Nâng cao chất lượng Tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế chi nhánh Đống Đa - Pdf 30

Website: Email : Tel (: 0918.775.368

MỤC LỤC
1.3.2 Nhóm nhân tố khách quan:........................................................................................23
SV: Lê Thị Mai Lớp: Liên thông Ngân hàng K10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BĐS Bất động sản
CBCNV Cán bộ công nhân viên
NH Ngân hàng
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NKT Nền kinh tế
TCTC Tổ chức tài chính
TCTD Tổ chức tín dụng
TD Tín dụng
VIB Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Quốc tế Việt Nam
VTD Vốn tín dụng
XNK Xuất nhập khẩu
SXKD Sản xuất kinh doanh
SV: Lê Thị Mai Lớp: Liên thông Ngân hàng K10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

DANH MỤC BẢNG, BIỂU
1.3.2 Nhóm nhân tố khách quan:........................................................................................23
SV: Lê Thị Mai Lớp: Liên thông Ngân hàng K10
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng là một trong những mắt xích quan trọng cấu thành nên sự vận

thương mại.
Chương 2: Thực trạng chất lượng Tín dụng tại Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Quốc tế chi nhánh Đống Đa
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng Tín dụng tại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Quốc tế chi nhánh Đống Đa
SV: Lê Thị Mai Lớp: Liên thông Ngân hàng K10
4
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái quát về Ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Định nghĩa, đặc trưng cơ bản về Ngân hàng thương mại
Để đưa ra được một định nghĩa về NHTM người ta thường phải dựa vào
tính chất, mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính và đôi khi còn kết
hợp tính chất mục đích và đối tượng hoạt động.
Có rất nhiều các định nghĩa được đưa ra về NHTM, nhưng phân tích, khai
thác nội dung các định nghĩa đó ta dễ dàng nhận thấy NHTM đều có chung một
tính chất đó là: việc nhận tiền kí thác, tiền gửi không kì hạn, có kì hạn để sử dụng
vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các dịch vụ kinh doanh khác của Ngân
hàng. Theo điều 20, Luật các Tổ chức Tín dụng của Việt Nam có nêu: “Tổ chức
Tín dụng là Doanh nghiệp được thành lập theo qui định của luật này và các qui
định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân
hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp Tín dụng, cung ứng
các dịch vụ thanh toán”.
Ngày nay trong thế giới hiện đại, hoạt động của các Tổ chức tài chính là
môi giới trên thị trường tài chính ngày càng phát triển về số lượng và qui mô hoạt
động, đa dạng và phong phú, hoạt động đan xen lẫn nhau. Người ta phân biệt
NHTM với các tổ chức trung gian tài chính khác là ở chỗ NHTM là Ngân hàng
kinh doanh tiền gửi, chủ yếu là tiền gửi không kì hạn, chính từ hoạt động đó đã tạo

cần phải thường xuyên chăm lo tới việc ổn định và tăng trưởng vốn trong suốt quá
trình hoạt động. Nguồn vốn huy động dồi dào cũng giúp Ngân hàng đa dạng hóa
hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro và thu được lợi nhuận cao vì mục tiêu
an toàn và hiệu quả.
Vốn của Ngân hàng được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, từ nhiều
đối tượng khác nhau, có thể từ chính bản thân Ngân hàng, từ các cá nhân, các
Doanh nghiệp, các tổ chức tài chính,…Việc phân loại vốn của Ngân hàng được
dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau.
Theo nguồn hình thành, vốn của Ngân hàng gồm:
 Vốn chủ sở hữu: Là giá trị tiền tệ do Ngân hàng tạo ra, chiếm tỷ trọng
nhỏ trong tổng nguồn vốn của NHTM nhưng là yếu tố quyết định đến sự hình
thành và duy trì hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Vốn chủ sở hữu có tính ổn định cao, sự tồn tại của nó nhằm cung cấp một
vùng đệm để bù đắp tổn thất và cho phép Ngân hàng tiếp tục tồn tại trong quá
trình hoạt động khi gặp rủi ro. Một Ngân hàng có qui mô Vốn chủ sở hữu lớn sẽ là
cơ sở tốt tạo niềm tin cho khách hàng.
Vốn chủ sở hữu được hình thành bởi:
SV: Lê Thị Mai Lớp: Liên thông Ngân hàng K10
6
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
+ Vốn góp: Tùy theo tính chất của Ngân hàng mà vốn này có thể góp do
Nhà nước, các cổ đông, các bên liên doanh, tư nhân, …
+ Các quỹ: Quỹ dự trữ bổ sung Vốn điều lệ, Quỹ bảo toàn vốn, Quỹ thặng
dư, Quỹ phúc lợi, Quỹ khen thưởng, …
+ Trái phiếu chuyển đổi
+ Lợi nhuận giữ lại

Vốn huy động: Là những giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy động được từ
các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua việc cung cấp các sản
phẩm, dịch vụ cho khách hàng và được dùng làm vốn để kinh doanh.

