nâng cao chất lượng cho vay tài trợ xuất nhập khẩu tại ngân hàng thương mại cổ phần quân đội chi nhánh nghệ an - Pdf 23

MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Diễn giải
TMCP Thương mại cổ phần
NHQĐ Ngân hàng Quân đội
TD Tín dụng
XNK Xuất nhập khẩu
TTQT Thanh toán quốc tế
TSĐB Tài sản đảm bảo
QHKH Quan hệ khách hàng
DN Doanh nghiệp
TG Tiền gửi
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỀU
Trường Đại học Vinh Khoa Kinh Tế
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển của loài người, các hoạt động kinh tế diễn ra với
quy mô ngày càng lớn, trong đó phải kể đến hoạt động xuất nhập khẩu. Đây là
một hoạt động rất quan trọng đối với nền kinh tế mỗi quốc gia, bởi lẽ không
một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển mà không có hoạt động trao đổi
hàng hóa với bên ngoài.
Việt Nam là một nước đang phát triển, nền kinh tế đang đứng trước
nhiều cơ hội và thách thức, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập WTO. Để phát
triển kinh tế đất nước thì chúng ta càng phải quan tâm phát triển hoạt động
xuất nhập khẩu. Trong những năm vừa qua, cùng với sự tăng trưởng mạnh
của toàn bộ nền kinh tế, kim ngạch xuất nhập khẩu của nước ta cũng tăng
mạnh, nhưng thực sự chưa phản ánh được tiềm năng và phát huy tốt ảnh
hưởng của nó tới sự phát triển chung của nền kinh tế. Có nhiều nguyên nhân
dẫn đến tình trạng này, một trong những nguyên nhân quan trọng nhất đó là
sự hạn chế của các nguồn tài trợ xuất nhập khẩu, mà quan trọng nhất là cho
vay tài trợ xuất nhập khẩu.

Phân 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu
tại Ngân hàng TMCP Quân Đội Chi nhánh Nghệ An.
SV: Nguyễn Thị Thắm Lớp: 49B2-TCNH
4
Trường Đại học Vinh Khoa Kinh Tế
NỘI DUNG
PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ
PHẦN QUÂN ĐỘI CHI NHÁNH NGHỆ AN
1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Từ chủ trương xây dựng một định chế tài chính phát triển của các
doanh nghiệp Quân đội, ý tưởng thành lập Ngân hàng TMCP Quân Đội đã
được hình thành. Ngân hàng TMCP Quân đội được thành lập vào ngày 14
tháng 9 năm 1994 theo quyết định số 00374/GP-UB của Uỷ ban nhân dân
thành phố Hà Nội và hoạt động theo giấy phép số 0054/ NH-GP do thống
đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam cấp. Ngân hàng chính thức đi vào hoạt
động ngày 04 tháng 11 năm 1994 tại trụ sở số 28, Điện Biên Phủ, Hà Nội.
Ngân hàng TMCP Quân Đội được hình thành từ vốn góp của 6 cổ đông
chính: công ty vật tư công nghệ Bộ quốc phòng, tổng công ty bay dịch vụ
Việt Nam, tổng công ty xây dựng Trường Sơn, công ty Tân Cảng, Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam và cổ đông mới nhất là Viettel
Tên giao dịch quốc tế của ngân hàng là Military Commercial Joint
Stock Bank viết tắt là Military Bank hay MB.
Trụ sở chính của ngân hàng TMCP Quân Đội là số 3 Liễu Giai, Ba
Đình, Hà Nội.
Chỉ với số vốn điều lệ 20 tỷ đồng đầu tiên và 25 cán bộ nhân viên, sau
hơn 15 năm với uy tín về hiệu quả hoạt động và sự vững vàng trong hoạt
động kinh doanh, MB đã gây dựng được hơn 400000 khách hàng, trong đó
khách hàng doanh nghiệp là trên 15000 và trên 350000 khách hàng cá nhân
trên khắp hệ thống MB. Tổng số vốn chủ sở hữu của Ngân hàng đã lên đến
15000 tỷ đồng, số lượng nhân viên của toàn hệ thống là 3500.

