Giáo trình tài chính tiền tệ chương 5 hệ THỐNG NGÂN HÀNG và THỊ TRƯỜNG tài CHÍNH cđ phương đông - Pdf 23

Chương 5: HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
A. HỆ THỐNG NGÂN HÀNG:
I. Khái quát chung về hệ thống ngân hàng:
1. Ngân hàng là gì?
Ngân hàng là một tổ chức tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ tập trung và
phân phối vốn tiền tệ cũng như các dịch vụ có liên quan đến tài chính - tiền tệ khác
trong nền kinh tế quốc dân.
2. Nguồn gốc ra đời của Ngân hàng:
Tiền thân của nghiệp vụ ngân hàng hiện đại bắt nguồn từ nghề đổi tiền đúc có từ
thời Trung cổ. Lúc ấy, một số thương nhân thực hiện việc đổi tiền đúc cho các nhà
buôn giữa các lãnh địa. Dần dần có uy tín, những người này giữ hộ tiển bạc của các
nhà buôn, thanh toán hộ và do tích lũy được nhiều tiền nên họ kiêm cả nghề cho vay.
Trong thời gian dài, từ nghề đổi tiền đã phát triển thành nghề ngân hàng. Những
thương nhân đổi tiền trở thành các chủ ngân hàng chuyên lấy tiền tệ làm đối tượng
hoạt động.
3. Quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng:
- Từ cuối thế kỷ 17 trở về trước, các ngân hàng hoạt động độc lập, chưa tạo ra hệ
thống, không ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau. Chức năng hoạt động của các ngân
hàng tương tự nhau, bao gồm: nhận tiền gửi, chiết khấu thương phiếu, cho vay, phát
hành giấy bạc, đổi tiền, chuyển tiền.
- Đầu thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 20, hoạt động ngân hàng đã hính thành hệ thống và
chia làm 2 loại:
+ Ngân hàng trung gian: là ngân hàng không được phép phát hành giấy bạc ngân
hàng mà chỉ được phép giao dịch với công chúng và thực hiện các nghiệp vụ kinh
doanh tiền tệ thuần túy.
+ Ngân hàng phát hành: là ngân hàng được phép phát hành giấy bạc vào lưu thông.
- Từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933: nhà nước tiến hành quốc
hữu hóa và nắm lấy ngân hàng phát hành (được gọi là ngân hàng trung ương). Cho đến
nay, ngân hàng hoạt động theo một thể thống nhất gồm ngân hàng trung ương và các
ngân hàng trung gian.
II. Ngân hàng trung ương:

năm 2003) ghi rõ: “Ngân hàng Nhà nước là cơ quan duy nhất phát hành tiền của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm tiền giấy và tiền kim loại”
Phát hành tiền là tổ chức đua tiền vào lưu thông để phục vụ, đáp ứng nhu cầu chu
chuyển và phát triển của nền kinh tế.
CPD College
Các con đường phát hành tiền của NHTW:
+ Ngân sách nhà nước;
+ Tín dụng;
+ Thị trường mở;
+ Thị trường vàng và ngoại tệ;
Trên cơ sở độc quyền phát hành tiền, NHTW thực hiện việc quản lý và điều tiết lưu
thông tiền tệ qua việc sử dụng một số công cụ như: quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc; thay
đổi lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu; tham gia hoạt động thị trường mở nhằm cung
ứng với khối tiền phù hợp cho nền kinh tế.
b. NHTW là ngân hàng của các ngân hàng trung gian:
- NHTW thực hiện dự trữ bắt buộc đối với ngân hàng trung gian: NHTW bắt các
ngân hàng trung gian phải ký gửi tại NHTW một phần của tổng số tiền gửi của họ
được nhận từ tiền gửi theo một tỷ lệ nhất định. Phần bắt buộc ký gửi đó gọi là dự trữ
bắt buộc, tỷ lệ phần trăm mà NHTW quy định gọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
- NHTW sẽ cấp tín dụng cho ngân hàng trung gian qua nhiều hình thức khác nhau
như chiết khấu, tái chiết khấu, thế chấp, ứng trước Nhưng thông dụng nhất là tái cấp
vốn dưới hình thức chiết khấu các thương phiếu. Khi chấp nhận chiết khấu hay tái
chiết khấu là NHTW đã làm tăng khối tiền tệ. Đây là hình thức phát hành tiền được
xem là lành mạnh do được đảm bảo bằng giấy tờ có giá. Thông qua lãi suất chiết khấu
tác động đến chính sách tiền tệ.
Những quyền lực khác của NHTW đối với ngân hàng trung gian:
+ Quyền cấp giấy phép thành lập
+ Kiểm soát và thanh tra các hoạt động của ngân hàng trung gian
+ Mở tài khoản nhận tiền gửi của các ngân hàng trung gian
+ Tổ chức trung gian thanh toán

