1
Công ty chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Nghiên cứu đánh giá
Hệ thống Ngân hàng và các
Ngân hàng Thương mại Cổ phần tại Việt nam
Banking Sector and Joint Stock Commercial Banks in VietNam
Hà nội, 7-2004
2
2.6.5 Ngân hàng nước ngoài_________________________________________________________31
2.7 Mối quan hệ của ngành với nền kinh tế ____________________________________ 32
3 Đánh giá hoạt động các ngân hàng thương mại cổ phần _____________________ 32
3.1 Các loại hình dịch vụ ___________________________________________________ 32
3.2 Hoạt động huy động vốn_________________________________________________ 33
3.2.1 Vốn điều lệ và hoạt động phát hành chứng khoán____________________________________35
3.2.2 Hoạt động huy động tiền gửi ____________________________________________________36
3.3 Hoạt động tín dụng và chất lượng tín dụng _________________________________ 37
3.3.1 Hoạt động tín dụng ___________________________________________________________37
3.3.2 Chất lượng tín dụng___________________________________________________________39
3.4 Dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác ____________________________________ 40
3.5 Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP ______________________________ 40
4 Các chỉ tiêu đánh giá ngân hàng ________________________________________ 41
4.1 Capitalisation__________________________________________________________ 41
3
4.2 Capital Adequacy ______________________________________________________ 43
4.3 Liquidity______________________________________________________________ 45
4.4 Asset quality___________________________________________________________ 45
4.5 Profitability ___________________________________________________________ 46
4.6 Efficiency _____________________________________________________________ 47 Bảng
Bảng 1-1: Tăng trưởng GDP của một số quốc gia và vùng lãnh thổ 4
Bảng 1-2:Kim ngạch xuất nhập khẩu và tỷ lệ nhập siêu 8
Bảng 1-3:Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu ( Triệu USD ) 9
Bảng 1-4:Các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam 10
Bảng 2-1: Tình hình doanh nghiệp và đóng góp vào GDP 14
Bảng 2-2: Tín dụng đối với các doanh nghiệp Nhà nước 1999-2002 16
Biểu 4-1: Vốn điều lệ của các Ngân hàng 41
Biểu 4-2: Tổng tài sản của các ngân hàng 42
Biểu 4-3: Tỷ lê Equity/Asset 42
Biểu 4-4: Hệ số CAR 44
Biểu 4-5: Nợ khó đòi 46
Biểu 4-6: Khả năng sinh lời 47
4
1 Môi trường kinh tế-xã hội
1.1 Sự tăng trưởng của nền kinh tế
Năm 2003 là một năm nền kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng cao, mặc dù trong những
tháng đầu năm 2003, chịu ảnh hưởng của những sụ kiện như dịch bệnh SARS tại khu vực và
chiến tranh Iraq, nhưng tăng trưởng GDP vẫn đạt mức cao trong vòng ba năm trở lại đây,
tăng 7.24% so với năm 2002.
Biểu 1-1:Tăng trưởng GDP Việt Nam giai đoạn 1999-2003
GDP ( giá so sánh 1994)
0.00%
1.00%
2.00%
3.00%
4.00%
5.00%
6.00%
7.00%
8.00%
1999 2000 2001 2002 2003
Nghìn tỷ đồng
% tăng trưởng
0
Thailand 1.9 5.2 5.8 6.0
China 7.3 8.0 7.8 7.4
Hàn Quốc 3 6.3 3.0 5.1
3 nước NIEs khác -1.3 2.9 2.2 4.3
Nhật Bản 0.4 0.2 1.9 1.2
Nguồn: World Bank (oct- 2003)
5
Năm 2003 xuất khẩu của Việt Nam tăng khá cao hơn mức tăng 10% của năm 2002, nguyên
nhân chính dẫn đến sự thay đổi này là do: nhu cầu thị trường thế giới tăng nên giá một số mặt
hàng tăng, đáng kể là giá dầu, cà phê và cao su. Hơn nữa việc thực hiện Hiệp định thương
mại Việt - Mỹ giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam tăng xuất khẩu vào thị trường này. Sản
xuất trong nước tăng cao và ổn định tạo tiền đề cho tăng lượng hàng xuất khẩu. Nhà nước đã
tập trung chỉ đạo và điều hành hoạt động xuất nhập khẩu một cách có hiệu quả ngay từ những
tháng đầu năm.
Sang năm 2004, nhiều sự kiện, diễn biến phức tạp xảy ra ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh
tế: dịch cúm gia cầm ở nhiều nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam …
Riêng đối với Việt Nam, hạn hán và rét đậm kéo dài ở các tỉnh phía Bắc, giá cả trong nước
và giá nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu cho sản xuất phục vụ các nhu cầu trong nước tăng
cao ảnh hưởng đến đời sống sản xuất và dân cư. Tuy vậy, Chính phủ đã có những giải pháp
cần thiết để đối phó với những khó khăn trên.
