Hoạt động nhập khẩu máy vi tính và phụ kiện máy vi tính của công ty FPT: Thực trạng và giải pháp - Pdf 23

LỜI NÓI ĐẦU
Đại hội Đảng lần thứ IX vừa qua đã khẳng định đẩy mạnh Công nghiệp hoá-
Hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành nước công
nghiệp. Trong bối cảnh thế giới khoa học công nghệ phát triển như vũ bão Việt
nam không thể nằm ngoại lệ, muốn đạt mục tiêu thì phải có trình độ công nghệ nhất
định và liên tục được nâng cao. Năng lực nội sinh hiện tại của Việt nam còn thấp,
không thể chỉ tự phát huy nội lực mà cần phải học hỏi bạn bè các nước. Có nhiều
cách học hỏi nhưng lựa chọn cách thích hợp và có hiệu quả thì mới đem lại thành
công. Đối với Việt nam hiện nay, những mặt hàng chứa hàm lượng khoa học công
nghệ cao như máy vi tính và phụ kiện máy vi tính có tính năng tiện dụng cao nhưng
trong nước chưa đủ khả năng sản xuất mặc dù nhu cầu trên thị trường Việt nam lớn
thì nhập khẩu là tất yếu và rất cần thiết.
FPT (Công ty Đầu tư và Phát triển Công nghệ) là công ty công nghệ lớn của
Nhà nước, có nhiệm vụ là một trong những doanh nghiệp đi đầu, tiên phong trong
lĩnh vực tin học. Trong 13 năm hình thành và phát triển, công ty đã đóng góp phần
không nhỏ trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ cho nước nhà. Nhập khẩu mặt
hàng máy vi tính và phụ kiện máy vi tính đã được FPT thực hiện ngay từ khi thành
lập, cho đến nay vẫn được duy trì, phát triển và có hiệu quả.
Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, tất cả các thành phần kinh tế
được tham gia vào thị trường một cách bình đẳng, công ty FPT ngoài nhiệm vụ
phục vụ cho các dự án của Nhà nước còn phải tự tìm kiếm đối tác và khách hàng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công ty vẫn còn nhiều hạn chế cần phải khắc
phục.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận đã được học tại trường kết hợp với cơ sở thực
tiễn đã được quan sát tại Công ty FPT cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo,
Thạc sĩ Ngô Thị Tuyết Mai và các cô chú tại phòng Kế hoạch Kinh doanh của công
4
ty, em đã chọn đề tài luận văn tốt nghiệp là “Hoạt động nhập khẩu máy vi tính và
phụ kiện máy vi tính của công ty FPT: Thực trạng và giải pháp”.
Mục đích của luận văn là:
-Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về hoạt động nhập khẩu để

ứng nhu cầu trong nước hoặc tái xuất khẩu để tìm kiếm lợi nhuận.
Hoạt động nhập khẩu là một bộ phận rất quan trọng trong hoạt động thương
mại quốc tế, nó thể hiện sự phụ thuộc gắn bó lẫn nhau giữa nền kinh tế quốc gia với
nền kinh tế thế giới. Từ đó thấy được lợi thế so sánh về vốn, lao động, tài nguyên
thiên nhiên, khoa học công nghệ,... để có chính sách khai thác hợp lý và có lợi nhất.
Xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá trên thế giới diễn ra khá mạnh mẽ, đó là sự
hình thành các khu vực mậu dịch, các liên minh kinh tế như AFTA, NAFTA,... đã
cho thấy khối lượng giao dịch giữa các quốc gia ngày càng lớn và rõ ràng vai trò
nhập khẩu là không thể thiếu, nó không chỉ quan trọng đối với một quốc gia mà còn
đối với cả sự ổn định kinh tế chung của khu vực. Ở một giới hạn nhất định nhập
khẩu có thể quyết định tới sự sống còn của nền kinh tế nước đó đã thống nhất dưới
một mái nhà chung của nền kinh tế thế giới.