khoán có giá, mà chủ yếu là trái phiếu chính phủ nhằm làm thay đổi lượng tiền cung
ứng.
NHTW mua bán chứng khoán trên thị trường sẽ làm thay đổi cơ số tiền tệ khi
NHTW mua chứng khoán , làm tăng cơ số tiền tệ, qua đó làm tăng lượng tiền cung
ứng và ngược lại, khi NHTW bán chứng khoán, thu hẹp cơ số tiền tệ và làm giảm
lượng tiền cung ứng. Thông qua việc mua bán chứng khoán đó NHTW có thể kiểm
soát được lượng tiền trong lưu thông. Thị trường mở được xem là một trong những
ngõ để NHTW phát hành tiền hoặc rút bớt khối lượng tiền tệ lưu thông.
CPD College
 Chính sách chiết khấu và tái chiết khấu:
Chính sách chiết khấu là công cụ của NHTW trong việc thực thi chính sách tiền tệ
bằng cách cho vay tái cấp vốn đối với các ngân hàng thương mại.
Công cụ mà NHTW sử dụng để kiểm soát chính sách này là lãi suất tái chiết khấu.
Khi NHTW nâng lãi suất tái chiết khấu sẽ hạn chế cho vay các ngân hàng thương mại
làm cho khả năng cho vay của các ngân hàng thương mại giảm xuống, lượng tiền cung
ứng giảm. ngược lại, khi NHTW giảm lãi suất tái chiết khấu, khuyển khích các ngân
hàng thương mại vay vốn, khả năng cho vay của các ngân hàng thương mại cho nền
kinh tế tăng lên, dẫn đến lượng tiển cung ứng tăng lên.
NHTW ngoài việc thực hiện chính sách tiền tệ chiết khấu để ảnh hưởng đến cung
ứng tiền tệ mà còn giúp cho các ngân hàng tránh khỏi những cơn hoảng loạn tài chính.
Bên cạnh đó, NHTW còn đóng vai trò là người cho vay cuối cùng đối với các tổ chức
tín dụng và các tác động đến việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tế.
 Dự trữ bắt buộc:
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà NHTW bắt buộc các ngân hàng trung gian phải ký
gởi tại NHTW một phần trong tổng số tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng trung
gian theo tỷ lệ quy định.
Trong quá trình thực hiện chính sách dự trữ bắt buộc, NHTW ấn định mức dự trữ
bắt buộc ở mức thấp, NHTW khuyến khích các ngân hàng trung gian mở rộng cho
vay, tăng khối lượng tiền tệ. Ngược lại, khi NHTW nâng cao mức dự trữ bắt buộc sẽ
hạn chế mức cho vay của các ngân hàng trung gian, giảm thiểu khối tiền tệ.