Như vậy, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong hoạt động xuất khẩu cũng như hoạt động kinh tế
do nhiều yếu tố bên ngoài và bên trong nền kinh tế, Việt Nam vẫn đạt được những mức tăng
trưởng đáng kể trong thời gian qua. Dự đoán Việt Nam sẽ giữ vững được tốc độ tăng trưởng
kinh tế bằng các năm qua, chất lượng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế ngày càng được
nâng cao.
1.1.1 Sự tăng trưởng của các khối ngành kinh tế
Trong 7,24% tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước của nước ta năm 2003 khu vực công
nghiệp và xây dựng đóng góp 3,86%; khu vực dịch vụ đóng góp 2,68%; khu vực nông, lâm
nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,70%. Nếu quan sát trong 4 năm liền mức đóng góp vào tăng
của năm 2002.
Giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng trong những năm qua đạt mức tăng trưởng cao,
đóng góp vào sự tăng trưởng GDP của cả nước.
1.1.2 Nhu cầu tiêu dùng trong nước
Nhu cầu trong nước gia tăng là động lực cho sự tăng trưởng GDP, tốc độ tăng trưởng tiêu
dùng trong nước tăng dần lên kể từ năm 1999. Năm 2003, co ảnh hưởng dịch SARS từ những
tháng cuối qúi I và đầu qúi II nên lượng khách du lịch giảm mạnh, nhu cầu tiêu dùng trong
nước cũng giảm. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội năm 2003 đạt 310,5
nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với năm 2002.
Biểu 1-3:Tốc độ tăng trưởng bán lẻ, giai đoạn
Tốc độ tăng trưởng bán lẻ
0
2
4
6
8
10
12
14
16
1999 2000 2001 2002 2003
Tốc độ tăng
trưởng bán lẻ
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Chi tiêu đối với các sản phẩm lâu bền tăng nhanh, tăng trưởng doanh số đối với các mặt
hàng như tiêu dùng như xe hơi, tivi, vật liệu xây dựng thể hiện nhu cầu tiêu dùng cá nhân
trong nước ngày một tăng cao. Cầu trong nước tăng là yếu tố cơ bản quyết định sự phát triển
sản xuất trong nước.
1.1.3 Chu kỳ phát triển nền kinh tế
Chỉ số CPI của 4 tháng đầu năm 2004 đã tăng 5,4% so với tháng 12 năm 2003 và tăng 6% so
với cùng kỳ năm trước. Tăng cao nhất là giá lương thực, thực phẩm tới 9,5% trong đó giá
lương thực tăng 8,4%, giá thực phẩm tăng 10,6%, dược phẩm y tế tăng 5,6%.
Hiện tại, Nhà nước đã có nhiều giải pháp bình ổn giá một số nguyên liệu đầu vào chiến lược
như thép, phân bón, xăng dầu, tuy nhiên giá của những loại nguyên liệu này vẫn chưa giảm
nhiều. Đây là sức ép tăng đầu vào trên diện rộng, làm chi phí và giá thành tăng cao, tác động
đến đầu ra. Chẳng hạn, tăng giá xăng dầu khoảng 7% từ 22-02-2004 đã và sẽ tác động dây
chuyền đến chi phí đầu vào của hầu hết các doanh nghiệp trên cả nước, buộc họ phải giảm
sản xuất, tăng giá bán sản phẩm, dịch vụ.
Theo nhiều nhà chuyên gia, sức ép tăng giá những tháng còn lại của năm 2004 vẫn còn tiềm
ẩn. Dịch cúm gia cầm vừa diễn ra trên phạm vi toàn quốc, làm mất đi 20-25% nguồn cung
ứng thực phẩm trên thị trường. Nay dịch cúm gia cầm tuy đã khắc phục, nhưng việc khôi
phục lại đàn gia cầm còn tốn rất nhiều thời gian, giá thực phẩm thay thế sẽ còn ở mức cao.
Một số nông sản có liên quan đến xuất khẩu như lúa gạo đang có nguy cơ lên cơn sốt giá
trong khi nguồn xuất khẩu khó khăn. Hiện giá lúa tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long xấp
xỉ 2.000 - 2.400 đồng/kg.
Còn nhiều yếu tố có thể làm giá tăng từ nay đến cuối năm. Từ 01-04-2004, Nhà nước tăng
tiền lương và các khoản trợ cấp cho các đối tượng đã nghỉ hưu và chính sách xã hội. Tháng
10-2004 sẽ điều chỉnh tăng lương đối với khu vực hành chính sự nghiệp, tạo tâm lý lương
8
tăng - giá tăng. Ngoài ra, giá cả tăng đối với một số mặt hàng phụ thuộc nhập khẩu còn do tỷ
giá USD/VNĐ có xu hướng tăng nhẹ. Đồng USD đang dần hồi phục theo đà hồi phục của
kinh tế Mỹ trong khi USD chiếm 80% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của nước ta.
