Đại học quốc gia hà nội
Khoa Kinh tế
=== o0o ===
Đoàn Huân Phong
Ngân hàng Th-ơng mại cổ phần ở Việt Nam:
Thực trạng và giải pháp
luận văn thạc sĩ kinh tế
Hà Nội - 2005
Đại học quốc gia hà nội
Khoa Kinh tế
=== o0o ===
DNTN : Doanh nghiệp t- nhân
EAB : Ngân hàng th-ơng mại cổ phần Đông á
Habubank : Ngân hàng th-ơng mại cổ phần Nhà Hà Nội
HĐQT : Hội đồng quản trị
HTX : Hợp tác xã
IMF : Quỹ tiền tệ thế giới
NHLD : Ngân hàng liên doanh
NHNN : Ngân hàng Nhà n-ớc
NHTM : Ngân hàng th-ơng mại
NHTMCP : Ngân hàng th-ơng mại cổ phần
NHTMQD : Ngân hàng th-ơng mại quốc doanh
NHTW : Ngân hàng trung -ơng
QTD : Quỹ tín dụng
QTDND : Quỹ tín dụng nhân dân
QTDNDTW : Quỹ tín dụng nhân dân trung -ơng
Sacombank : Ngân hàng th-ơng mại cổ phần Sài Gòn th-ơng tín
TCTD : Tổ chức tín dụng
Techcombank : Ngân hàng th-ơng mại cổ phần Kỹ th-ơng
TPHCM : Thành phố Hồ Chí Minh
VCB : Ngân hàng Ngoại th-ơng Việt Nam
VIP : Ngân hàng th-ơng mại cổ phần Quốc tế Việt Nam
VPB : Ngân hàng TMCP các DN ngoài quốc doanh Việt Nam
WB : Ngân hàng thế giới
Mục lục Trang
Lời mở đầu.
1
1.3. Xu h-ớng phát triển hệ thống NHTM trong khu vực và trên
thế giới
23
Ch-ơng 2: Thực trạng hoạt động của hệ thống NHTMCP ở Việt
Nam
29
2.1. Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của các
NHTMCP Việt Nam
29
2.1.1. Khái niệm về NHTMCP
29
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của các NHTMCP
30
2.1.3. Đặc điểm hoạt động chủ yếu của các NHTMCP ở Việt
Nam
37
2.2. Thực trạng hoạt động của các NHTMCP
38
2.2.1. Nguồn vốn
38
2.2.1.1. Nguồn vốn chủ sở hữu
38
2.2.1.2. Nguồn vốn huy động
39
2.2.1.3. Các nguồn vốn khác
41
2.2.2. Sử dụng vốn
3.1.2. Một số yêu cầu đặt ra đối với các NHTMCP ở Việt Nam
70
3.1.3. Định h-ớng đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của các
NHTMCP trong thời gian tới
71
3.2. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các
NHTMCP Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
72
3.2.1. Nâng cao năng lực tài chính
72
3.2.1.1. Nâng cao mức vốn tự có
72
3.2.1.2. Làm trong sạch bảng cân đối tài sản
74
3.2.2. Sắp xếp lại bộ máy tổ chức và hoàn thiện cơ chế hoạt động
75
3.2.3. Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng
77
3.2.4. Đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ, nâng cao chất l-ợng công
tác khách hàng
78
3.2.5. Phát triển nguồn nhân lực và nâng cao trình độ cán bộ
ngân hàng
80
3.2.6. Các giải pháp hỗ trợ khác
81
3.2.6.1. Phát triển thị tr-ờng chứng khoán
81
3.2.6.2. Hoàn thiện môi tr-ờng pháp lý
hoạt động trong môi trường cạnh tranh theo pháp luật thì ở đó kinh tế tăng
trưởng nhanh, vững mạnh
Thực hiện đổi mới và phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường, Đảng
và Nhà nước ta cũng chủ trương cho phép phát triển mạnh mẽ hệ thống các tổ
chức trung gian tài chính, đặc biệt là hệ thống NHTMCP. Theo chủ trương
đó, trong những năm đầu thập kỷ 90 hàng loạt NHTMCP của các cổ đông là
thể nhân và pháp nhân trong nước đã được thành lập. Có thể nói, đây là mô
hình tổ chức tín dụng phù hợp với cơ chế thị trường, cạnh tranh mạnh mẽ với
các NHTMQD.