gởi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán”.
b. Chức năng:
 Trung gian tín dụng:
Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là chủ thể đi vay, vừa
đóng vai trò là chủ thể cho vay.
Đây là chức năng cơ bản và quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. thông qua
chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại góp phần tạo lợi ích cho tất cả
các chủ thể kinh tế tham gia và lợi ích chung của nền kinh tế.
 Trung gian thanh toán:
Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại cung cấp các
công cụ thanh toán tiện ích cho nền kinh tế như thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, thẻ rút
tiền, ngân phiếu, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông
cho xã hội, quá trình thanh toán nhanh chóng, an toàn và tiết kiệm hơn.
 Chức năng tạo tiền:
CPD College
Là chức năng làm tăng thêm phương tiện lưu thông cho nền kinh tế thông qua
nghiệp vụ tín dụng và thanh toán không dùng tiền mặt giữa các ngân hàng.
Quá trình tạo tiền của ngân hàng thương mại được dựa trên cơ sở tiền gửi ban đầu
của xã hội hoặc khoản tiền nhận từ NHTW. Số tiền này sẽ được nhân lên theo cấp số
nhân thông qua cơ chế tạo tiền trong toàn bộ hệ thống ngân hàng.
Khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại chịu tác động của các yếu tố:
- Số tiền gởi ban đầu;
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc;
- Lượng tiền mặt ra khỏi ngân hàng;
- Khă năng cho vay của ngân hàng;
c. Vai trò:
Ngân hàng thương mại cho vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
của quốc gia, được thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:
- Là công cụ quan trọng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất;
- Là công cụ để NHTW thực thi chính sách tiền tệ;

chỉ đảm bảo hoàn vốn, bù đắp chi phí.
Hoạt động của quỹ hỗ trợ phát triển:
- Cho vay đầu tư các dự án, các doanh nghiệp thuộc diện ưu đãi cần khuyến khích
đầu tư như các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng ở các vùng nông thôn, miền núi; các
doanh nghiệp sản xuất hàng hóa xuất khẩu.
- Hỗ trợ sau đầu tư cho các dự án, doanh nghiệp cần ưu đãi.
- Bảo lãnh tín dụng đầu tư cho các dự án, doanh nghiệp cần ưu đãi đầu tư.
B. THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH:
I. Vai trò của thị trường tài chính trong nền kinh tế:
1. Khái niệm thị trường tài chính:
Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán quyền sử dụng
các nguồn vốn ngắn hạn hoặc dài hạn thông qua những phương thức giao dịch và
những công cụ tài chính nhất định.
2. Đối tượng công cụ của thị trường tài chính:
 Đối tượng:
Đối tượng mua bán trên thị trường tài chính là quyền sử dụng các nguồn tài chính
(nguồn vốn). Giá cả của quyền sử dụng nguồn tài chính là số lợi tức mà người mua
quyền sử dụng nguồn tài chính trả cho người bán quyền sử dụng nguồn tài chính.
 Công cụ:
CPD College
Công cụ chủ yếu được sử dụng trên thị trường tài chính là các loại chứng khoán có
giá.
Chứng khoán là các loại giấy tờ có giá trị như tiền, chứng nhận quyền sở hữu vốn,
quyền hưởng những khoản lợi tức nhất định của người sở hữu chứng khoán với người
phát hành.
Chứng khoán có nhiều loại khác nhau tùy theo tiêu thức phân loại:
 Dựa vào kỳ hạn huy động nguồn tài chính:
- Chứng khoán ngắn hạn
- Chứng khoán trung và dài hạn
 Dựa vào chủ thể phát hành:

- Tín phiếu kho bạc: là loại công cụ thường do chính phủ phát hành để vay ngắn
hạn của công chúng. Loại này thường có lãi suất thấp nhưng độ an toàn cao.
- Thương phiếu: là chứng chỉ ghi nhận sự cam kết thanh toán vô điều kiện một số
tiền nhất định trong một thời hạn nhất định. Thương phiếu bao gồm: hối phiếu và lệnh
phiếu.
- Các hợp đồng mua lại: là các hợp đồng mà người kinh doanh cam kết sẽ mua lại
với mức giá cao vào thời gian sau, những chứng khoán mà người đó đã bán cho người
mua. Thời hạn của hợp đồng mua lại thường rất ngắn.
c. Các chủ thể tham gia trên thị trường tiền tệ:
- Ngân hàng trung ương
- Các ngân hàng thương mại
- Kho bac nhà nước
- Người đầu tư
- Người môi giới và người kinh doanh
d. Các bộ phận chủ yếu của thị trường tiền tệ:
- Thị trường liên ngân hàng: đây là thị trường giành cho các ngân hàng, các tổ chức
tín dụng trao đổi các khả năng thanh toán cho nhau.
Người chủ yếu tham gia chủ yếu trên thị trường này là NHTW và các ngân hàng
thương mại, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
- Thị trường chứng khoán ngắn hạn: đây là thị trường mua bán các loại chứng
khoán ngắn hạn.
Các loại chứng khoán ngắn hạn được sử dụng phổ biến trên thị trường tiền tệ là
chứng chỉ tiền gởi của các ngân hàng, tín phiếu ngân hàng, tín phiếu kho bạc.
CPD College
Trên thị trường chứng khoán ngắn hạn các chủ thể cần nguồn tài chính ngắn hạn sẽ
phát hành các công cụ nợ với thời hạn sử dụng ngắn để huy động các nguồn tài chính
của các chủ thể khác để bù đắp sự thiếu hụt tạm thời của mình.
2. Thị trường vốn:
a. Khái niệm:
Thị trường vốn là một bộ phận của thị trường tài chính, là nơi diễn ra các hoạt động

- Thị trường chứng khoán trung và dài hạn
3. Thị trường chứng khoán:
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán các loại
chứng khoán(bao gồm cả chứng khoán ngắn hạn và dài hạn). Đây là một bộ phận của
thị trường tài chính được chuyên môn hóa hoạt động mua bán các loại công cụ của thị
trường, do đó liên quan đến cả thị trường tiền tệ và thị trường vốn.
Căn cứ vào tính chất của các loại chứng khoán, có 2 loại:
- Thị trường sơ cấp (còn gọi là thị trường phát hành): là nơi diễn ra hoạt động mua
bán các loại chứng khoán mới được phát hành lần đầu. Đây là thị trường góp phần làm
tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế.
- Thị trường thứ cấp (còn gọi là thị trường giao dịch): là nơi diễn ra hoạt động mua
đi bán lại các loại chứng khoán đã qua phát hành lần đầu. Thị trường này chỉ liên quan
đến việc giải quyết quyền lợi của những người tham gia mua bán và làm thay đổi
quyền sở hữu chứng khoán chứ không làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế.
CPD College

- Thúc đẩy nhanh sự vận động của vật tư, tiền vốn trong nền kinh tế, tăng tích
luỹ cho quá trình tái sản xuất.
- Tiết kiệm chi phí lưu thông xã hội.
- Tạo khả năng tập trung nguồn vốn để đầu tư cho phát triển kinh tế.
- Tạo điều kiện để kiểm soát các hoạt động kinh tế.
2. Các hình thức TTKDTM
2.1 Thanh toán bằng Séc
2.1.1 Khái niệm
Thanh toán bằng Séc là một hình thức thanh toán trong đó việc trả tiền được
thực hiện trên cơ sở của chứng từ thanh toán có tên là Séc.
Séc là lệnh trả tiền của chủ tài khoản được lập trên mẫu in sẵn, yêu cầu ngân
hàng phục vụ mình trả cho người thụ hưởng một số tiền nhất định được ghi trên Séc.
2.1.2 Các loại Séc thông dụng
Trong TTKDTM ở Việt Nam đang được sử dụng một số loại Séc như: Séc
chuyển khoản; Séc bảo chi; Séc chuyển tiền; và Séc cá nhân.
a. Séc chuyển khoản
Séc chuyển khoản là giấy uỷ nhiệm lập trên mẫu in sẵn đặc biệt của ngân hàng
do chủ tài khoản phát hành giao trực tiếp cho người được hưởng, yêu cầu ngân hàng
trích một số tiền nhất định trên tài khoản tiền gửi của mình sang tài khoản của người
được hưởng có tên ghi trên Séc.
Khi phát hành Séc thanh toán chuyển khoản, chủ tài khoản phải gạch hai đường
song song chéo góc hoặc viết hay đóng dấu từ “chuyển khoản” ở góc phía trên, bên
trái mặt trước tờ Séc trước khi giao cho người thụ hưởng.
Quy trình thanh toán Séc chuyển khoản:
* Trường hợp hai chủ thể thanh toán mở tài khoản tại cùng một ngân hàng:
(1)