2. Vai trò nhập khẩu:
Một điều khẳng định rằng, trên thế giới nơi nào có hoạt động thương mại,
đặc
biệt là thương mại quốc tế phát triển thì nơi đó có nền kinh tế phát triển. Trước đây
một số nước như Trung quốc, Liên xô (cũ), Việt nam đã coi độc lập kinh tế là vấn
đề trên hết và có ý thức xây dựng một nền kinh tế tự cấp, tự túc. Nhưng thực tế đã
thất bại, sự khan hiếm hàng hoá trầm trọng đã ảnh hưởng đến kinh tế cũng như xã
6
hội. Bài học này cho thấy rằng hoạt động ngoại thương là vô cùng quan trọng, phải
biết kết hợp cả nội lực và ngoại lực, ngoại lực là yếu tố quan trọng còn nội lực là
yếu tố quyết định. Nhận thức được vấn đề này, các quốc gia đã tích cực tham gia
vào các tổ chức thương mại quốc tế nơi thúc đẩy sự trao đổi buôn bán giữa các
nước diễn ra một cách mạnh mẽ và có hiệu quả hơn. Và thành phần không thể
thiếu, đó là nhập khẩu đã đóng vai trò quan trọng của nền kinh tế quốc gia cũng
như đối với sự phát triển của thương mại quốc tế.
*Lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo đã chỉ ra rằng một nước sẽ có lợi hơn
khi nhập khẩu một loại mặt hàng mà nếu chi phí sản xuất trong nước cao hơn và
nên chuyên môn hoá vào lĩnh vực mà mình có lợi thế hơn bằng cách xem xét đầu

sản xuất và tiêu dùng diễn ra thường xuyên và ổn định. Không chỉ nhập khẩu trực
tiếp hàng hoá thiết yếu mà thị trường nội địa còn khan hiếm mà cả máy móc,
nguyên phụ liệu, công nghệ giúp cho sản xuất trong nước phát triển, năng suất lao
động cao hơn, hàng hoá sản xuất ra dồi dào và ngoài ra còn có tác dụng giữ giá ổn
định trên thị trường, hạn chế sự leo thang của giá cả bằng cách tạo ra môi trường
cạnh tranh lành mạnh-chất lượng và giá cả được quan tâm.
*Nhập khẩu tác động trực tiếp đến sản xuất và kinh doanh vì nó cung cấp
nguyên phụ liệu để sản xuất hàng hoá trong nước, tỷ lệ nguyên phụ liệu này tuỳ
thuộc vào từng quốc gia với nhu cầu của họ, đem lại nhiều trình độ công nghệ khác
nhau phù hợp với từng vùng, địa phương với quy mô và khả năng sản xuất được
nâng cao, năng suất lao động tăng.
Ngoài ra nhập khẩu hàng tiêu dùng, sách báo khoa học, kỹ thuật, văn hoá góp
phần nâng cao dân trí.
Nhập khẩu và xuất khẩu có mối quan hệ khăng khít với nhau. Hiện nay trên
thế giới, các nước đều nhấn mạnh đến hoạt động xuất khẩu nhưng không vì thế mà
nhập khẩu bị coi nhẹ. Có những mặt hàng nguyên phụ liệu phải nhập khẩu từ nước
ngoài, cá biệt có thể là 100%, mà lợi thế so sánh chỉ là giá nhân công rẻ hoặc được
8
hưởng ưu đãi nào đó. Đối với những nước kém về công nghệ thì việc nhập khẩu
công nghệ, máy móc thiết bị giúp cho hàng hoá sản xuất chất lượng cạnh tranh trên
thị trường quốc tế. Ngược lại, nhập khẩu phải có lượng dự trữ ngoại tệ, khoản này
không thể chỉ trông mong từ hoạt động đi vay từ các tổ chức quốc tế mà nó cần
thiết phải được lấy ra từ hoạt động xuất khẩu và các nước đều cân đối để cán cân
thương mại được cân bằng.