Tuy nhiên sau hơn 10 năm đổi mới, hệ thống NHTMCP Việt Nam nói
riêng tuy có những bước phát triển và những đóng góp to lớn vào phát triển
kinh tế thông qua các hoạt động cung ứng vốn và các dịch vụ ngân hàng trong
thời gian qua, nhưng bên cạnh đó NHTMCP cũng đã bộc lộ nhiều yếu kém.
Sự yếu kém ở đây không chỉ là công tác quản lý, cơ cấu tổ chức mà còn là
yếu kém về tình hình tài chính, nhất là thời kỳ khủng hoảng tài chính – tiền tệ
trong khu vực năm 1997 - 1998. Mặt khác, cũng như các lĩnh vực khác của
nền kinh tế, NHTMCP cũng đang đứng trước những thách thức hội nhập với
2
các thể chế tài chính trong khu vực và quốc tế như tham gia AFTA, Hiệp định
thương mại Việt - Mỹ…
Thực tế đòi hỏi các NHTMCP cần được cải cách, chấn chỉnh, củng cố và
sắp xếp lại một cách toàn diện bằng những giải pháp phù hợp với xu hướng
tái cơ cấu NHTM của các nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt là xu
hướng tái cơ cấu NHTM của các nước sau khủng hoảng tài chính khu vực kết
hợp với điều kiện đặc thù của nền kinh tế Việt Nam hiện nay nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động và tạo ra những NHTMCP thực sự đủ mạnh, phát huy
được các vai trò tích cực, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế của đất
nước trong giai đoạn mới.
Xuất phát từ đòi hỏi cấp bách đó, tôi đã chọn đề tài “Ngân hàng thương
Việt Nam là rất cần thiết.
3. Mục đích nghiên cứu:
- Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động của hệ thống NHTMCP Việt
Nam nhằm làm rõ những thành công và những hạn chế của hệ thống
NHTMCP này. Từ đó luận văn đề xuất những giải pháp nhằm từng bước nâng
cao hiệu quả hoạt động và đẩy mạnh sự phát triển của hệ thống NHTMCP ở
Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động của hệ thống
NHTMCP ở Việt Nam trong giai đoạn từ những năm đầu thập kỷ 90 trở lại
đây, đặc biệt là từ khi có hai Pháp lệnh về ngân hàng.
4
- Luận văn không đi sâu vào các hoạt động nghiệp vụ cũng như từng
NHTMCP một mà nghiên cứu một số ngân hàng lớn, tiêu biểu chủ yếu là các
NHTMCP đô thị nhằm làm rõ thực trạng của toàn bộ hệ thống các NHTMCP.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng tổng hợp những quan
điểm phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử. Ngoài ra, luận văn còn chú trọng đến các phương pháp nghiên cứu
khác như phương pháp so sánh, tổng hợp, phân tích, phương pháp nghiên cứu
hệ thống, phương pháp thống kê kinh tế và một số phương pháp khác để giải
quyết vấn đề đặt ra.
6. Dự kiến những đóng góp của luận văn:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống NHTM nói
chung và NHTMCP nói riêng.
- Đánh giá thực trạng hoạt động của hệ thống các NHTMCP ở Việt Nam
trong thời gian qua.
- Đưa ra một số giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
khoản tiền gửi chưa tới kỳ trả để cho vay. Các tổ chức NHTM với các nghiệp
vụ ban đầu như trên xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng hơn 2000 năm trước
công nguyên ở những quốc gia giàu có nhất và sau đó là thời kỳ phát triển khá
phổ biến từ đầu thế kỷ XV ở các quốc gia có sản xuất và lưu thông hàng hoá.