(3a)
(2) (3b)



(3b)
(5a) (2) (1) (4) (5b)
Người trả tiền Người nhận tiền
N.H bên trả tiền N.H bên nhận
Người trả tiền Người nhận tiền
Ngân hàng
CPD College
(1) Người trả tiền phát hành Séc mang đến ngân hàng xin bảo chi.
(2) Ngân hàng làm thủ tục bảo chi tờ Séc sau đó trả lại cho người phát hành.
(3a) Người nhận tiền giao hàng hoá, dịch vụ cho người trả tiền.
(3b) Người trả tiền trao Séc bảo chi cho người nhận tiền.
(4) Người nhận tiền gửi Séc bảo chi đến ngân hàng nhờ thanh toán.
(5a) Ngân hàng ghi Nợ và gửi giấy báo Nợ cho người trả tiền.
(5b) Ngân hàng ghi Có và gửi giấy báo Có cho người nhận tiền.
* Trường hợp hai chủ thể mở tài khoản tại hai ngân hàng khác nhau:
(3a)

(3b)
(6) (2) (1) (5) (4) (8)

(7)
(1) Người trả tiền phát hành Séc mang đến ngân hàng xin bảo chi.
(2) NH bên trả tiền làm thủ tục bảo chi tờ Séc và gửi lại cho người trả tiền.
(3a) Người nhận tiền giao hàng hoá, dịch vụ cho người trả tiền.
(3b) Người trả tiền trao Séc bảo chi cho người nhận tiền.
(4) Người nhận tiền gửi Séc bảo chi đến NH bên nhận tiền nhờ thanh toán.
(5) NH bên nhận tiền gửi Séc bảo chi cho NH bên trả tiền nhờ thu hộ.
(6) Ngân hàng bên trả tiền ghi Nợ và gửi giấy báo Nợ cho người trả tiền.
(7) Ngân hàng bên trả tiền chuyển tiền cho ngân hàng bên nhận tiền.

2.2.1 Khái niệm
Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẳn của
ngân hàng yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích một số tiền trên tài khoản tiền gửi
của mình sang tài khoản của người thụ hưởng.
2.2.2 Quy trình thanh toán

HĐKT
(1)
(2) (3a) (4) (3b)
Chủ thể chuyển tiền Người đại diện
N.H chuyển tiền
N.H nhận chuyển tiền
Người trả tiền
N.H bên trả tiền N.H bên nhận tiền
Người nhận tiền
CPD College

(1) Người nhận tiền căn cứ HĐKT giao hàng hoá - dịch vụ cho người trả tiền.
(2) Người trả tiền lập uỷ nhiệm chi gửi NH bên trả tiền đề nghị thanh toán.
(3a) Ngân hàng bên trả tiền ghi Nợ và gửi giấy báo Nợ cho người trả tiền.
(3b) Ngân hàng bên trả tiền chuyển tiền cho ngân hàng bên nhận tiền.
(4) Ngân hàng bên nhận tiền ghi Có và gửi giấy báo Có cho người nhận tiền.
2.3 Thanh toán bằng ủy nhiệm thu
2.3.1 Khái niệm
Uỷ nhiệm thu là giấy uỷ quyền đòi tiền do chủ tài khoản đơn vị lập ra và gửi
đến ngân hàng phục vụ mình nhờ thu hộ một số tiền nhất định ở đơn vị mua trên cơ sở
các chứng từ hợp lệ.