Tuy nhiên, hoạt động nhập khẩu cũng có những hạn chế chủ yếu sau:
*Tất cả các hoạt động trong xã hội cần có sự quản lý, hoạt động nhập khẩu
cũng vậy, có nhiều phương pháp để thực hiện việc này thông qua thuế quan, phi
thuế quan hoặc hành chính. Nếu quản lý không tốt thì tình trạng nhập khẩu sẽ
không đúng với mục tiêu của Nhà nước gây nên tình trạng nhập khẩu tràn lan, giá
thành giảm nhanh và dẫn đến lãng phí vừa tác động xấu đến sản xuất trong nước

tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng giá cả, chất lượng luôn dẫn đầu. Để thực hiện
được mục tiêu của mình, phương châm mua sắm trong thời kì đầu rồi từng bước
học tập, cải tiến máy móc, kỹ thuật, áp dụng phù hợp với hoàn cảnh Việt nam để
sản xuất có hiệu quả hơn. Song, để phát huy tốt vai trò của nhập khẩu trong quá
trình CNH-HĐH, vấn đề đặt ra là: cần thiết hoạt động nhập khẩu phải là phương
tiện kết hợp sức mạnh trong nước và quốc tế.
II. các hình thức nhập khẩu chủ yếu
Nhập khẩu đơn thuần chỉ là hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá qua biên
giới nhưng trong thực tế có nhiều hình thức nhập khẩu, mỗi loại có những điều kiện
nhất định, ưu điểm, nhược điểm riêng và các doanh nghiệp phải lựa chọn sao cho
phù hợp nhất nhằm đạt được hiệu quả từ hoạt động của mình. Trong thực tế thường
có những hình thức chủ yếu sau:
10
1. Nhập khẩu tư doanh:
Hình thức này còn được gọi là nhập khẩu trực tiếp. Doanh nghiệp đứng ra
nhập khẩu một cách độc lập. Nó đòi hỏi nhà nhập khẩu phải nghiên cứu thị trường
kỹ lưỡng, hiểu biết sâu sắc tình hình luật pháp, chính sách của quốc gia mình và các
thông lệ, luật pháp, tập quán quốc tế.
Do nhập khẩu độc lập nên yêu cầu doanh nghiệp phải nắm chắc nghiệp vụ và
do đó nếu có rủi ro, tổn thất xảy ra thì phải tự gánh chịu. Ngược lại, thu được lợi
nhuận sẽ được hưởng toàn bộ. Hoạt động nhập khẩu tư doanh có được sự tự chủ
hơn so với các hình thức nhập khẩu khác, doanh nghiệp phải tự bỏ vốn ra để kinh
doanh do đó muốn thu được lợi ích tối đa thì doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ lưỡng
từng bước từ khâu nghiên cứu thị trường cho đến kí kết và thực hiện các điều
khoản trong hợp đồng cũng như tiêu thụ sản phẩm nhập khẩu và thu tiền về,...
Tính tự chủ hoàn toàn là đặc điểm khác biệt nhất và hiện nay nó được sử dụng
nhiều nhất.
2. Nhập khẩu liên doanh:
Đây là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết một cách tự nguyện
giữa các doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp)

về quy cách, phẩm chất như trong hợp đồng.
Năm 1999, Chính phủ Việt nam đã ban hành Nghị định 37/CP cho phép các
doanh nghiệp kinh doanh thuộc các ngành có quyền xuất nhập khẩu trực tiếp. Vì
vậy, hình thức này hiện nay giảm và nhường chỗ cho các hình thức khác phát triển.
4. Buôn bán đối lưu:
Đây là phương thức giao dịch trao đổi hàng hoá, trong đó xuất khẩu kết hợp
chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng giao đi có
giá trị tương xứng với số lượng hàng nhận về.
