Pháp luật về sáp nhập Ngân hàng thương mại cổ phẩn ở Việt Nam - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ DUNG
PHÁP LUẬT VỀ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2013
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ DUNG
PHÁP LUẬT VỀ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: T.S Nguyễn Thị Lan Hương
Hà nội – 2013
[
2
3
MỤC LỤC
Lời cam đoan Trang
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Công ty trách cổ phần: CTCP
Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010: Luật TCTD 2010
Luật Chứng Khoán: Luật CK
Ngân hàng thương mại: NHTM

6
sâu nghiên cứu đầy đủ và toàn diện các quy định của pháp luật Việt Nam về
sáp nhập NHTMCP.
Bên cạnh đó, việc tìm hiểu và hệ thống hóa những lý luận về pháp luật
sáp nhập NHTMCP cũng sẽ giúp chúng ta hoàn thiện hơn hành lang pháp lý
nói chung.
Xuất phát từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài: “Pháp luật về sáp nhập
Ngân hàng thương mại cổ phẩn ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận
văn.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Luận văn sẽ vạch ra những khiếm khuyết và thiếu sót của khung pháp
luật điều chỉnh liên quan đến hoạt động sáp nhập NHTMCP ở Việt Nam. Đặt
trong tương quan so sánh và học hỏi kinh nghiệm một số nước trong chính
sách pháp luật về vấn đề trên, Luận văn sẽ đưa ra những phương hướng nhằm
giải quyết những tồn tại vướng mắc này.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Phân tích được bản chất của hoạt động sáp nhập NHTMCP;
- Hệ thống hóa các văn bản pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động sáp
nhập NHTMCP;
- Vạch ra những điểm thiếu sót, chưa đồng bộ trong các quy địnhcủa
pháp luật về sáp nhập NHTMCP ở Việt Nam hiện nay:
+ Quy định về điều kiện sáp nhập
+ Quy định về thẩm quyền quyết định sáp nhập
+ Quy định về trình tự, thủ tục sáp nhập
+ Quy định về quyền và trách nhiệm của các bên chủ thể tham gia sáp
nhập
+ Quy định về quản lý Nhà nước đối với hoạt động sáp nhập NHTMCP
7
- Phân tích đánh giá những khiếm khuyết trên trong việc ảnh hưởng đến

2. Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu
2.1. Nội dung nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về sáp nhập
NHTMCP. Các vấn đề về khái niệm, chủ thể, nguyên tắc, mục đích, thực hiện
việc sáp nhập cũng được đề cập trong khóa luận trong phần tổng quan về hoạt
động này. Bên cạnh đó các thực trạng trong quy định và thực hiện pháp luật
về sáp nhập NHTMCP cũng được đề cập đến: quy định về điều kiện sáp nhập,
thẩm quyền quyết định sáp nhập, trình tự thủ tục sáp nhập, quyền và nghĩa vụ
của các bên trong việc thực hiện sáp nhập. Từ các thực trạng trên Luận văn
đánh giá và đưa ra phương hướng, kiến nghị cụ thể để giải quyết, tạo điều
kiện thuận lợi cho hoạt động sáp nhập MHTMCP.
Kết cấu chính của Luận văn gồm có ba phần:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật trong hoạt động sáp
nhập NHTMCP:
Chương 2. Thực trạng pháp luật trong hoạt động sáp nhập NHTMCP ở
Việt Nam hiện nay;
Chương 3.Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật trong hoạt động
sáp nhập NHTMCP ở Việt Nam hiện nay.
9
Chương 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật trong hoạt
động sáp nhập NHTMCP
1.1. Một số vấn đề lý luận về hoạt động sáp nhập NHTMCP
1.1.1 Khái quát chung về hoạt động sáp nhập NH
* Trên thế giới: Hơn 100 năm qua, lịch sử nền kinh tế thế giới đã
chứng kiến sáu làn sóng mua bán, sáp nhập diễn ra xung quanh những mốc
thời gian: năm 1900, 1920, 1960, 1980, 1990, 2000. Những làn sóng mua bán,
sáp nhập này được diễn ra chủ yếu ở các nước phương Tây, nơi mà nền kinh
tế sớm phát triển với trình độ khoa học-kỹ thuật cao hơn so với các khu vực
khác.
Làn sóng thứ nhất bắt đầu ở Mỹ và châu Âu và diễn ra trong ngành