home banking, internet banking, mobile banking, sms banking, bank plus…
nhằm phục vụ những tiện tích tốt nhất đến với khách hàng bằng việc có thể
truy vấn thông tin về tài khoản và các thông tin ngân hàng khác tại bất cứ thời
điểm nào trong ngày mà không phải đến các điểm giao dịch của MB.
1.2 Đặc điểm hoạt động và cơ cấu tổ chức
1.2.1 Đặc điểm hoạt động
Mục tiêu của NHQĐ là trở thành một trong những ngân hàng thương
mại cổ phần hàng đầu Việt Nam trong mảng thị trường đã lựa chọn, hoạt
động đa năng, hiện đại, an toàn và hiệu quả. Để tiếp tục thực hiện những mục
tiêu đã đề ra trong thời gian tới, NHQĐ sẽ tiếp tục phát triển đề án đổi mới,
tăng vốn điều lệ, mở rộng mạng lưới hoạt động, đầu tư phát triển nguồn nhân
lực đạt trình độ chuyên nghiệp cao, hiện đại hoá công nghệ và phát triển thêm
nhiều dịch vụ ngân hàng mới, đáp ứng sự tin tưởng của khách hàng.
Danh mục sản phẩm mà NHQĐ cung cấp rất phong phú và đa dạng, bao
gồm:
+ Sản phẩm tiền gửi: tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, tiền gửi
tiết kiệm có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm tích lũy.
+ Sản phẩm cho vay: cho vay tiêu dùng, cho vay đầu tư, cho vay du học, cho
vay sản xuất kinh doanh,
+ Dịch vụ chuyển tiền kiều hối
+ Thanh toán xuất nhập khẩu
+ Dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt
+ Dịch vụ bảo lãnh
+ Và các sản phẩm dịch vụ khác
SV: Nguyễn Thị Thắm Lớp: 49B2-TCNH
6
Trường Đại học Vinh Khoa Kinh Tế
NHQĐ đã đề ra phương châm hoạt động trở thành một đối tác tin cậy,
an toàn và trung thực, đảm bảo lợi ích cho cả hai bên khách hàng và ngân
hàng bằng việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng tiện ích và ưu việt, đảm bảo

SV: Nguyễn Thị Thắm Lớp: 49B2-TCNH
7
Trường Đại học Vinh Khoa Kinh Tế
Sơ đồ 1.2 : Cơ cấu tổ chức NHQĐ chi nhánh Nghệ An
( Nguồn: Phòng quản trị và hỗ trợ hoạt động MB Nghệ An)
Nhiệm vụ cơ bản của từng phòng ban:
Giám đốc có nhiệm vụ tổ chức, chỉ đạo, điều hành thực hiện các nghiệp
vụ ngân hàng. Đồng thời quản lý, quyết định, kiểm tra, đôn đốc các nhân viên
dưới quyền của mình thực hiện đúng các chế độ chính sách của Nhà nước
cũng như các chủ trương của ngân hàng Nhà nước và ngân hàng MB. Giám
đốc là người có thẩm quyền cao nhất trong việc phê duyệt các phương án hoạt
động kinh doanh của chi nhánh.
Phòng hành chính nhân sự :
+ Giám sát, theo dõi toàn bộ công nhân viên cũng như theo dõi chấm công lên
bảng lương
+ Soạn thảo các văn bản theo quy định
+ Kiểm tra thực thu thực chi theo chứng từ kế toán
+ Cân đối thanh khoản, điều chuyển vốn
SV: Nguyễn Thị Thắm Lớp: 49B2-TCNH
Phòng hành
chính - nhân
sự
Phòng Quan
hệ khách hàng
Phòng kế toán
và dịch vụ
khách hàng
Giám đốc
Phòng thẩm
định tín dụng