Hình thức này ra đời từ rất lâu, trong đó sớm nhất là “hàng đổi hàng”, tiếp
đến là “trao đổi đền bù”.
12
Trong nghiệp vụ hàng đổi hàng, các bên trao đổi với nhau những hàng hoá
tương đương và việc giao nhận hàng diễn ra gần như đồng thời, có thể thanh toán
bằng tiền.
Trong nghiệp vụ bù trừ, hai bên trao đổi hàng hoá với nhau trên cơ sở ghi sổ
giá trị hàng giao. Đến cuối kì hạn hai bên mới so và đối chiếu trị giá hàng đã giao
và trị giá đã nhận, nếu sau khi thực hiện nghiệp vụ bù trừ, tiền hàng còn dư thì số
tiền đó được giữ lại để chi trả theo yêu cầu của bên chủ nợ hoặc có thể được ghi
vào sổ cho nghiệp vụ bù trừ năm sau.
Do cùng một hợp đồng có thể thực hiện cả hoạt động nhập khẩu và xuất
khẩu, cùng lúc thu lãi từ hai hoạt động này, hình thức này khá phát triển đặc biệt
sau chiến tranh Thế giới lần thứ 2. Trong thập niên 90 của thế kỷ 20 buôn bán đối
lưu chiếm gần 35% trong buôn bán quốc tế. Tuy nhiên để thu được lợi ích tối ưu
nhất, các nhà kinh doanh cần phải nắm vững thị trường trong nước cũng như thị
trường nước ngoài.
5. Nhập khẩu tái xuất:
Là hoạt động nhập khẩu hàng hoá từ một nước rồi sau đó xuất sang nước thứ
ba mà không qua khâu chế biến ở nước tái xuất.
Giao dịch này bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về một
khoản ngoại tệ lớn hơn vốn bỏ ra ban đầu, nó luôn luôn gồm ba nước: nước xuất

Nghiên cứu thị trường trong kinh doanh nhập khẩu yêu cầu phải được tiến
hành trong và ngoài nước. Nghiên cứu thị trường trong nước bao gồm những nội
dung chủ yếu sau:
1.1. Nghiên cứu nhu cầu của thị trường (hiện tại và tương lai thị trường đang cần
hàng hoá gì, số lượng là bao nhiêu, giá cả như thế nào,...):
14
Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu quan tâm tới một số vấn đề như khả năng
sản xuất và tiêu dùng trong nước thể hiện ở số lượng, chất lượng hàng sản xuất và
tiêu thụ, thị hiếu, tập quán tiêu dùng cùng khả năng của doanh nghiệp trong việc
cung ứng các mặt hàng đó ra thị truờng trong nước; chu kỳ sống của sản phẩm trải
qua các giai đoạn: giới thiệu, phát triển, bão hoà và suy thoái. Khi doanh nghiệp
tiến hành nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu họ cần phải xác định mặt hàng đang ở
giai đoạn nào trên cả thị trường đầu vào và đầu ra bởi vì trên thực tế mỗi khi thay
đổi thị trường của một mặt hàng nào đó, nó sẽ tác động tới sự thành công hay thất
bại của doanh nghiệp. Chính sách của nhà nước đối với mặt hàng: xem xét sản
phẩm mà doanh nghiệp định nhập khẩu cung ứng cho nhu cầu của nội địa có nằm
trong danh mục hàng cấm nhập khẩu, biểu thuế nhập khẩu,...được quy định cho
từng mặt hàng; nghiên cứu giá cả trong nước và đối thủ cạnh tranh trong nước:
giúp cho doanh nghiệp xác định được lượng tiền mà khách hàng trong nước chấp
nhận trả cho một đơn vị sản phẩm nhập khẩu-Mức giá này khá linh hoạt và chịu tác
động của nhiều nhân tố như thu nhập, giá đối thủ đưa ra, quy định của Nhà nước,...