1.1.5 Tỷ giá hối đoái
Đồng Việt Nam liên tục giảm giá so với đồng đô la Mỹ trong mấy năm qua, năm 2000 đồng
VND giảm 3.5% so với USD, năm 2001 giảm 3.9%. Nguyên nhân sự giảm giá của đồng Việt
Nam do nhu cầu nhập khẩu trong nước vẫn tăng, đồng thời nhu cầu nhập khẩu vàng trong
nước cũng tăng, từ 60 tấn năm 2000 lên 73 tấn năm 2001. Bên cạnh đó, giá vàng trên thế giới
liên tục tăng, do vậy nhu cầu về đồng đô la cho thanh toán nhập khẩu tăng. Do đó đồng Việt
đang dần trở thành một đồng tiền thanh toán quốc tế, trong khi đồng USD đang giảm giá so
với đồng Euro nên khả năng tăng giá mạnh của USD so với VND sẽ không mạnh.
Việc tỷ giá giữa đồng USD và VND tăng mạnh có thể đẩy giá thành sản xuất do sản phẩm
nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu là các yếu tố đầu vào sản xuất như xăng dầu, phân bón, sắt
thép, máy móc thiết bị, điều này sẽ làm chí phí của nhiều ngành sản xuất trong nước tăng. Vì
vậy, tỷ giá giữa USD và VND chỉ có thể điều chỉnh tăng dần trong thời gian tới.
Hiện nay, đồng Euro cũng trở thành một đồng tiền thanh toán chính trong quan hệ thương
mại quốc tế. Trong hai năm qua, đồng Euro đã tăng 24% so với đồng đô la Mỹ, tỷ giá giữa
Euro và VND liên tục tăng, hiện 1 Euro = 19.026 VND. Tỷ giá của đồng Euro so với VND
tăng sẽ đẩy giá nhập khẩu đối với các mặt hàng từ khu vực châu Âu tăng, đây là áp lực làm
đồng Việt nam mất giá và lạm phát trong nước tăng cao.
1.1.6 Cán cân xuất nhập khẩu
Bảng 1-2:Kim ngạch xuất nhập khẩu và tỷ lệ nhập siêu
9
Năm Xuất khẩu (triệu
USD)
Tốc độ tăng (%) Nhập khẩu
(triệu USD)
Tốc độ tăng (%) Nhập siêu (triệu
USD)
Tỷ lệ nhập siêu
(%)
1998 9.360,3 1,9 11.499,6 -0,8 2.139,3 22,9
1999 11.541,4 23,3 11.742,1 2,1 200,7 1,7
2000 14.482,7 25,5 15.635,5 33,2 1.153,8 8,0
2001 15.027,0 3,8 16.162,0 3,4 1.135,0 7,6
2002* 16.530,0 10,0 19.300,0 19,4 2.770,0 16,8
2003* 19.880 19,0 24.995,0 26,7 5.115,0 25,73
2004** 7.390 16,1 8.675,0 8,2 1.285 17,39
27,2
Điều 52
48,1
-5,3
Cao su 263
383,0
43,1
Cà phê 317
473
46,7
Chè 82,7
59,5
-27,9
Gạo 726
719
19,2
Dệt may 2.710
3.630
31,9
Giày dép 1.828
2.225
19,2
Điện tủ,máy tính, linh kiện 505
686
39,4
Nguồn: Intellasia – www.Intellasia.com
Trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam, chủ yếu là các sản phẩm như dầu thô, dệt may,
da giày, thuỷ sản. Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là các mặt hàng sơ chế, do
đó giá trị sản phẩm xuất khẩu không cao.
10
Các mặt hàng xuất khẩu như dệt may, giày dép, thuỷ sản là những mặt hàng tận dụng nhiều
nhân công, công nghệ vừa phải, đây là những mặt hàng có lợi thế xuất khẩu của Việt Nam.
Trong những năm qua, các mặt hàng dệt may, da giày và thuỷ sản tăng cả về tỷ trọng và giá
Tổng nhập khẩu 19.300
24.995
19,0
Doanh nghiệp trong nước 12.716
16.270
24,9
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 6.584
8.725
30,1
Ô tô 576
812
30,3
Máy móc và linh kiện 3.700
5.350
41,1
Nhựa 615
771
25,1
11
Cotton 93
103
6,0
Sợi nylon 312
295
-6,2
Nguyên, phụ liệu ngành dệt may 1.781
2.039
19,2
Xe máy 356
302
trên thế giới. Những cố gắng này vẫn chưa thực sự thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài.