gửi. Chính vì tính ổn định của nó mà Ngân hàng có điều kiện thuận lợi trong việc
cân đối nguồn, sử dụng nó để kinh doanh kiếm lời cao.
 Vốn vay: Là những giá trị tiền tệ mà NHTM đi vay từ các tổ chức, cá
nhân khác nhau trong NKT bao gồm cả vay NHNN và các TCTD khác nhằm đảm
bảo khả năng thanh toán. Vốn vay chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của
NHTM, NHTM có thể vay vốn từ NHNN, các TCTD khác và vay trên thị trường
vốn thông qua các phương thức khác nhau.
+ Vay NHNN: NHTM đi vay NHNN khi cần giải quyết nhu cầu cấp bách
trong việc chi trả, khi thiếu hụt dự trữ (dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán).NHNN
cho vay thông qua các hình thức tái chiết khấu các giấy tờ có giá, cho vay có đảm
bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác, khi đó NHTM
phải thực hiện các điều kiện đảm bảo và kiểm soát nhất định như: những giấy tờ có
giá có chất lượng và phù hợp với mục tiêu của NHNN trong từng thời kỳ.
+ Vay các TCTD khác: Mục đích quan trọng của loại vay này là nhằm đảm
bảo nhu cầu vốn khả dụng trong thời hạn ngắn của NHTM. Trong quá trình hoạt
động, một số NHTM có những ngày cho vay quá nhiều hoặc có nhu cầu lớn về
nghĩa vụ tài chính dẫn đến sự thiếu hụt dự trữ tại NHNN, trong khi đó lại có một
số Ngân hàng khác dư thừa, hành vi vay lẫn nhau giữa các Ngân hàng là nhằm
điều hòa cho nhu cầu vốn khả dụng và đảm bảo nguồn vốn lưu chuyển liên tục
trong hệ thống Ngân hàng. NHTM đến vay trực tiếp hoặc vay thông qua Ngân
hàng đại lý và có thể không cần bảo đảm hoặc bảo đảm bằng các chứng khoán của
kho bạc.
+ Vay trên thị trường vốn: NHTM vay trên thị trường vốn thông qua hình
thức phát hành các giấy tờ có giá (kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu). Những Ngân
hàng có uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ được vay mượn nhiều hơn, ngoài ra nó còn
phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị trường tài chính, tạo khả năng chuyển đổi
cho các công cụ nợ dài hạn của Ngân hàng.

Vốn khác: Đây là vốn được hình thành thông qua việc ủy thác hoặc đại lý
cho các tổ chức trong và ngoài nước hoặc có thể thu hút vốn thông qua các phương

Lãi suất vay vốn: lãi suất vay vốn phản ánh chi phí sử dụng vốn. Lãi suất
vốn vay của mỗi NHTM phụ thuộc vào tình hình Tín dụng trên thị trường trong
từng thời kỳ.

Hoạt động đầu tư
Bên cạnh khoản mục cho vay một khoản mục khác cũng đem lại nguồn lợi
được đánh giá là quan trọng thứ hai trong Ngân hàng, đồng thời khoản mục này
SV: Lê Thị Mai Lớp: Liên thông Ngân hàng K10
9
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
cũng liên quan và hỗ trợ, bổ sung nhiều cho khả năng sinh lời của các nghiệp vụ
cho vay, đó là khoản mục chứng khoán.
Trong thị trường chứng khoán với vai trò là một chủ thể có tổ chức, các
NHTM thường dựa vào sự biến động về giá cả của từng loại chứng khoán sẽ thực
hiện việc mua bán các chứng khoán ngắn hạn có tính thị trường cao nhằm tìm
kiếm tiền lời do chênh lệch giá sinh ra như một nhà đầu cơ.
Tham gia vào thị trường chứng khoán các NHTM còn thực hiện một nghiệp
vụ quan trọng đó là sử dụng các nguồn vốn của mình để đầu tư vào việc mua các
chứng khoán như trái phiếu, cổ phiếu, ... có tính lưu hoạt kém hơn và kì hạn dài
hơn cho chính mình, các chứng khoán trong nghiệp vụ này thuộc tài khoản đầu tư.
Chi phí cho việc mua các chứng khoán tài chính như trái phiếu, cổ phiếu
được gọi là đầu tư tài chính.
Có hai hình thức của nghiệp vụ đầu tư tài chính là: Đầu tư chứng khoán và
liên kết liên doanh. Trong đó, thực hiện nghiệp vụ đầu tư chứng khoán NHTM
thường đầu tư vốn vào hai loại chứng khoán có kì hạn dài là chứng khoán do
Chính phủ hay chính quyền địa phương phát hành và chứng khoán do các xí
nghiệp công ty phát hành (chủ yếu là công ty cổ phần); còn hình thức liên kết, liên
doanh là việc NHTM đứng ra mua cổ phiếu cho chính mình với tư cách là một
thành viên hùn vốn khi các công ty, xí nghiệp dưới hình thức cổ phần họ phát hành
các cổ phiếu để gọi vốn.