NHTM ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển, đòi hỏi của nền
kinh tế và giao lưu hàng hoá, đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế như
6
tạo sự tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát, tạo công ăn việc làm, ổn định
xã hội… trong mỗi quốc gia và khu vực thế giới. Qua đó, ngân hàng đã dần
hình thành và hoàn thiện các nghiệp vụ của mình. Tuy nhiên, do hoạt động
NHTM rất đa dạng, các thao tác trong từng nghiệp vụ của ngân hàng thường
phức tạp và các vấn đề này luôn biến động theo sự thay đổi chung của nền
kinh tế. Hơn nữa do tập quán, luật pháp của mỗi nước, mỗi vùng lãnh thổ là
khác nhau nên dẫn đến khái niệm về NHTM là không đồng nhất.
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, các hoạt động cơ bản của NHTM
cũng phát triển theo và các chức năng của nó cũng được mở rộng, khi đó các
nhà kinh tế đã định nghĩa: “NHTM là những trung gia tài chính có giấy phép
kinh doanh của chính phủ để cho vay tiền và mở các tài khoản tiền gửi, kể cả
các khoản tiền gửi mà dựa vào đó có thể sử dụng các tờ séc”.
Ngày nay, trên toàn thế giới về NHTM có rất nhiều khái niệm khác nhau,
như ở Pháp: “NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường
xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số
tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ
tài chính”. Cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này
trên phương diện những loại hình dịch vụ mà nó cung cấp. Ở Mỹ người ta
định nghĩa về ngân hàng như sau: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính
cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín
dụng, tiết kiệm và thanh toán… và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất
so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.
điểm là phong phú về nghiệp vụ, khách hàng đa dạng và khả năng phân tán
rủi ro cao.
Còn ngân hàng chuyên doanh chỉ được thực hiện một hoặc một số ít
nghiệp vụ ngân hàng. Các ngân hàng này có đặc điểm là nghiệp vụ kinh
8
doanh mang tính hạn hẹp, phạm vi hoạt động bị giới hạn và tính chuyên môn
hoá cao. Hiện nay xu hướng phát triển các loại hình NHTM trên thế giới cho
thấy, không một quốc gia nào chỉ tồn tại một loại hình ngân hàng đa năng
hoặc ngân hàng chuyên doanh mà luôn tồn tại song song cho dù luôn có một
loại hình ngân hàng chiếm ưu thế. Gần đây các ngân hàng chuyên doanh ngày
càng có xu hướng chuyển sang đa năng hoá hoạt động của mình. Xu hướng
trong các luật ngân hàng hiện đại là không tạo ra sự phân biệt các ngân hàng
đa năng và các ngân hàng chuyên doanh như trước đây, mà hình thành một
loại ngân hàng hoạt động đa năng.
Căn cứ vào quy mô và đối tượng khách hàng: các ngân hàng được phân
chia thành ngân hàng bán buôn hay ngân hàng bán lẻ. Theo đó, ngân hàng bán
buôn là là loại hình ngân hàng mà hoạt động chủ yếu là thực hiện với các
khách hàng lớn, với số lượng giao dịch của ngân hàng nhỏ nhưng giá trị của
các khoản giao dịch lớn. Hoạt động của ngân hàng bán buôn thường tập trung
ở các trung tâm thương mại, do đối tượng khách hàng mà ngân hàng phục vụ
thường là khách hàng lớn và nằm tại các trung tâm thương mại lớn. Vốn hoạt
động lớn, nhưng phạm vi hoạt động hẹp về số lượng khách hàng và lĩnh vực
đầu tư vốn.
Ngân hàng bán lẻ chủ yếu thực hiện với các khách hàng là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ thậm chí siêu nhỏ, khách hàng cá nhân vay tiêu dùng…
Ngân hàng này thường có số lượng giao dịch lớn, giá trị của từng khoản nhỏ,
phạm vi hoạt động rất rộng, địa bàn hoạt động của tổ chức, mạng lưới rất lớn.
Vốn thực hiện đầu tư mang tính phân tán do khách hàng phục vụ thuộc nhiều
loại hình khác nhau. Hoạt động của ngân hàng bán lẻ về mặt vốn thường nhỏ
cầu này có ảnh hưởng quyết định đến khả năng thu lợi nhuận của các ngân
hàng. Lợi nhuận này có được từ hai nguồn thu nhập chính. Một là các chi phí
10
hay hoa hồng mà khách hàng trả về các dịch vụ, phương tiện ngân hàng cung
ứng cho họ. Hai là các khoản lợi tức do chênh lệch lãi suất giữa đầu vào với
đầu ra.