Biểu 1-6: Vốn đầu tư phát triển phân theo thành phần kinh tế
12
Vốn đầu tư phát triển phân theo ngành kinh tế
(nghìn tỷ đồng)
0.00
50.00
100.00
150.00
200.00
250.00
2000 2001 2002 2003
Tổng số
Khu vực kinh tế Nhà
nước
Khu vực ngoài quốc
doanh
Khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2003
Ước tính thực hiện vốn đầu tư và phát triển năm 2003 đạt 217,6 tỷ đồng, bằng 100,9% kế
hoạch năm và tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng số vốn đầu tư và phát triển,
vốn trong nước chiếm tới 83,2% (vốn Nhà nước chiếm 56,5% và vốn ngoài quốc doanh
chiếm 26,7%), còn lại vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài chỉ chiếm 16,8% (năm 2002 chiếm
nước ngoài, tạo nên yếu tố quan trọng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Tăng tỷ lệ nắm
giữ cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài lên trên 30% đối với các công ty cổ phần hoạt
động trong những lĩnh vực ngành nghề mà nhà đầu tư nước ngoài có thể tăng tỷ lệ nắm
giữ. Việc tăng tỷ lệ sỡ hữu của nhà đầu tư nước ngoài sẽ làm tăng luồng vốn đầu tư nước
ngoài thông qua kênh đầu tư gián tiếp, bên cạnh kênh đầu tư FDI, tạo điều kiện thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế thông qua hoạt động đầu tư nước ngoài
Đánh giá chung:
Trong năm qua, tuy điều kiện trong nước và thế giới có nhiều khó khăn, nhưng với sự chỉ
đạo kiên quyết và sát thực tế của Chính phủ kinh tế nước ta đã đạt được tỷ lệ tăng trưởng là
7%. Kết quả này chủ yếu là do sự phát triển tích cực của công nghiệp, xuất khẩu và một số
lĩnh vực dịch vụ. Hoạt động kinh tế đối ngoại tiếp tục tăng trưởng, cung với việc thực hiện
hội nhập AFTA, Hiệp định thương mại Việt Mỹ thực thi được hai năm, Việt Nam đang xúc
tiến để tham gia hội nhập WTO. Kim ngach xuất nhập khẩu liên tục tăng trong các năm qua,
quí I năm 2004 xuất khẩu đạt 5,4 tỷ USD tăng 15,1 % so với cùng kỳ năm 2002, nhập khẩu
đạt khoảng 6,1 tỷ USD, tăng 11,2 % so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là những tín hiệu đáng
mừng thể hiện nền kinh tế Việt Nam vẫn trên đà tăng trưởng. Tuy nhiên, trong thời gian tới,
diễn biến tình hình kinh tế chính trị thế giới còn nhiều phức tạp, có thể ảnh hưởng trực tiếp
và gián tiếp đến sự tăng trưởng kinh tế trong nước.
2 Tổng quan ngành ngân hàng
2.1 Định nghĩa về các sản phẩm của ngành
Trong vai trò đặc biệt là kênh dẫn vốn của nền kinh tế, sản phẩm dịch vụ mà ngành ngân
hàng cung cấp mang tính đặc trưng riêng bịêt của ngành. Các sản phẩm ngành ngân hàng
cung cấp bao gồm;
2.1.1 Các sản phẩm dịch vụ mà ngành cung cấp:
- Các dịch vụ tiết kiệm (các loại tiết kiệm ngắn hạn và dài hạn, chứng chỉ tiền gửi, các
loại hình tiết kiệm, bảo hiểm nhân thọ…)
- Các dịch vụ cho vay (vay ngắn hạn, dài hạn, thế chấp, vượt hạn mức, bảo lãnh…)
hệ thống ngân hàng.
2.2.1.1 Số lượng doanh nghiệp trên cả nước
Số lượngdoanh nghiệp thưc tế đang hoạt động trong các ngành kinh tế tính đến thời điểm
31/12/2002 là 62908 DN , với tốc độ tăng trưởng bình quân là 22%/năm ( giai đoạn 2000-
2002). Trong đó
Doanh nghiệp NN có 5364 DN giảm bình quân 3.5% /năm.
Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh có 55236 DN, tăng bình quân 25.6%/năm.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 2308 DN tăng bình quân 22.7% năm.
Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật đầu tư trực tiếp ngoài và đặc biệt là Luật Doanh nghiệp đi
vao cuộc sống làm cho hoạt động trong khu vực doanh nghiệp có nhiều thay đổi, môi trường
thông thoáng hơn và nhiều doanh nghiệp mới trong các ngành công nghiệp, dịch vụ, thương
mại đã hình thành và đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng GDP.
Tình hình doanh nghiệp và đóng góp vào GDP
Bảng 2-1: Tình hình doanh nghiệp và đóng góp vào GDP
% Đóng góp vào
GDP năm 2001
Số doanh nghiệp tính
đến 31/12/2002
Thay đổi về số DN
/năm
Tổng doanh nghiệp 45.3 62908 -3.5%
DNNN 30.4 5364 25.6%
DN Ngoài quốc doanh 8.6 55236 22.7%
15
DN có vốn FDI 6.3 2308
Nguồn: Thực trạng doanh nghiệp Việt Nam 2000-2003, Tổng cục thống kê
Tính đến cuối năm 2002 trên cả nước có 5364 DNNN, số DNNN giảm dần 3.5%/năm. Số
Nhà nước quyết tâm đẩy mạnh cổ phần hoá, cải cách khu vực DNNN, CPH các Tổng công ty
Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN. Đối với các doanh nghiệp làm
ăn thua lỗ, không hoàn thành nhiệm vụ được giao Chính phủ kiên quyết thực hiện các biện
pháp sắp xếp lại như sáp nhập, giải thể hoặc phá sản. Việc đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá,
sắp xếp doanh nghịêp nhà nước, giảm bớt nguồn vốn tín dụng cho các DNNN sẽ góp phần
tăng chất lượng tín dụng, giảm nợ xấu và các khoản vay khó đòi của các NHTMQD đối với
các doanh nghiệp nhà nước.