(6b)
(1) Người trả tiền làm thủ tục gửi đến NH bên trả tiền xin mở thư tín dụng.
(2) Ngân hàng bên trả tiền trích tiền từ tài khoản của người trả tiền chuyển sang
lưu ký vào tài khoản tiền gửi thanh toán bằng thư tín dụng và gửi ngay thư tín dụng
đến ngân hàng bên nhận tiền.
(3) NH bên nhận tiền thông báo cho người nhận tiền biết đã mở thư tín dụng.
(4) Người nhận tiền xuất giao hàng hoá - dịch vụ cho người trả tiền.
(5) Người nhận tiền gửi chứng từ đến ngân hàng bên nhận tiền nhờ thanh toán.
(6a) NH bên nhận tiền ghi Có và gửi giấy báo Có cho người nhận tiền.
(6b) NH bên nhận tiền gửi chứng từ đến NH bên trả tiền để được thanh toán.
(7) NH bên trả tiền ghi Nợ và gửi giấy báo Nợ cho người trả tiền.
2.5 Thanh toán bằng thẻ ngân hàng
2.5.1 Khái niệm
Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành và bán cho khách
hàng sử dụng để trả tiền hàng hoá - dịch vụ, các khoản thanh toán khác hoặc rút tiền
mặt tại các máy rút tiền tự động.
Các loại thẻ thông dụng:
(a) Thẻ ghi nợ là loại thẻ gắn liền với tài khoản tiền gửi thanh toán hay tài
khoản Séc của khách hàng. Khách hàng sử dụng loại thẻ này thì giá trị giao dịch được
khấu trừ ngay vào tài khoản của khách hàng đồng thời ghi Có ngay vào tài khoản của
người thụ hưởng.
Người trả tiền
N.H bên trả tiền N.H bên nhận tiền
Người nhận tiền
CPD College
(b) Thẻ tín dụng là loại thẻ được sử dụng phổ biến, áp dụng cho những khách
hàng vay vốn để mua thẻ. Mức tiền cho vay được coi như hạn mức tín dụng và được
ghi vào bộ nhớ của thẻ. Khách hàng chỉ được quyền sử dụng tiền trong phạm vi hạn
mức của thẻ.

th


N.H phát
hành th


N.H đại lý thanh
toán t
h


Cơ sở chấp
CPD College
Chương 7: LẠM PHÁT
I. Quan điểm về lạm phát:
1. Các quan điểm về lạm phát:
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát thuộc các nhà kinh tế khác nhau:
- Theo quan điểm của Mac:” Lạm phát là sự phát hành tiền mặt quá mức cần thiết”
- Theo quan điểm của Lenin: “ Lạm phát là sự thừa ứ tiền giấy trong lưu thông”
- Theo Friedman: : Lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng về tiền tệ”
- Theo Samuelson:” Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng lên -
giá bánh mỳ, xăng dầy, xe ô tô tăng, tiền lương, giá đất, tiền thuê tư liệu sản xuất tăng”
- Theo Dornbusch và Fischer:” Lạm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh
tế tăng lên trong một thời gian nhất định”
Qua đó, có thể hiểu: Lạm phát là hiện tượng trong lưu thông thừa tiền dẫn đến giá
cả tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế tăng lên, liên tục không ngừng
theo thời gian.
Lạm phát là một phạm trù kinh tế khách quan, là vấn đề của mọi thời đại, của mọi
nền kinh tế. Chừng nào còn nền kinh tế tiền tệ thì còn lạm phát, người ta chỉ có thể