+ Thực hiện các nghiệp vụ marketing cho ngân hàng.
+ Tiếp nhận các nhu cầu của khách hàng, giải quyết các vấn đề trong phạm vi
quản lý, chuyển các yêu cầu khác của khách hàng lên các phòng ban có chức
năng.
+ Thực hiện các nhiệm vụ huy động vốn, thực hiên các nghiệp vụ thanh toán
không dùng tiền mặt, tiến hành thu nợ và thực hiện các nghiệp vụ khác.
1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong những năm
gần đây.
Những ngày đầu thành lập, khó khăn mà chi nhánh gặp phải là không
nhỏ. Bởi vì năm 2008 là năm mà nền kinh tế có nhiều biến động bất lợi cho
hoạt động của các doanh nghiệp. Hơn nữa, vào thời điểm này khái niệm
NHTM còn khá mới mẻ đối với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh Nghệ
An, các doanh nghiệp còn khá rụt rè trong việc tiếp cận nguồn vốn từ các
NHTM. Tuy nhiên, với sự nỗ lực không ngừng của các cán bộ công nhân
SV: Nguyễn Thị Thắm Lớp: 49B2-TCNH
9
Trường Đại học Vinh Khoa Kinh Tế
viên, NHQĐ chi nhánh Nghệ An đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong
hoạt động kinh doanh.
1.3.1 Hoạt đông huy động vốn
Vốn luôn là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình hoạt
động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Các doanh nghiệp không thể thực
hiện hoạt động kinh doanh cũng như các mục tiêu kinh tế của mình nếu không
có vốn. Đối với các NHTM với tư cách là một doanh nghiệp, một chế tài
trung gian hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ thì vốn lại có một vai trò hết sức
quan trọng. NHTM là đơn vị chủ yếu cung cấp vốn thu lãi, nhưng để cung cấp
đủ vốn đáp ứng nhu cầu thị trường, Ngân hàng sẽ phải huy động vốn từ bên
ngoài. Vì vậy, các NHTM rất chú trọng đến vấn đề huy động vốn để đáp ứng
được nhu cầu kinh doanh của mình.
Trong định hướng phát triển, tăng cường huy động vốn vẫn là ưu tiên

(%)
(+/-) (%) (+/-) (%)
Tổng vốn huy
động
250 100 445 100 580 100 195 78 135 30,3
Phân theo đối
tượng KH
TG dân cư
TG các tổ chức
150
100
60
40
242
203
54,38
45,62
319
261
55
45
92
103
61,3
10,3
77
58
31,8
28,5
Phân theo kỳ

tăng 78% so với năm 2009, trong đó nguồn vốn huy động từ dân cư chiếm tỷ
trọng lớn hơn là 60%. Trong năm này, Ngân hàng đã có nỗ lực lớn trong việc
chủ động tìm kiếm khách hàng mới, đặc biệt là các tổ chức, doanh nghiệp lớn
trong ngành Quân đội như công ty xăng dầu Quân đội, tập đoàn bảo hiểm
MIC, tập đoàn viễn thông Quân đội Viettel Cùng với những chính sách lãi
suất thay đổi linh hoạt, dịch vụ chăm sóc khách hàng tận tình cũng như việc
triển khai đa dạng các hình thức huy động, nguồn vốn huy động không ngừng
tăng qua các năm. Năm 2011, tốc độ tăng trưởng huy động vốn có chậm lại,
chỉ đạt 30%, nguyên nhân là vì trong năm 2011, Ngân hàng Nhà Nước đã ban
hành các quy định về lãi suất huy động vốn nhằm kiềm chế lạm phát. Hơn
SV: Nguyễn Thị Thắm Lớp: 49B2-TCNH
11
Trường Đại học Vinh Khoa Kinh Tế
nữa đây là một năm mà thị trường vàng có nhiều biến động, dân cư chủ yếu
tập trung đầu tư vào thị trường này.
Xét về đối tượng trong cơ cấu huy động vốn, có thể thấy rằng nguồn huy
động từ các tổ chức cá nhân chiếm tỷ trọng lớn hơn so với các doanh nghiệp,
tuy nhiên tỷ trọng này có xu hướng giảm qua các năm. Năm 2009, tỷ trọng
này chiếm 60%, nguyên nhân là trong thời đầu đi vào hoạt động, Ngân hàng
tập trung huy động vốn từ các cá nhân tổ chức gần với địa điểm của trụ sở chi
nhánh- là một khu vực tập trung nhiều khu dân cư, trung tâm mua sắm. Ngân
hàng đã tổ chức nhiều hoạt động maketting, triển khai nhiều chương trình
khuyến mãi đối với các đối tượng khách hàng này nhằm xây dựng được một
lượng khách hàng lớn trung thành với Ngân hàng. Năm 2010, Ngân hàng thực
hiện các chính sách nhằm mở rộng phạm vi huy động vốn, xây dựng được
nhiều mối quan hệ với các doanh nghiệp lớn trên địa bàn tỉnh Nghệ An và Hà
Tĩnh, nên tỷ trọng vốn huy động từ các doanh nghiệp tăng lên từ 40% năm
2009 lên 45,6% năm 2010, tương ứng với với tốc độ tăng 103%. Năm 2011,
tỷ trọng vốn huy động từ các tổ chức cá nhân là 55%, của các doanh nghiệp
chiếm 45%.