Tín dụng đối với các DNNN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tín dụng của nền kinh tế, tỷ trọng
cho vay đối với các DNNN đang giảm dần khi các DNNN không còn được vay tín dụng một
16
cách rộng rãi như xưa và các khoản tín dụng đã được phân bổ cho khu vực tư nhân và các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Bảng 2-2: Tín dụng đối với các doanh nghiệp Nhà nước 1999-2002
Tín dụng đối với các DNNN
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
1999 2000 2001 2002
1000 tỷ đồng
các ngân hàng, tuy nhiên các doanh nghiệp FDI thường có vốn đầu tư từ nước ngoài nên
không có nhu cầu lớn về vốn.
2.2.1.2 Hiệu quả hệ thống doanh nghiệp
Mặc dù có sự bùng nổ về số lượng doanh nghiệp, và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp đã từng bước được cải thiện, nhưng nhìn chung hiệu quả hoạt động
SXKD của các doanh nghiệp còn thấp.
Biểu 2-2: Hiệu quả các doanh nghiệp
Loại hình doanh nghiệp Tỷ suất lợi nhuận trên
vốn
Tỷ suất lợi nhuận trên
doanh thu
Doanh nghiệp Nhà nước 2.9% 4.2%
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 2.3% 1.5%
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
*
10% 13.6%
*:DN FDI ( tỷ suất ROE là 1,8%, doanh nghiệp liên doanh 17,2% chủ yếu do lợi nhuận doanh nghiệp khai thác dầu khí)
Nhìn chung, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam quá thấp, tỷ suất lợi nhuận
trên vốn còn thấp hơn lãi suất tiền vay dẫn đến nhiều doanh nghiệp kinh doanh không lãi,
không có khả năng trả lãi và gốc cho ngân hàng.
Hiệu quả kinh doanh củadoanh nghiệp, sự lành mạnh tài chính của DN gắn trực tiếp đến chất
lượng tín dụng của hệ thống ngân hàng. Hiện nay các doanh nghiệp hoạt động chưa thực sự
hiệu quả, do đó hoạt động của các doanh nghiệp ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của các
ngân hàng.
Sự phát triển lớn mạnh và hiệu quả hoạt động của hệ thống doanh nghiệp chính là điều kiền
cần để nâng cao chất lượng tín dụng và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.
2.2.2 Đời sống thu nhập dân cư, dịch vụ ngân hàng bán lẻ
Hiện nay mức sống dân cư tăng, thu nhập người dân ngày càng tăng tạo điều kiện cho việc sử
dụng các dịch vụ ngân hàng tăng. Thói quen tiêu dùng và thanh toán tiền mặt trong dân cư
có những bước tiến, đuổi kịp trình độ dịch vụ của các ngân hàng khu vực, tăng khả năng
cạnh tranh của ngân hàng TMCP.
Nhận thức được tầm quan trọng của yếu tế công nghệ trong hoạt động ngân hàng, các ngân
hàng TMCP trong các năm vừa qua đã có những đầu tư đáng kể nhằm cải thiện môi trường
công nghệ. Phần lớn các ngân hàng TMCP đều đang có những hợp tác với các tổ chức tài
chính quốc tế như Công ty tài chính quốc tế (IFC) hoặc với các ngân hàng hoặc doanh nghiệp
nước ngoài nhằm đổi mới một phần hoặc toàn bộ công nghệ quản lý ngân hàng.
Ngân hàng TMCP Sàigòn thương tín (Sacombank) đã thực hiện ký hợp đồng trị giá 3 triệu
USD với Temenos - một công ty Thuỵ Sĩ để cải thiến hệ thống công nghệ tin học cho toàn bộ
hệ thống. Một số ngân hàng TMCP tương tự như ngân hàng TMCP Á Châu (ACB), ngân
hàng TMCP kỹ thương Việt Nam (Techcombank) cũng đã thực hiện triển khai thành công hệ
thống tin học quản lý mới đồng bộ, trực tuyến trong toàn hệ thống.
Việc đổi mới hệ thống công nghệ thông tin sẽ không chỉ giúp các ngân hàng đổi mới về mặt
công nghệ mà còn thực hiện đạo tạo lại nguồn nhân lực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
của toàn hệ thống ngân hàng. Với hệ thống công nghệ này, các ngân hàng sẽ được hỗ trợ
trong các lĩnh vực như tiền gửi, tiền vay, tài trợ thương mại, bảo lãnh, hệ thống thông tin
quản lý, quản lý quan hệ khách hàng nhằm giảm thiểu chi phí và thời gian giao dịch một cách
đáng kể. Đặc biệt, hệ thống công nghệ thông tin mới sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng
TMCP có thể cung cấp các dịch vụ đa dạng hơn với hệ thống mạng ATM, Với những
thuận lợi như vậy một khi đưa vào áp dụng, hệ thống này sẽ đem lại những tiện ích cho cả
khách hàng và cả chính các ngân hàng TMCP.