NHTM đầu tư nhìn chung đều có thể mang lại lợi nhuận, nhưng trong thực tế mỗi
loại chứng khoán do có những đặc điểm riêng khác nhau như chủ thể phát hành,
mục đích, lĩnh vực sử dụng vốn của chủ thể, lãi suất, thời hạn mãn hạn của chứng
khoán, … cho nên chúng sẽ cho một khả năng thu lợi khác nhau. Chẳng hạn, nếu
đầu tư vào các loại chứng khoán do các chủ thể là công ty, xí nghiệp phát hành thì
khả năng sinh lãi thường sẽ cao hơn so với đầu tư vào các loại chứng khoán do
Nhà nước hay Chính phủ phát hành nhưng mức rủi ro lại lớn hơn; và ngược lại.
Song song với mục tiêu lợi nhuận NHTM cần phải lưu tâm đến tính thanh khoản
của chứng khoán đầu tư, không nên quá chú trọng đến lợi nhuận mà quên đi tính
thanh khoản của nó. Bởi vì, các chứng khoán mà Ngân hàng đầu tư có ý nghĩa rất
lớn, là chỗ dựa cho khoản dự trữ thứ cấp, cụ thể: nếu trong trường hợp nào đó để
thỏa mãn nhu cầu khách hàng rút tiền hoặc nhu cầu gia tăng về việc cho vay dẫn
đến dự trữ thứ cấp bị giảm xuống, để phục hồi khả năng thanh toán nếu việc tăng
vốn bằng cách bán các chứng chỉ tiền gửi có giá trị lớn không bổ sung được, lúc
ấy NHTM phải bán các chứng khoán thuộc tài khoản đầu tư để bổ sung.
Trong sự tồn tại và phát triển của mình, NHTM luôn phải đối mặt với
những thử thách và sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường tài chính, đối diện với
rất nhiều rủi ro. Vì thế cần đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của mình để NHTM
phân tán, giảm thiểu được rủi ro. Các NHTM từng trải, có kinh nghiệm hoạt động
rất thận trọng và chắc chắn, điều đó được thể hiện: bên cạnh việc thực hiện các
nghiệp vụ Tín dụng họ thường dành một phần tài sản để đầu tư vào các nguồn
ngoài khu vực mà họ đã cho vay như mua các chứng khoán có kì hạn dài, liên kết
SV: Lê Thị Mai Lớp: Liên thông Ngân hàng K10
11
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
kinh doanh vốn với các công ty, xí nghiệp, phát triển và mở rộng các nghiệp vụ
kinh doanh khác,…

Hoạt động trung gian khác
Ngoài các hoạt động chính trên, NHTM còn thực hiện các hoạt động khác

Khi cung cấp dịch vụ ủy thác cho khách hàng mang lại cho Ngân hàng một
số lợi thế như bổ sung cho Ngân hàng một nguồn thu nhập khá lớn từ khoản thu lệ
phí và hoa hồng ủy thác hàng năm.
 Dịch vụ tư vấn
Thực hiện dịch vụ này là việc NHTM cung cấp cho khách hàng của họ
những lời khuyên tốt nhất, những hiểu biết sâu sắc nhất về lĩnh vực mà khách hàng
yêu cầu và nhờ đó mà khách hàng có được những thông tin đáng tin cậy, dựa vào
đó mà họ có cơ sở để dự đoán được những diễn biến của tình hình kinh tế xã hội,
… Kết cục họ có thể xây dựng được những phương án sản xuất kinh doanh tối ưu,
hoặc có những quyết định kịp thời trong đầu tư hoặc trong sản xuất kinh doanh, từ
đó họ có thể giảm thiểu được rủi ro hay thiệt hại và đạt được mức lợi nhuận tối đa.
Thật sai lầm nếu như nếu như một Ngân hàng nào đó bỏ qua hay xem nhẹ
hoạt động này vì nó có chi phí ít nhất mà thu nhập thì không nhỏ. Thu nhập mà
Ngân hàng nhận được khi cung cấp dịch vụ này cho khách hàng không chỉ là lệ
phí phục vụ mà Ngân hàng còn mở rộng khách hàng, củng cố, tăng cường vị trí và
uy tín của mình một cách nhanh chóng. Điều quan trọng là Ngân hàng phải luôn
đảm bảo cung cấp cho khách hàng những lời khuyên chính xác nhất, tin cậy nhất
với tinh thần phục vụ tận tình chu đáo nhất.
 Kinh doanh vàng bạc, đá quý
Do đặc thù riêng của các nghiệp vụ này nên NHTM phải tổ chức một bộ
phận riêng để tiến hành kinh doanh các nghiệp vụ gồm: mua bán vàng bạc, đá quý
và xuất nhập khẩu vàng bạc, đá quý. NHTM thực hiện các nghiệp vụ này trên cơ
sở giấy phép của NHTW và có đội ngũ cán bộ, kỹ thuật theo sự xác nhận của
NHTW.
 Các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động của Ngân hàng
Bao gồm: dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ bảo quản và kí gửi,…
SV: Lê Thị Mai Lớp: Liên thông Ngân hàng K10
13

Trích đoạn Phân tích chất lượng Tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Chi nhánh Đống Đa giai đoạn 2007 –
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status