(%)
Giá
trị
Tỷ
trọng
(%)
2010/2009 2011/1010
+/- % +/- %
Tổng dư nợ 188 100 347 100 464 100 159 84,6 117 33,7
Phân theo loại kỳ hạn
- TD ngắn hạn
-TD trung và dài hạn
120
68
63,83
36,17
231
116
66,57
33,43
310
154
66,81
33,19
101
48
84,2
70,6
79
38

này, khi mà nền kinh tế đang trong giai đọan phục hồi sau ảnh hưởng của
cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008. Tuy nhiên, sang năm 2010, tình
hình đã được cải thiện đáng kể, khi mà tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng
84,2%. Do năm 2010, số vốn huy động được đạt ở mức cao, mặt khác nhu cầu
về vốn của các tổ chức cá nhân cũng tăng cao, bởi đây là năm mà nền kinh tế
có nhiều chuyển biến tích cực, có nhiều hoạt động đầu tư trên địa bàn hai tỉnh
Nghệ An, Hà Tĩnh, như dự án khai thác mỏ đá ở Quỳ Châu- Nghệ An, dự án
khu du lịch sinh thái tại huyện Thạch Hà- Hà Tĩnh. Bên cạnh đó, Ngân hàng
có chính sách hỗ trợ lãi suất đối với các khách hàng tiềm năng, những khách
hàng lớn và có khả năng tài chính vững mạnh. Với lợi thế là Ngân hàng của
những người lính- MB đã tạo được niềm tin đối với khách hàng, vì vậy mà
sau hơn 2 năm hoạt động trên địa bàn Nghệ An tính đến năm 2010, lượng
khách hàng của MB đã tăng lên đáng kể.
Năm 2011, mức tăng trưởng có phần giảm hơn, tăng 79% so với năm
2010. Điều này được giải thích bởi năm 2011, nền kinh tế đứng trước nguy cơ
lạm phát cao, Ngân hàng Nhà Nước yêu cầu các Ngân hàng thắt chắt hoạt
động cho vay nhằm kiềm chế lạm phát.
Xét về cơ cấu tín dụng, chúng ta có thể thấy được rằng khoản mục tín
dụng ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn so với tín dụng trung và dài hạn. Điều
SV: Nguyễn Thị Thắm Lớp: 49B2-TCNH
13
Trường Đại học Vinh Khoa Kinh Tế
này là phù hợp với mục tiêu kinh doanh của Ngân hàng – mục tiêu an toàn là
mục tiêu quan trọng nhất. Các khoản vay trung và dài hạn thường tập trung
cho những dự án lớn, như dự án khai thác khoán sản ở Hưng Nguyên, dự án
khai thác quặng ở Quỳ Hợp- Nghệ An- đây là những lĩnh vực đầu tư có mức
độ rủi ro lớn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan như thời tiết, chích sách
quản lý vĩ mô của Chính phủ, do vậy mà Ngân hàng luôn thận trọng đối với
những khoản vay trung và dài hạn. Hơn nữa những khoản vay này có thời hạn
thu hồi nợ lâu, gây ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của Ngân hàng. Qua