2.4 Tiến trình hội nhập
Quá trình hội nhập quốc tế tạo ra cơ hội hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tài chính và tiền tệ,
đối với các NHTM đó là sự hợp tác trong hoạt động thanh toán, tăng cường hoạt động thanh
tra giám sát và phòng ngừa ruit ro. Các NHTM còn có cơ hội để tận dụng nguồn vốn, công
nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý từ các ngân hàng nước ngoài, làm tăng lợi thế so sánh
của các ngân hàng Việt nam đáp ứng yêu cầu cạnh tranh quốc tế và vươn ra thị trường bên
hàng sẽ gặp nhiều khó khăn khi phải cạnh tranh với các tập đoàn ngân hàng tài chính lớn
mạnh của nước ngoài.
2.4.1.2 Thách thức với các ngân hàng Việt nam
Theo Hiệp định thương mại Việt Nam Hoa Kỳ các ngân hàng Hoa Kỳ được cung cấp đầy đủ
các dịch vụ như một ngân hàng Việt nam: nhận tiền gửi và các khoản tiền từ công chúng, cho
vay hình thức tín dụng tiêu dùng, tín dụng thế chấp bao tiêu và các giao dịch thương mại
khác, thuê mua tài chính, bảo lãnh và cam kết , môi giới tiền tệ, buôn bán cho tài khoản của
mình hay của khách hàng tại sở giao dịch chứng khoán, trên thị trường OTC các sản phẩm
sau: các sản phẩm của thị trường tiền tê, các sản phẩm tài chính phái sinh bao gồm: Futures,
options, các sản phẩm dựa trên tỷ giá và lãi suất như swap và forward, các chứng khoán có
thể chuyển nhượng, tham gia vào việc phát hành mọi loại chứng khoán, kể cả bảo lãnh phát
hàng và chào bán như đại lý
Các nhà cung cấp Hoa Kỳ được cung cấp các dịch vụ tài chính tại Việt Nam thông qua các
hình thức pháp lý sau: chi nhánh Ngân hàng Hoa Kỳ, ngân hàng liên doanh Việt Nam Hoa
Kỳ, công ty thuê mua tài chính 100% vốn Hoa Kỳ, và công ty thuê mua tài chính liên doanh
Việt Nam Hoa Kỳ.
20
Lộ trình thực hiện BTA ngành ngân hàng: trong vòng 3 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực
BTA tức là đến tháng 12 năm 2004 hình thức pháp lý duy nhất thông qua qua đó các nhà
cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ khác (ngoài ngân hàng và công ty thuê mua tài chính) có thể cung
cấp các dịch vụ tài chính tại Việt Nam là liên doanh với đối với đối tác Việt Nam. Sau thời
gian đó hạn chế này sẽ được bãi bỏ.
Sau 9 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực, tức là tháng 12/2004, các ngân hàng Hoa Kỳ
được phép thành lập ngân hàng con 100% vốn Hoa Kỳ tại Việt Nam, trong thời gian 9 năm
đó các ngân hàng Hoa Kỳ có thể thành lập Ngân hàng liên doanh với đối tác Việt nam trong
đó phần vốn góp của đối tác Hoa Kỳ không thấp hơn 30% nhưng không vượt quá 49% vốn
pháp định của liên doanh.
Các nhà cung cấp dịch vụ tài chính Hoa kỳ được phép cung cấp 12 phân ngành dịch vụ ngân
hàng theo lộ trình 7 mốc. Lộ trình này xác định rõ mức độ tham gia các loại hình dịch vụ
- Thu hút tiền gửi: sau khi có các nới lỏng về việc nhận tiền gửi từ các tổ chức và huy
động tiền nhàn rỗi của dân chúng trong nước, các ngân hàng nước ngoài sẽ cạnh
tranh gay gắt trong việc mở rộng đối tượng khách hàng và huy động vốn.
21
- Dịch vụ mới: các ngân hàng nước ngoài sẽ với ưu thế về kinh nghiệm sẽ cạnh tranh
mạnh trong việc cung cấp các dịch vụ mới như dịch vụ thu phí thanh toán, chuyển
tiền, tư vấn , môi giới, lưu ký và quản lý danh mục đầu tư cho khách hàng.
Ngoài ra theo Hiệp định thương mại Việt Nam Hoa kỳ, các ngân hàng Hoa Kỳ sẽ không bị
hạn chế về hình thức hiện diện ( bao gồm cả việc mua cổ phần của các NHTMNN và mở
rộng lắp đặt hệ thống ATM) về địa giới hành chính, về số lượng cho từng loại hình nên các
ngân hàng Hoa Kỳ có điều kiện tốt nhất để tăng cường sự hoạt động và mở rộng thị phần tại
Việt Nam. Các ngân hàng Việt Nam sẽ phải chiụ sự cạnh tranh quyết liệt từ câc ngân hàng
Hoa Kỳ.
