Một
ngành ngân hàng không thể hoạt động hiệu quả nếu nó chỉ có một vài chi


Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
SV: Nguyễn Xuân Huỳnh Líp: CQ 46/15.02
25
CHƢƠNG 2:
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN
HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Nam
HÀ NỘI

2.1. Khái quát về ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn nam
Hà Nội
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển:
NHNN&PTNT Nam Hà Nội là một doanh nghiệp nhà nước được thành lập
theo quyết định 48/QĐ-HĐQT ngày 12/03/2001 của chủ tich hội đồng quản
trị NHNN&PTNT Việt Nam .Chi nhánh NHNN&PTNT Nam Hà Nội là chi
nhánh phụ thuộc của NHNN&PTNT Việt Nam.chi nhánh có trụ sở tại số 58
Vương Thừa Vũ -Quận Thanh Xuân
Là chi nhánh ra đời đầu tiên theo chủ trương mở rộng mạng lưới hoạt động
của HĐQT NHNo&PTNT Việt Nam. Để đứng vững và khảng định vị thế của
một chi nhánh ra đời hoạt động kinh doanh trên địa bàn thành phố tập trung
các nhà đầu tư tài chính lớn trong nước và quốc tế như thủ đô Hà nội là một
lợi thế lớn nhưng đồng thời là những thử thách trong cạnh tranh gay gắt của
chi nhánh ngay từ những ngày đầu thành lập.
Với những suy tư trăn trở đó, Ban lãnh đạo chi nhánh đã tập trung sức mạnh
trí tuệ của tập thể đoàn kết, nhất trí định ra những hướng đi của riêng mình
với mục tiêu "tăng trưởng ổn định, bền vững, hiệu quả" và "Vững bước cùng
khách hàng trong cạnh tranh và hội nhập".
với sức trẻ năng động, sáng tạo và trí tuệ của mình chi nhánh NHNN Nam Hà
Nội đã từng bước vượt qua mọi khó khăn, thử thách tự tin, đứng vững trên
thương trường. Mạnh dạn đi đầu áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại vào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status