1.2. Nghiên cứu thị trường ngoài nước:
Công việc này đòi hỏi doanh nghiệp cần phải biết có bao nhiêu nhà cung cấp
sản phẩm mà mình dự định nhập khẩu, khả năng cung ứng, phương thức giao dịch
và thanh toán ra sao..., các nhân tố này ảnh hưởng đến tính ổn định và lâu dài trong
hoạt động kinh doanh nhập khẩu. Do đó doanh nghiệp cần phải nghiên cứu nghiêm
túc, nhanh chóng để nắm bắt cơ hội.
-Nghiên cứu giá cả hàng hoá nhập khẩu: các yếu tố cấu thành giá cả của hàng
hoá bao gồm giá vốn, giá bao bì, chi phí vận chuyển, chi phí bảo hiểm và các chi
phí khác tuỳ theo các bước thực hiện và sự thoả thuận của các bên tham gia. Trong

khi các bên đã quen biết nhau, tin tưởng lẫn nhau.
16
-Đàm phán trực tiếp: Độ an toàn khá cao vì các bên gặp gỡ nhau trực tiếp,
trao đổi, trình bày những yêu cầu cũng như thắc mắc để giải quyết ngay. Tuy nhiên,
phí cho hoạt động này khá cao đặc biệt là những nước có khoảng cách địa lý cách
xa nhau. Vì vậy, nó thường được sử dụng trong những trường hợp khá phức tạp với
số lượng lớn.
Mỗi hình thức đều có những ưu, nhược điểm riêng, tuỳ từng trường hợp giao
dịch và điều kiện cụ thể của doanh nghiệp mà lựa chọn hình thức đàm phán cho
phù hợp nhất.
Quá trình đàm phán thường bao gồm các bước sau:
-Hỏi giá: Bên mua đề nghị bên bán cho biết thông tin về hàng hoá mình cần
bao gồm: Tên hàng, chủng loại, phẩm chất, giá thành hàng hoá,...Hỏi giá không
ràng buộc người mua phải trở thành mua hàng.
-Báo giá: Người bán sẽ thông báo giá cả theo chủng loại hàng mà người mua
yêu cầu. Báo giá được cam kết của người bán về mức giá đó mà người mua không
có quyền từ chối.
-Chào hàng: Là đề nghị của người bán cho người mua về một số hàng hoá
muốn bán có kèm các điều khoản nhất định cần thiết. Chào hàng cũng không ràng
buộc mua hàng.
-Đặt hàng: Là lời đề nghị của người bán cho người mua dưới hình thức đơn
đặt hàng. Nếu đã có báo giá của người bán thì việc người mua đặt hàng đánh dấu
việc hợp đồng chính thức hình thành.
-Hoàn giá: Khi nhận được đơn đặt hàng hoặc đặt hàng, nếu không chấp nhận
hoàn toàn nội dung trong đó thì một trong hai bên sẽ đưa ra đề nghị mới gọi là hoàn
giá và chào hàng cũ coi như bị huỷ bỏ.
-Chấp nhận: Là việc đồng ý hoàn toàn với chào hàng hoặc báo giá đó. Việc
chấp nhận này phải được người chấp nhận ký và ghi rõ sự chấp nhận hoàn toàn vô
điều kiện cuả mình và gửi cho người chào hàng thì mới có giá trị pháp lý.
17

cầu
Đăng ký mã
số nhập khẩu
Mua bảo
hiểm( Nếu
giá FOB)
Thanh
toán
L m thà ủ tục
hải quan
kinh doanh xuất nhập khẩu tại Bộ Thương mại như trước kia. Như vậy, để được
nhập khẩu hàng hoá, doanh nghiệp chỉ cần đăng kí mã số tại Tổng cục Hải quan
trong giới hạn hạn ngạch được cấp.
3.2. Mở L/C khi bên bán yêu cầu:
Khi bên bán yêu cầu mở L/C thì mới giao hàng, người nhập khẩu sẽ uỷ
quyền cho Ngân hàng của mình mở L/C thanh toán cho phía nước ngoài.