Ngoài ra, việc thực hiện các cam kết của Hiệp định khung về hợp tác thương mại dịch vụ (
AFAS) của ASEAN cũng tạo sức ép cạnh tranh lớn do các nước ASEAN cam kết danh cho
nhau những ưu đãi cao hơn trong lĩnh vực dịch vụ, và tiến tới thành lập khu vực mậu dịch tự
do về dịch vụ, tuy nhiên lịch trình thực hiện cam kết được điều chỉnh linh hoạt hơn so với
BTA và cam kết WTO theo yêu cầu của Việt Nam. Tuy nhiên, các ngân hàng nước ngoài
hoạt động tại Việt nam đang đòi hỏi phải được đối xử bình đẳng như đối với các ngân hàng
Hoa Kỳ. Như vậy sức ép cạnh tranh từ các ngân hàng nước ngoài đối với hệ thống ngân hàng
Việt nam là rất lớn, đặc biệt thời gian không còn nhiều nữa, khi các mốc thời gian thực hiện
mở cửa thị trường tài chính là các năm 2005, 2007 và đến năm 2010.
2.4.2 Cơ hội thách thức với hệ thống Ngân hàng Việt nam
2.4.2.1 Cơ hội
Hội nhập quốc tế mở ra cơ hội trao đổi hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng như hoạch
định chính sách tiền tệ, biện pháp phòng ngừa rủi ro, qua đó nâng cao uy tín và vị thế của hệ
thống ngân hàng Việt Nam trong các giao dịch tài chính quốc tế.
Ngành ngân hàng Việt Nam có điều kiện tranh thủ về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý,
đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, có khả năng theo kịp yêu cầu phát triển thị trường tài
thống.
Từ nay đến giai đoạn 2010, các ngân hàng trong nước và thực hiện cải cách và nâng cao sức
cạnh tranh, bởi vì khi các ngân hàng được thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ các ngân hàng
nước ngoài sẽ cạnh tranh gay gắt và có thể giành thị trường ngay trên sân nhà của các ngân
hàng Việt Nam.
2.4.3 Các mục tiêu hội nhập ( theo kế hoạch của NHNN)
Thực hiện cam kết hội nhập, từng bước nâng cao sức mạnh của hệ thống ngân hàng Việt nam
cả về nguồn vốn, cơ sở hạ tầng, thị phần, qui mô và chất lượng hoạt động
Đến năm 2005, bước đầu khắc phục được một số yếu kém của ngành ngân hàng, cơ cấu của
NHNN và các NHTM được đổi mới theo hướng tăng cường năng lực quản lý, hợp lý hoá
mạng lưới chi nhánh , tổ chức tốt hơn cơ cấu quản trị và nâng cao khả năng phân tích tài
chính, đánh giá tín dụng, một số NHTM mở chi nhánh và văn phòng đại diện ở nước ngoài .
Từ năm 2010, NHNN bắt đầu có vị thế độc lập tương đối, cả về tài chính, tổ chức bộ máy,
thiết lập và điều hành chính sách tiền tệ, tổ chức giám sát hoạt động của các trung gian tài
chính; các NHTM đã có những chuyển biến đáng kể về cơ sở hạ tầng, nguồn vốn và loại hình
dịch vụ, mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt nam tăng lên, bắt đầu
xuất hiện một số Ngân hàng mạnh, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và
quốc tế.
Từ năm 2020, hệ thống ngân hàng Việt Nam hoạt động chuẩn mực quốc tế kể cả về quản lý,
giám sát, công nghệ thông tin, đáp ứng nhu cầu về vốn và thanh toán chủ yếu của nền kinh
tế, đồng thời có vai trò nhất định trên thị trường tài chính khu vực và quốc tế.
2.4.4 Bảng phân tích SWOT đánh giá tác động của hội nhập tới các
NHTMCP
STRENGTH - THẾ MẠNH WEAKNESS - NHƯỢC ĐIỂM
- Có kinh nghiệm đối với các khách hàng
trong nước
- Khách hàng truyền thống đã có mối
quan hệ tín dụng lâu dài đối với ngân
hàng
OPPORTUNITIES - CƠ HỘI THREATS - THÁCH THƯC
- Các ngân hàng nước ngoài thường bỏ
qua thị trường nông thôn, thị trường
doanh nghiệp vừa và nhỏ và cũng
không trọng tâm phát triển dịch vụ
ngân hàng bán lẻ. Điều này là điều kiện
sống còn đối với các NHTMCP do hiện
đây là phần thị trường chính của các
NHTMCP
- Các ngân hàng TMCP sẽ có nhiều cơ
hội cho vay hơn đối với các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu
- Có cơ hội học hỏi kinh nghiệm từ các
ngân hàng nước ngoài
- Các ngân hàng nước ngoài sẽ phải tìm
một số đối tác trong nước để cùng cung
cấp các dịch vụ như: dịch vụ thẻ, dịch
vụ thanh toán
- NHTMCP có thể liên doanh với các
ngân hàng nước ngoài để khai thác, sử
dụng uy tín và danh tiếng của ngân
hàng nước ngoài đó
- Sự thay đổi về mặt chính sách, tạo điều
kiện cho các NHTMCP mở rộng và
phát triển hoạt động khi Việt Nam tham
gia hội nhập.