Chỉ số giá tiêu dùng viết tắt là CPI (Consumer Price Index)
∑ P
i
t
x
qi
0
CPI
t
= x 100
∑ P
i
0
x
qi
0
CPI : chỉ số giá tiêu dùng của năm t
P
i
t
, P
i
0
: giá cả của sản phẩm i trong năm t và năm 0
qi
0
: sản lượng của sản phẩm i trong năm 0
(Năm 0 là năm được chọn làm gốc)
III. Tác động của lạm phát:
1. tác động tiêu cực:

hóa cũng lên cơn sốt cao hơn. Cuối cùng, những người dân nghèo vốn đã nghèo càng
trở nên khốn khó hơn. Họ thậm chí không mua nổi những hàng hóa tiêu dùng thiết
yếu. Trong khi đó, những kẻ đầu cơ đã vơ vét sạch hàng hóa và trở nên giàu có hơn.
Tình trạng lạm phát như vậy có thể gây những rối loạn trong nền kinh tế và tạo ra
khoảng cách lớn về thu nhập, về mức sống giữa người giàu và người nghèo.
d. Lạm phát và nợ quốc gia:
Lạm phát cao làm cho Chính phủ được lợi do thuế thu nhập đánh vào người dân,
những khoản nợ nước ngoài sẽ trở nền trầm trọng hơn. Chính phủ được lợi trong nước
nhưng sẽ bị thiệt với nợ nước ngoài. Lý do là vì: lạm phát đã làm tỷ giá tăng và đồng
CPD College
tiền trong nước trở nên mất giá nhanh hơn so với đồng tiền nước ngoài tính trên các
khoản nợ.
2. Tác động tích cực:
Lạm phát không phải bao giờ cũng gây nên những tác hại cho nền kinh tế. Khi tốc
độ lạm phát vừa phải đó là từ 2-5% ở các nước phát triển và dưới 10% ở các nước
đang phát triển sẽ mang lại một số lợi ích cho nền kinh tế như sau:
+ Kích thích tiêu dùng, vay nợ, đầu tư giảm bớt thất nghiệp trong xã hội.
+ Cho phép chính phủ có thêm khả năng lựa chọn các công cụ kích thích đầu tư
vào những lĩnh vực kém ưu tiên thông qua mở rộng tín dụng , giúp phân phối lại thu
nhập và các nguồn lực trong xã hội theo các định hướng mục tiêu và trong khoản thời
gian nhất định có chọn lọc, Tuy nhiên, đây là công việc khó và đầy mạo hiểm nếu
không chủ động sẽ gây hậu quả xấu.
Tóm lại, lạm phát là căn bệnh mãn tính của nền kinh tế thị trường, nó vừa có tác
hại lẫn lợi ích. Khi nền kinh tế có thể duy trì, kiềm chế và điều tiết được lạm phát ở tốc
độ vừa phải thì nó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
IV. Biện pháp khắc phục lạm phát:
Khi lạm phát ở mức cao và kéo dài đã gây ra những hậu quả lớn trong đời sống xã
hội và tăng trưởng kinh tế, Chính phủ các quốc gia cần có những biện pháp để phòng
ngừa và khắc phục lạm phát. Bao gồm:
1. Những biện pháp tình thế:

được áp dụng:
+ Thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa và mở rộng lưu thông hàng hóa.
+ Kiện toàn bộ máy hành chính, cắt giảm biên chế quản lý hành chính. Thực hiện
tốt biện pháp này sẽ góp phần to lớn vào việc giảm chi tiêu thường xuyên của NSNN
trên cơ sở đó giảm bội chi NSNN.
+ Tăng cường công tác quản lý điều hành NSNN một cách hợp lý, chống thất thu,
đặc biệt là thất thu về thuế, nâng cao hiệu quả của các khoản chi NSNN. CPD College

Trích đoạn Các biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái: Các tổ chức tài chính quốc tế:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status