SV: Nguyễn Thị Thắm Lớp: 49B2-TCNH
14
Trường Đại học Vinh Khoa Kinh Tế
Mặc dù tăng trưởng dư nợ nhanh song NHQĐ luôn chú trọng nâng cao
chất lượng tín dụng, NHQĐ Nghệ An luôn thực hiện nghiêm túc các quyết
định về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro mà Hội sở đã chỉ đạo cho
các chi nhánh. Nhìn chung cho vay của NHQĐ luôn được duy trì liên tục,
vững chắc chất lượng cho vay ngày càng được nâng cao.
1.3.3 Hoạt động khác
Bên cạnh các hoạt động truyền thống như huy động vốn và cho vay,
Ngân hàng TMCP Quân đội đã không ngừng mở rộng danh mục sản phẩm
của mình nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
Dịch vụ thanh toán:
Năm 2010, Ngân hàng ứng dụng công nghệ mới về thông tin với việc sử
dụng phần mềm T24 trên toàn hệ thống. Nhờ đó mà chất lượng thanh toán
được tăng lên, thời gian thanh toán được rút ngắn. Ngân hàng đã mở rộng
thanh toán liên kết với tất cả các Ngân hàng trong nước và nhiều Ngân hàng
trên thế giới. Chi nhánh đã mở thêm 3 cây rút ATM tại những địa điểm đông
dân cư, triển khai các chương trình mở thẻ miễn phí cho các đối tượng là học
sinh sinh viên, nhờ vậy mà lượng khách hàng sử dụng thẻ của MB ngày càng
nhiều.
Ngân hàng cũng triển khai nhiều dịch vụ thanh toán và kiểm tra tài
khoản, chuyển khoản hết sức tiện ích như dịch vụ bankplus, homebanking, ,
khách hàng có thể kiểm tra tài khoản hay chuyển khoản chỉ bằng một tin nhắn
mà không cần phải đến các điểm giao dịch của MB.
Các nghiệp vụ từ dịch vụ thanh toán cũng đem lại nguồn thu nhập đáng
kể cho chi nhánh
Bảng 1.3 Doanh thu cung cấp dịch vụ NHQĐ Nghệ An
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011

Đây là kết quả của sự nỗ lực của MB trong việc nâng cao năng lực tài chính,
chủ động về nguồn vốn.
Bảng 1.5 Bảng kết quả hoạt động kinh doanh Ngân hàng TMCP Quân
đội năm 2009-2011
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu 31/12/
2009
31/12/
2010
31/12/
2011
Chênh lệch
2010/2009 2011/2010
(+/-) (%) (+/-) (%)
Thu nhập lãi thuần 30,2 33,845 53,94 3,645 12,07 20,095 59,37
Lãi hoạt động dịch vụ 2,1 2,89 5,152 0,79 37,62 2,262 78,26
Lãi hoạt động khác 0,429 0,542 2,983 0,113 26,34 2,441 450,36
Chi phí hoạt động 3,87 9,741 10,243 5,871 151,7 0,502 5,15
Chi phí dự phòng 4,02 5,32 7,348 1,3 32,33 2,028 38,12
Chi phí quản lý 0,098 0,161 0,2217 0,063 64,28 0,0607 37,709
Lợi nhuận sau thuế 24,741 22,055 44,462 -2,686 - 22,407 101,6
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh NHQĐ năm 2009-2011)
Lợi nhuận sau thuế của Ngân hàng năm 2010 giảm so với năm 2009, từ
24,741 xuống 22,055 tỷ đồng. Nguyên nhân chính là do chi phí hoạt động
tăng đến 151,7%, trong khi thu nhập từ các hoạt động tăng không đáng kể.
Năm 2010, chi nhánh đã đầu tư mua sắm nhiều máy móc, trang thiết bị hiện
đại, bắt đẩu ứng dụng công nghệ thanh toán T24, và mở thêm phòng giao dịch
chợ Vinh- đây là nguyên nhân làm cho chi phí hoạt động của chi nhánh tăng
cao đến như vậy. Năm 2011 là một năm thành công của chi nhánh khi mà các
SV: Nguyễn Thị Thắm Lớp: 49B2-TCNH

Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Tổng vốn huy động 250 445 580
Dư nợ cho vay 188 347 464
Hệ số sử dụng vốn 75% 78% 80%
(Nguồn: Báo cáo cho vay tại NHQĐ chi nhánh Nghệ An năm 2009-2011)
Qua bảng trên chúng ta có thể thấy rằng hệ số sử dụng vốn của Ngân
hàng luôn duy trì trên mức 75% trong 3 năm 2009 đến 2011, và tăng lên qua
các năm. Năm 2009, khi mới gia nhập vào hệ thống ngân hàng trên địa bàn
tỉnh Nghệ An, NHQĐ Nghệ An còn khá thận trọng trong hoạt động cho vay
khi mà hệ số sử dụng vốn chỉ ở mức 75%, đây có thể coi là một con số an
toàn cho khả năng thanh khoản của chi nhánh khi mà uy tín của Ngân hàng
chưa được khẳng định chỉ sau 1 năm đi vào hoạt động. Tuy nhiên điều này đã
ảnh hưởng đến lợi nhuận của Ngân hàng vì số tiền dùng để cho vay là không
SV: Nguyễn Thị Thắm Lớp: 49B2-TCNH
18
Trường Đại học Vinh Khoa Kinh Tế
nhiều, dẫn đến số tiền lãi thu được từ hoạt động cho vay giảm, trong khi đó
phải trả một số chi phí lớn cho việc huy động vốn, nhất là tiền lãi vay. Trong
2 năm tiếp theo, chi nhánh đã mở rộng hoạt động cho vay đưa hệ số sử dụng
vốn lên mức 78% năm 2010 và 80% năm 2011. Để thực hiện chủ trương này,
Ngân hàng đã có nhiều biện pháp hỗ trợ trong cho vay nhằm thu hút khách
hàng như hỗ trợ lãi suất, giảm thiểu các thủ tục không cần thiết, và đồng
thời, điều này cũng thể hiện được uy tín của Ngân hàng đã được nâng cao.
Trong thời gian tới, chi nhánh cần thận trọng trong việc mở rộng hoạt động
cho vay, không nên để hệ số cho vay quá cao làm ảnh hưởng đến khả năng
thanh khoản của chi nhánh.
2.1.2 Tỷ trọng cho vay tài trợ XNK
Hoạt động cho vay tài trợ xuất nhập khẩu tại Ngân hàng TMCP Quân
Đội đã được thực hiện từ khi NH đi vào hoạt động. Trong những năm qua, chi
nhánh đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động này,tuy nhiên

7
117 33,7
Cho
vay
XNK
20 9,3 43 12,4 57 13,15 23 115 14 32,5
6
Cho
vay
khác
194 90,7 304 87,6 403 86,85 110 56,7 99 32,5
6
( Nguồn: Báo cáo cho vay của Ngân hàng TMCP QĐ chi nhánh
Nghệ An năm 2009 đến 2011).
Năm 2009, dư nợ cho vay tài trợ XNK chỉ đạt 20 tỷ đồng, chiếm 9,3%
trong cơ cấu tín dụng. Nguyên nhân là do giai đoạn này Ngân hàng vừa đi vào
hoạt động được một năm, còn thiếu kinh nghiệm trong hoạt động này, và
cũng chưa tìm kiếm được nhiều khách hàng. Tại thời điểm này, khách hàng
vay về hoạt động XNK của chi nhánh chỉ có Công ty Intimex Nghệ An. Mặt
SV: Nguyễn Thị Thắm Lớp: 49B2-TCNH
19
Trường Đại học Vinh Khoa Kinh Tế
khác, năm 2009 là năm mà nền kinh tế bước vào giai đoạn phục hồi sau ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nên các Ngân hàng cũng hạn
chế cho vay XNK mà chủ yếu chú trọng đến các gói hỗ trợ lãi suất cho các
doanh nghiệp trong nước. Các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực XNK
không nhận được nhiều sự ưu đãi trong năm 2009 này, hơn nữa hoạt động
kinh doanh của họ cũng gặp nhiều khó khăn khi mà tình hình lãi suất và tỷ giá
không ổn định. Tình trạng mua bán ngoại tệ trên thị trường ngầm còn nhiều,
các Ngân hàng hạn chế cho vay ngoại tệ.

Năm 31/12/2009 31/12/2010 31/12/2011
Chỉ tiêu Giá
trị
Tỷ
trọng
(%)
Giá
trị
Tỷ
trọng
(%)
Tăng
giảm
(%)
Giá
trị
Tỷ
trọng
(%)
Tăng
giảm
(%)
Doanh số
cho vay 20 100 43 100 115