3.3. Thuê tàu vận chuyển:
Nếu nhập khẩu theo giá FOB thì người bán sẽ phải trả chi phí thuê tàu, dỡ
hàng. Nhưng tại Việt nam với nhiều lí do mà thường nhập khẩu theo giá CIF.
3.4. Mua bảo hiểm hàng hoá:
Để đảm bảo an toàn cho hàng trong trường hợp nhập khẩu với điều kiện FOB
người nhập khẩu phải mua bảo hiểm cho khách hàng.
3.5. Thanh toán:
Có nhiều hình thức thanh toán hàng quốc tế nhưng phổ biến nhất là phương
thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ. Theo phương thức này, người nhập khẩu
sẽ tiến hành thanh toán tiền cho ngân hàng khi nhận được bộ chứng từ hợp lệ về
hàng nhập khẩu. Nếu có vấn đề vướng mắc thì người nhập khẩu trả lại bộ chứng từ
và dừng việc thanh toán tiền hàng. Bộ chứng từ gồm: vận đơn (B/L), giấy phép Hải
quan, thẩm định hàng hoá,...và nó là căn cứ để nhận hàng từ chủ tàu.
Đối với phương thức thanh toán bằng thư tín dụng (L/C) hiện nay, sau khi

chì hàng hoá trước sự chứng kiến của các bên để kiểm tra hàng hoá và ghi lại vào
những văn bản giám định và nó có vai trò quan trọng khi có tranh chấp về chất
lượng hay thiếu hụt hàng hoá.
4. Tổ chức khiếu nại và giải quyết tranh chấp (nếu có):
Khi xảy ra vi phạm về các điều khoản gây thiệt hại cho một trong hai bên thì
bên kia có quyền kiện. Căn cứ để đơn vị nhập khẩu bảo vệ lợi ích của mình gồm:
-Nội dung hợp đồng.
20
-Kết quả thực hiện hợp đồng.
Lúc đầu thông qua biện pháp tự hoà giải. Nếu không được thì sẽ đệ đơn lên
trọng tài quốc tế hoặc toà án. Tại đây sẽ sử dụng luật hoặc tập quán quốc tế để giải
quyết nhằm đảm bảo quyền lợi cho bên bị thiệt hại.
IV. CÁC NHÂN TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU
Mọi hoạt động đều chịu tác động của các yếu tố thuộc môi trường xung
quanh. Nó có thể là yếu tố tác động trực tiếp, có thể là yếu tố tác động gián tiếp,
bao gồm cả yếu tố khách quan cũng như yếu tố chủ quan. Hoạt động ngoại thương
nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng đều chịu sự chi phối của các nhân tố
bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp. Các nhân tố này thường xuyên biến
đổi qua các giai đoạn khác nhau. Vì vậy cần phải nghiên cứu kỹ các nhân tố để hạn
chế tối thiểu những tiêu cực và phát huy những nhân tố tích cực đem lại hiệu quả
hoạt động nhập khẩu cho doanh nghiệp.
1. Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp:
1.1. Chế độ chính sách và luật pháp:
Mỗi quốc gia đều có chính sách nhằm đưa mọi hoạt động vào khuôn khổ và
phục vụ mục đích lâu dài của mình. Rõ ràng hoạt động ngoại thương, một hoạt
động khá phức tạp, có tác động rất lớn đến quan hệ đối ngoại nói chung cũng như
kinh tế đối ngoại. Các chủ thể hoạt động kinh doanh luôn luôn phải tuân thủ quy
định và luật pháp, những qui định có tính cưỡng chế. Nguồn luật ở đây gồm có:
luật nước nhập khẩu, luật nước xuất khẩu, luật nước thứ ba và các tập quán quốc tế.