- Từ cạnh tranh với các ngân hàng nước
ngoài
sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng vừa được Quốc hội thông qua vào
tháng 5 năm 2004. Luật ngân hàng và các tổ chức tín dụng ban hành đã mở đường cho hoạt
24
động của hệ thống ngân hàng, từ đó hệ thống ngân hàng hai cấp ra đời, tách biệt chức năng
quản lý ngân hàng tiền tệ của ngân hàng Nhà nước với chức năng kinh doanh của các Ngân
hàng thương mại. Luật Ngân hàng và các tổ chức tín dụng đã tạo điều kiện cho hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng mang tính thị trường, các hoạt động cho vay và huy động vốn của
Ngân hàng thương mại mang tính thị trường và hiệu quả hơn, xoá bỏ dần cơ chế bao cấp tín
dụng tràn lan với các DNNN như trước đây. Luật ngân hàng và các tổ chức tín dụng cùng
các văn bản dưới Luật đã qui định cụ thể về hoạt động tín dụng, qui trình thẩm định tín dụng
cũng như các hoạt động khác của ngân hàng, từ đó tạo điều kiện cho các Ngân hàng thương
mại thực hiện đầy đủ các chức năng của ngân hàng thương mại theo cơ chế thị trường.
Cơ quan quản lý nhà nước toàn bộ hệ thống Ngân hàng và thực hiện chính sách tiền tệ, phát
hành tiền là Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng Nhà nước xây dựng hoàn thiện hệ thống văn
bản pháp luật và hoạt động ngân hàng nhằm tạo khung pháp lý đồng bộ cho hoạt động của
các Ngân hàng và TCTD.
2.5.1 Một số đánh giá về môi trường pháp lý
Do tính chất đặc biệt trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính nói chung và của
các ngân hàng nói riêng, đặc biệt là các ngân hàng TMCP nên các tổ chức này thường chịu
sự quản lý rất chặt chẽ từ phía các cơ quan chủ quản (NHNN Việt Nam và Bộ Tài chính) thể
hiện dưới dạng các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh của các tổ chức này.
Các văn bản pháp luật cơ bản điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng thương mại nói chung
và các ngân hàng TMCP nói riêng bao gồm Luật các tổ chức tín dụng số 07/1997 do quốc
hội ban hành (đã sửa đổi bổ xung ngày 24.5.2004) và các quyết định liên quan do NHNN và
Bộ tài chính ban hành.
Tuy nhiên, do Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm hoạt động trong hệ thống ngân hàng đa
cấp nên khung văn bản pháp lý hiện hành áp dụng cho hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn còn
- Về mặt pháp luật, các ngân hàng TMCP cùng các ngân hàng nước ngoài thường chịu
sự kiểm soát chặt chẽ hơn so với các ngân hàng thương mại Nhà nước. Ví dụ, khác
với các ngân hàng thương mại Nhà nước, các ngân hàng TMCP không được phép mở
quá nhiều các chi nhánh trực thuộc ngân hàng. Điều này gây khá nhiều trở ngại trong
hoạt động kinh doanh của các ngân hàng TMCP do các ngân hàng TMCP phục vụ
chủ yếu các đối tượng tư nhân nên rất cần thiết có một hệ thống các chi nhánh dầy
đặc.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế trong nước và quốc tế: các hoạt động hội
nhập, hoạt đông cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước, mức chênh trong chế độ quản lý
đối với ngân hàng TMCP và các ngân hàng thương mại Nhà nước sẽ bắt buộc phải giảm dần
để đi tới một môi trường pháp luật áp dụng chung cho toàn hệ thống.
Trong những năm gần đây, các cơ quan quản lý đã thực hiện ban hành một số chính sách mới
thông thoáng hơn tạo điều kiện mở rộng phát triển hoạt động kinh doanh của các ngân hàng
nói chung và của các ngân hàng TMCP nói riêng:
Bắt đầu từ năm 1996, ngân hàng Nhà nước Việt Nam dần gỡ bỏ các chính sách về lãi
suất huy động và lãi suất cho vay:
Chính sách lãi suất cho vay linh hoạt hơn đã được thay thế cho việc kiểm soát hoàn
toàn lãi suất cho vay bằng VNĐ và bằng USD trên đó tỷ lệ lãi suất cho vay bằng USD
sẽ phụ thuộc vào lãi suất SIBOR, tỷ lệ lãi suất VNĐ sẽ được xê dịch trong khoảng lãi
suất cho phép của ngân hàng Nhà nước và thấp hơn lãi suât trần (quyết đinh số 241-
244/2000 của ngân hàng Nhà nước).
Các ngân hàng hoạt động tại Việt Nam đều có quyền quyết định tỷ lệ lãi suất cho vay
tuỳ thuộc vào tỷ lệ lãi suất cho vay trên thị trường quốc tế và cung-cầu vốn của thị
trường trong nước (quyết định số 718/2001 của ngân hàng Nhà nước).