57

100 21,27
TD
Ngắn

suất cho vay cũng sẽ thay đổi.
Cơ cấu cho vay theo đối tượng:
Đối tượng cho vay chính của NHQĐ chi nhánh Nghệ An trong thời
gian đầu hoạt động là các doanh nghiệp trong quân đội. Cho đến nay, đối
tượng khách hàng của Ngân hàng đã được mở rộng, bao gồm cả các doanh
nghiệp trong và ngoài quốc doanh. Tỷ trọng dư nợ ngắn hạn của các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh chiếm trung bình gần 60% tổng dư nợ ngắn hạn và
có xu hướng tăng lên trong cơ cấu tổng dư nợ. Dư nợ cho vay XNK đối với
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng từ 60% năm 2009 lên 66,67% năm
2011.Điều này phù hợp với mục tiêu phấn đấu của ban lãnh đạo NHQĐ là
đưa NHQĐ trở thành một ngân hàng bán lẻ hàng đầu và cũng phù hợp với
định hướng cổ phần hoá các doanh nghiệp quốc doanh của nhà nước. Một ưu
thế trong việc tài trợ của doanh nghiệp ngoài quốc doanh là thường các doanh
nghiệp này khi vay vốn đều có tài sản đảm bảo nên khi đối tượng khách hàng
này phát sinh nợ xấu nhưng có TSĐB nên ngân hàng sẽ an toàn hơn trong
việc cho vay và thu hồi nợ. Đây cũng là điểm khác biệt so với doanh nghiệp
quốc doanh.
Bảng 2.4: Cơ cấu cho vay XNK theo đối tượng
Đơn vị tính : tỷ đồng
Đối tượng
cho vay
Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Giá
trị
Tỷ
trọng
(%)
Giá
trị
Tỷ

Cơ cấu cho vay xuất khẩu so với nhập khẩu
Bảng 2.5 Cơ cấu cho vay xuất khẩu- nhập khẩu tại NHQĐ Nghệ An
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu 31/12/2009 31/12/ 2010 31/12/ 2011
Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng
Cho vay
NK
9,2 46 17,2 40 21,52 37,75
Cho vay
XK
10,8 54 25,8 60 35,48 62,25
Tổng 20 100 43 100 57 100
(Nguồn: Báo cáo cho vay NHQĐ chi nhánh Nghệ An)
Qua bảng trên chúng ta có thể thấy doanh số cho vay xuất khẩu là lớn
hơn so với cho vay nhập khẩu, và tỷ lệ này có xu hướng tăng lên qua các năm,
từ 54% năm 2009 tăng lên 62,25% năm 2011. Nguyên nhân của xu hướng
này là do chủ trương hoạt động của Ngân hàng là khuyến khích cho vay xuất
khẩu, bởi cho vay nhập khẩu chứa nhiều rủi ro hơn. Các doanh nghiệp xuất
khẩu thường vay vốn để bù đắp nguồn vốn thiếu hụt tạm thời do tiền hàng
chưa chuyển về nhưng lại cần vốn để mua các yếu tố đầu vào, bởi vậy nguồn
thu của Ngân hàng sẽ được đảm bảo hơn so với cho vay nhập khẩu.
Cơ cấu cho vay theo mặt hàng:
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu của người dân ngày càng
tăng, do đó chủng loại các mặt hàng trao đổi trong hoạt động XNK ngày càng
đa dạng và phong phú. Xét riêng ở địa bàn tỉnh Nghệ An và các tỉnh lân cận
thì các mặt hàng về thực phẩm và thủ công mỹ nghệ vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong
cơ cấu các mặt hàng XNK, do vậy mà đây cũng là các mặt hàng chủ yếu trong
SV: Nguyễn Thị Thắm Lớp: 49B2-TCNH
23
Trường Đại học Vinh Khoa Kinh Tế

tỷ đồng, năm 2010 là 9,8 tỷ đồng, năm 2011 là 12,7 tỷ đồng. Trong khi đó,
giá trị của mặt hàng nhập khẩu là máy móc thiết bị có giá trị lần lượt là 5,4 tỷ,
9,8 tỷ và 8,82 tỷ trong 3 năm. Chủ yếu các máy móc này phục vụ cho ngành
nông ngư nghiệp nên giá trị của nó là không lớn.
2.1.4 Tình hình thu nợ
Bảng 2.6 Tình hình nợ quá hạn tại NHQĐ chi nhánh Nghệ An
Đơn vị : tỷ đồng
Chỉ tiêu 31/12/2009 31/12/2010 31/12/2011
Dư nợ cho vay XNK 20 42 57
Nợ quá hạn 0 0 0
Tỷ lệ nợ quá hạn 0% 0% 0%
(Nguồn: Báo cáo cho vay NHQĐ chi nhánh Nghệ An năm 2009-2011)
SV: Nguyễn Thị Thắm Lớp: 49B2-TCNH
25

Trích đoạn Nâng cao chất lượng cán bộ quan hệ khách hàng. Chính sách khách hàng Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước Kiến nghị đối với NHQĐ chi nhánh Nghệ An
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status