Môi trường pháp lý tác động khá mạnh đến hoạt động này, nếu nó ổn định, đồng

cung, còn thị trường trong nước ảnh hưởng đến lượng cầu, nếu cung cầu không
được cân đối thì chiến lược kinh doanh cũng như lợi nhuận sẽ bị tác động. Các xu
hướng kinh tế, chính trị, chính sách bảo hộ, mở cửa,...ảnh hưởng tới mối quan hệ
giữa các đối tác làm cho lượng cung cấp bị giảm sút. Ngoài ra, khủng hoảng kinh
22
tế, tài chính, bất đồng về kinh tế chính trị,... đều ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh
nhập khẩu.
Trước khi bước vào hoạt động kinh doanh các bên cần phải xác định được
nhu cầu về mặt hàng trong nước như giá cả, chất lượng, số lượng đồng thời phải
tìm kiếm đối tác nước ngoài về khả năng cung cấp có đáp ứng được nhu cầu trong
nước không. Tiềm lực về tài chính của doanh nghiệp nước ngoài ra sao để có thể hỗ
trợ rủi ro về chất lượng, tạo uy tín cho mặt hàng mình kinh doanh được lâu dài và
quan trọng nhất là khả năng sản xuất của bên nước ngoài để doanh nghiệp có thị
trường nhập khẩu ổn định và có lợi do quan hệ lâu dài. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh
mạnh mẽ của các doanh nghiệp sản xuất trong nước đòi hỏi họ phải rất chú ý đến
những điểm mạnh của mặt hàng nhập khẩu.
1.3. Hệ thống tài chính, ngân hàng:
Vai trò của hệ thống tài chính, ngân hàng ngày càng lớn trong nền kinh tế.
Nó đóng một vai trò quan trọng trong việc quản lý, cung cấp vốn, bảo đảm việc
thanh toán một cách thuận tiện và nhanh chóng cho các doanh nghiệp. Hoạt động
ngoại thương không thể thiếu được hệ thống này. Kinh doanh nhập khẩu cũng vậy,
với vai trò của người bảo lãnh, bảo đảm về mặt lợi ích, ngân hàng sẽ giúp nhà nhập
khẩu thực hiện nghiệp vụ nhanh chóng hơn. Ngoài ra ngân hàng còn giúp cho
doanh nghiệp có được khoản tiền để trợ giúp về vốn cho nhà nhập khẩu. Hệ thống
thông tin do ngân hàng cung cấp cho khách hàng là rất quan trọng, nó bao gồm
kinh nghiệm tài chính, sự biến động thị trường thế giới,...Do đó ngân hàng phải đủ
mạnh thì mới có đủ uy tín bảo lãnh trước đối tác nước ngoài, là nhà cố vấn trong
hoạt động kinh doanh nhập khẩu của các doanh nghiệp.
1.4. Trình độ cơ sở hạ tầng:
Hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống giao thông vận tải, hệ thống thông

doanh nghiệp phát hiện kịp thời nhu cầu và hướng hoạt động kinh doanh của mình
có hiệu quả.
24
2.4. Nhân tố về vốn:
Vốn là vấn đề đầu tiên khi bước vào hoạt động kinh doanh, vốn quyết định
đến quy mô của doanh nghiệp và thể hiện thông qua tiềm lực tài chính. Tất nhiên
không phải hiệu quả kinh doanh là do vốn quyết định hoàn toàn nhưng nó sẽ có tác
dụng nhất định giúp doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn. Các chỉ tiêu đánh giá
về vốn gồm có: tốc độ tăng trưởng của vốn, tốc độ vòng quay của vốn. Trong hoạt
động nhập khẩu lượng vốn bỏ ra khá lớn và nhiều lúc lãi cũng tỷ lệ thuận với lượng
vốn bỏ ra kinh doanh. Chính vì vậy, các doanh nghiệp luôn phải chú ý đến vấn đề
bảo toàn và phát triển nguồn vốn kinh doanh.
V. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG NHẬP KHẨU
Mỗi giai đoạn, quan điểm về hoạt động kinh tế có khác nhau mặc dù nó luôn
có quy luật vận hành, kinh tế gắn liền với các chính sách khác, đặc biệt hoạt động
trong lĩnh vực đối ngoại. Hệ thống tổ chức quản lý thương mại quốc tế trong nền
kinh tế quốc dân của Việt nam từng thời kỳ có đặc điểm, tính chất riêng phù hợp
với yêu cầu, chiến lược phát triển đất nước.
*Thời kỳ 1955-1975:
Trong thời kỳ này, hoạt động xuất nhập khẩu Miền Bắc chủ yếu phục vụ cho
công cuộc khôi phục kinh tế, xây dựng hậu phương giải phóng Miền nam. Mặc dù
đã chú trọng đến kinh tế đối ngoại nhưng do yêu cầu chính trị hoạt động ngoại
thương chỉ chú trọng vào các nước XHCN, mục tiêu kinh tế bị thu hẹp nên hoạt
động này cũng kém phần đa dạng, phong phú, tính cạnh tranh bị thủ tiêu, các công
cụ quản lý của nhà nuớc còn đơn giản.
*Thời kỳ 1976-1986:
Đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh, cả nước tập trung vào công cuộc khôi
phục và phát triển kinh tế. Với chủ trương mở rộng và đẩy mạnh hoạt động thương
mại quốc tế, hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu đã mang tính chất của một hoạt

kinh tế đối ngoại, họ có quyền tự quyết giá cả hàng xuất nhập khẩu trên cơ sở tính
toán hiệu quả kinh doanh.
Trong thời kì này, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách và
biện pháp quản lý đổi mới, phát huy quyền chủ động sáng tạo của các địa phương,
tổ chức kinh tế kinh doanh xuất nhập khẩu,... Tuy nhiên, những đổi mới đó vẫn
chưa vượt ra ngoài khuôn khổ của chế độ quản lý theo mô hình Nhà nước độc
quyền Ngoại thương.
*Thời kỳ 1986-nay:
Giai đoạn này, Đảng và Nhà nước coi thương mại quốc tế là công cụ quan
trọng trong quá trình thúc đẩy CNH đất nước, nhiều chính sách, biện pháp quản lý
đã và đang hoàn thiện dần hệ thống quản lý và kinh doanh xuất nhập khẩu.
Bộ Thương mại là cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước thống nhất
đối với hoạt động xuất nhập khẩu thông qua các vụ chuyên môn. Bộ còn phối hợp
với các bộ khác như Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Tổng cục Hải quan,
UBND địa phương theo chức năng của mình qui định, hướng dẫn các thủ tục liên
quan. Tại khoản 3, Điều 8, Nghị định 57/1998/NĐ-CP, các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế thành lập theo quy định của pháp luật, được xuất khẩu, nhập
khẩu hàng hoá theo ngành nghề kinh doanh đã ghi trong giấy chứng nhận kinh
doanh sẽ không phải xin giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu tại Bộ thương mại.
Ngoài ra quy định rõ các mặt hàng được phép xuất nhập khẩu.
Nhu cầu cho CNH-HĐH đòi hỏi phải có máy móc hiện đại, các phụ gia,
những sản phẩm trong nước chưa sản xuất được, chính vì vậy vai trò nhập khẩu khá
quan trọng. Cùng với định hướng về phát triển kinh tế, quan điểm của Đảng và Nhà
nước đối với việc phát huy đúng vị trí của hoạt động nhập khẩu cũng chỉ ra:
-Mở rộng sự tham gia của các thành phần kinh tế và hoạt động dưới sự quản
lý thống nhất của Nhà nước.
27
-Coi trọng hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động nhập khẩu. Tức là không
chỉ chạy theo mục đích vì lợi nhuận mà bỏ qua lợi ích về xã hội, nên kết hợp giữa
hai loại lợi ích như vừa thu được lợi nhuận vừa tạo công ăn việc làm,...


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status