Đối tượng kinh doanh của ngân hàng là tiền, các tài sản tài chính và các
dịch vụ trực tiếp liên quan đến việc sở hữu, sản xuất, lưu thông quản lý, sử
dụng tiền và các tài sản tài chính trong nền kinh tế. Nhiệm vụ của các ngân
hàng kinh doanh là trực tiếp kinh doanh tiền và các tài sản tài chính. Tiền và
các tài sản tài chính là những phương tiện phục vụ các công việc trao đổi,
thanh toán, cất giữ, huy động tiết kiệm, tài trợ đầu tư của các tác nhân trong
nền kinh tế sao cho có lợi và giảm rủi ro. Như vậy, trên phương diện vi mô thì
kinh doanh ngân hàng là việc sản xuất, buôn bán, quản lý, lưu thông và sử
dụng tiền cùng các tài sản tài chính. Mặt khác, nếu xét trên phương diện vĩ
mô thì tiền là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán và
trong việc hoàn trả các món nợ. Vì vậy, đối tượng kinh doanh của các ngân
hàng là tiền và các tài sản tài chính thì đồng thời nó cũng bao gồm những dịch
vụ trực tiếp liên quan đến việc sản xuất, buôn bán, quản lý, lưu thông và sử
dụng tiền cùng các tài sản tài chính.
Kinh doanh ngân hàng là tiến hành các hoạt động gắn với các thể chế
trung gian tài chính hoạt động trên thị trường tài chính như: các hoạt động về
huy động tiền gửi, cho vay, chuyển tiền, làm trung gian thanh toán, tài trợ đầu
tư, đại lý môi giới tài chính hưởng hoa hồng… Thị trường xã hội là tổng thể
thống nhất của các thị trường riêng biệt. Có thể xem thị trường xã hội được
hình thành bởi hai loại thị trường chủ chốt là thị trường tài chính và thị trường
các hàng hoá dịch vụ phi tài chính. Trên thị trường tài chính diễn ra các hoạt
động tạo lập, lưu thông, trao đổi các sản phẩm dịch vụ tài chính tiền tệ, các tổ
chức ngân hàng, tài chính hoạt động trong lĩnh vực này. Còn trên thị trường
gia người cung ứng nhiều khi chỉ là một hay vài ba ngân hàng này chiếm tỷ lệ
đa số về thị phần, quy mô tài sản, quy mô và địa bàn hoạt động, cũng như khả
12
năng ảnh hưởng đến các cán cân thị trường về giá cả, lưu lượng hoạt động…
Điều tương tự cũng xảy ra với các thị trường tài chính quốc tế, ở đó một vài
tập đoàn tài chính khổng lồ chi phối lưu lượng hoạt động của thị trường. Từ
đó tạo tính độc quyền cao trong kinh doanh ngân hàng.
Một đặc trưng khác trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là tính rủi ro
cao. Rủi ro ở đây được quan niệm là những biến động không lường trước
được trong các điều kiện, môi trường, trong hoạt động và tham số hoạt động
kinh doanh làm cho ngân hàng không đạt được các mục tiêu. Biểu hiện là
mức độ phá sản và khả năng mất vốn của ngân hàng rất lớn khi cạnh tranh
tăng lên so với các lĩnh vực kinh doanh khác cho dù là ngân hàng lớn hay
nhỏ.
1.1.2. Các chức năng của NHTM.
Tầm quan trọng của các NHTM được minh họa một cách rõ nét thông
qua các chức năng cơ bản của nó, bao gồm:
Huy động tiền gửi: là một dịch vụ rất quan trọng mà các NHTM thực
hiện với các khu vực của nền kinh tế. Tiền gửi có hai loại là tiền gửi thanh
toán và tiền gửi có kỳ hạn. Trong đó, tiền gửi thanh toán là loại tiền gửi có thể
rút ra theo yêu cầu để thoả mãn các giao dịch hàng ngày của các cá nhân hay
doanh nghiệp. Còn tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi có thể rút ra nhưng phải
báo trước với ngân hàng và được duy trì như hình thức tiết kiệm của các cá
nhân hoặc doanh nghiệp để thoả mãn các nhu cầu chi trả đều đặn. Bằng việc
cung cấp các điều kiện thuận lợi cho việc gửi tiền, NHTM đã huy động được
khoản tiền nhàn rỗi trong dân để đáp ứng nhu cầu đầu tư, tiêu dùng cần thiết,
qua đó người gửi tiền nhận được một khoản tiền dưới dạng lãi suất với mức
độ an toàn. Tiền lãi trả cho khoản tiền gửi có thời hạn cao hơn tiền lãi trả cho
tiền gửi thanh toán nhằm khuyến khích khách hàng gửi tiền lâu hơn, giúp cho
14
Dịch vụ uỷ thác của NHTM sẽ ra đời và phát triển khi thu nhập của dân
chúng và của các công ty tăng lên. NHTM sẽ đáp ứng nhu cầu về chuyển tài
sản giữa các cá nhân, về phân chia lợi tức giữa các công ty, phục vụ các dịch
vụ liên quan đến phát hành, thanh toán và chuộc lại các cổ phiếu và tín phiếu.
Bảo quản tài sản có giá trị một cách an toàn nhất cho khách hàng. Đây
là một trong những dịch vụ lâu đời nhất và đang phát triển của NHTM trong
điều kiện hiện tại. Các giấy tờ có giá trị như trái khoán, cổ phiếu thường được
bảo quản tại các ngân hàng lớn. Các công ty tài chính và phi tài chính thường
gửi chứng khoán nợ tại các NHTM. Hơn nữa, nhiều người sở hữu chứng
khoán còn yêu cầu ngân hàng không chỉ bảo quản cho họ những chứng khoán
đó trong từng thời kỳ dài mà còn làm dịch vụ thu lãi chứng khoán và nhập
vào tài khoản của họ ở ngân hàng.
Ngoài ra NHTM còn cung cấp dịch vụ mua bán chứng khoán cho khách
hàng. Thực tế cho thấy khi có sự tham gia của ngân hàng vào thị trường
chứng khoán như là một nhà môi giới đầu tư, hoạt động của thị trường này trở
nên hiệu quả hơn. Trong tương lai, chức năng này của ngân hàng, đặc biệt đối
với các ngân hàng lớn sẽ được mở rộng hơn. [8, 17]
1.1.3. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị trƣờng.
Để phát triển nền kinh tế thị trường, loại hình doanh nghiệp không thể
thiếu là NHTM. Ngân hàng là con đẻ của nền kinh tế hàng hoá, nhưng sau khi
ra đời thì ngân hàng lại đóng vai trò quan trọng cho nền kinh tế hàng hoá phát
triển, góp phần to lớn xoá bỏ các ách tắc trong lưu thông hàng hoá, tạo điều
kiện sản xuất kinh doanh tăng trưởng nhanh chóng. Về mặt lý luận và thực
tiễn cho thấy, muốn phát triển nền kinh tế thị trường điều quan trọng là phải
phát triển các trung gian tài chính.
NHTM ra đời là kết quả tất yếu của sự phát triển của nền sản xuất hàng
hoá, nhưng mặt khác hệ thống NHTM với tư cách là trung gian tài chính
15
tiền tệ, NHTM dựa trên uy tín của mình đã khuyến khích các chủ thể kinh tế
có vốn nhàn rỗi gửi vào ngân hàng để thu lãi tiền gửi. Đồng thời, nhờ vào lợi
thế quy mô và nghiệp vụ, ngân hàng đã giúp các nhà đầu tư về vốn và các
dịch vụ ngân hàng để các nhà đầu tư thực hiện tốt các dự án sản xuất kinh
doanh. Như vậy, ngân hàng là một trung gian tài chính với chức năng quan
trọng là đi vay để cho vay. Hoạt động NHTM đã góp phần quan trọng trong
việc tối đa hoá khối lượng vốn khả dụng cho nền kinh tế với mức chi phí thấp
nhất. Trên phương diện nghiệp vụ đầu ra là cấp tín dụng cho nền kinh tế,
NHTM với bề dày kinh nghiệm của mình được xem như là một tổ chức hàng
đầu trong hoạt động cho vay. Trong nền kinh tế, NHTM có thể đảm bảo một
cách tốt nhất để các dự án đầu tư có hiệu quả. Có thể nói, NHTM thông qua
các hoạt động của mình đã tập trung và biến các khoản tích luỹ xã hội, các
nguồn vốn tản mạn không sinh lời hoặc sinh lời thấp thành vốn đầu tư cho
phát triển nền kinh tế.
Đóng vai trò cỗ máy tạo tiền của nền kinh tế. Không phải ngay khi mới
hình thành các NHTM đã thực hiện được chức năng quan trọng này. Chỉ khi
hoạt động các NHTM phát triển tới một mức độ nhất định, khi mà hoạt động
cấp tín dụng và hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt thông qua hệ thống
ngân hàng trở nên phổ biến thì chức năng này của ngân hàng mới thực sự thực
hiện được một cách đúng mức. Việc các ngân hàng thực hiện các bút tệ, bút
toán ghi sổ là yếu tố quan trọng nhất góp phần hình thành chức năng tạo tiền
của hệ thống NHTM. Đây là cơ sở để NHTW thực hiện việc điều tiết lượng
tiền cung ứng, qua đó điều tiết thị trường tài chính, tiền tệ thông qua các công
cụ chính sách tiền tệ của mình.
17
Đẩy nhanh quá trình thanh toán, giảm chi phí giao dịch trong nền kinh
tế. Vai trò này của ngân hàng tương ứng với chức năng trung gian tài chính
của nó. Với những dịch vụ thanh toán ngày càng thuận tiện của mình, từ hình
thức thanh toán truyền thống tới các hình thức thanh toán điện tử hiện đại,
chính phát triển là phải có một hệ thống các trung gian tài chính đủ mạnh, đủ
sức hoạt động với tư cách là những tổ chức kinh doanh chuyên nghiệp trong
lĩnh vực tài chính - tiền tệ. Tuy nhiên tại các nước đang phát triển, hệ thống
trung gian tài chính còn rất hạn chế về chủng loại cũng như về chất lượng.
Trong hệ thống trung gian tài chính ở các nước này chỉ có NHTM có quá
trình lịch sử phát triển lâu đời và có uy tín nhất. Do vậy, NHTM đóng vai trò
quan trọng trong quá trình phát triển thị trường tài chính nói chung và thị
trường chứng khoán nói riêng. Thông qua các hoạt động của NHTM sẽ thúc
đẩy sự phát triển của thị trường tài chính, tạo đà cho sự ra đời thị trường
chứng khoán. Các NHTM đảm nhiệm hầu hết các chức năng của các tổ chức
trung gian tổ chức khác để trong giai đoạn đầu có thể tạo lập được nền tảng
cơ bản cho thị trường, tạo lập môi trường thuận lợi cho các loại hình trung
gian tài chính khác phát triển, từng bước hoàn thiện thị trường tài chính. [1,
20]
1.2. ĐẶC TRƢNG VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH CỦA NHTMCP.
1.2.1. Các đặc trƣng cơ bản của NHTMCP.
NHTMCP là một hình thức của công ty cổ phần. Hình thức cổ phần thực
ra đã có một lịch sử lâu đời. Nhiều nhà kinh tế cho rằng hình thức cổ phần là
một trong những phát minh lớn của loài người. Nếu trong nền kinh tế tập
trung, nền kinh tế hiện vật thì hình thức này không cần đến nó, không phù
hợp và như vậy có cũng không thể xuất hiện và tồn tại. Nhưng trong nền kinh
tế thị trường, nền kinh tế hàng hoá với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần thì lại
19
rất cần đến nó và đó là mảnh đất tốt để loại hình này xuất hiện, tồn tại và phát
triển.
Loại hình NHTMCP đã trải qua quá trình phát triển lâu dài và được pháp
luật quy định rõ ràng, chi tiết cho từng loại hình. Hình thức kinh tế cổ phần
nói chung và NHTMCP nói riêng là một tổ chức kinh doanh có số vốn thuộc
sở hữu chung của nhiều người đóng góp dưới hình thức cổ phần. NHTMCP