bùng nổ của nền kinh tế và dừng lại khi thị trường chứng khoán sụp đổ vào
năm 2000. Giai đoạn này được đặc trưng bởi các thương vụ tái cơ cấu lớn
trong toàn ngành công nghiệp. Làn sóng thứ sáu bắt đầu vào khoảng giữa năm
2003. Giai đoạn này, hoạt động mua bán, sáp nhập phát triển cùng với sự
phục hồi của nền kinh tế và thị trường tài chính sau cuộc suy thoái đã xảy ra
vào năm 2000 [53]. Theo xu hướng tự do hóa tài chính và xóa bỏ những hạn
chế về đầu tư, các nền kinh tế Đông Á cũng tham gia vào lĩnh vực mua bán,
sáp nhập doanh nghiệp từ giữa những năm 1980. Đi đầu trong hoạt động này
phải kể đến những nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,
Hồng Kông [50].
Trong bối cảnh diễn ra các làn sóng sáp nhập trên, hoạt động mua bán
sáp nhập NHTM trên thế giới cũng được thực hiện từ sớm. Các NH ở những
quốc gia phát triển đã phát triển đến mức bão hoà với quy luật lợi nhuận giảm
dần nên doanh thu, lợi nhuận cũng giảm do đó hoạt động sáp nhập diễn ra
11
nhằm cắt giảm chi phí, mở rộng mạng lưới hoạt động, bổ sung, đa dạng hoá
sản phẩm, tăng cường quy mô kinh doanh cũng như lợi thế cạnh tranh đáp
ứng với xu thế phát triển của nền kinh tế khu vực hoá và quốc tế hoá. Ví dụ,
tại Mỹ thời gian qua đã có nhiều cuộc sáp nhập với những lý do như: Các NH
Mỹ đã cho vay các nước đang phát triển quá nhiều nên nguy cơ thiếu vốn gia
tăng; Sự khác biệt về luật pháp làm cho nguồn dự trữ của hệ thống dự trữ liên
bang không lớn; Mạng lưới chi nhánh của các NH Mỹ không lớn do các hạn
chế về mở chi nhánh ở các bang khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung, tuỳ thuộc
vào quy mô của các NH mà lý do sáp nhập cũng khác nhau. Đối với các NH
lớn, lý do quan trọng nhất là cắt giảm chi phí hoạt động và gia tăng quy mô
kinh doanh nhờ việc sáp nhập sẽ tăng vốn huy động, tăng vốn điều lệ và giới
hạn cho vay từng khách hàng đơn lẻ. Ngoài ra cũng có thể để đa dạng hoá sản
phẩm và dịch vụ kinh doanh, tăng uy tín của NH hoặc tiết kiệm chi phí thành
lập chí nhánh. Đối với các NHTM, M&A hoặc bán lại cho những NHTM lớn
vì thiếu vốn điều lệ hoặc tránh phá sản hoặc để tối đa hoá lợi ích của các cổ

sản những NH gặp vấn đề, để có căn cứ pháp lý thực hiện chủ trương về cơ
cấu lại đối với những NH thương mại và tổ chức tín dụng yếu kém, bảo đảm
sự lành mạnh, an toàn của cả hệ thống.
Chúng ta có thể thấy đến giai đoạn này thì nhu cầu sáp nhập NH không
chỉ đặt ra với các NH nông thôn mà áp lực từ nhiều phía đã đòi hỏi nhiều chủ
thể với quy mô lớn, hoạt động không hiệu quả cũng phải tiến hành sáp nhập.
Theo đó những vấn đề pháp lý về nhân sự, đãi ngộ, tích hợp hoạt động, bán
và thanh lý tài sản, phản ứng của các đối thủ cạnh tranh, quan hệ và giao tiếp
giữa các bộ phận và công ty thành viên, kế hoạch dự phòng cần phải được
xem xét cẩn trọng. Trong khoảng thời gian diễn ra cuộc khủng hoảng tài
13
chính toàn cầu này, một số thông tin về việc sau khi Petro Việt Nam từ bỏ kế
hoạch thành lập NH Hồng Việt, đã từng có kế hoạch đổ vốn, nhân lực và công
nghệ dự định dành cho Hồng Việt để tham gia tái cấu trúc NH Dầu khí Toàn
cầu. Tuy nhiên, sau rất nhiều vòng đàm phán, hai bên đã không đi đến được
thỏa thuận cuối cùng. Petro Vietnam đã phải trả lại tiền góp vốn thành lập NH
Hồng Việt cho cán bộ, công nhân viên trong Tập đoàn, sắp xếp lại nhân sự đã
từng tuyển dụng và dự kiến chuyển hệ thống công nghệ thông tin đã đầu tư
cho Hồng Việt sang Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí. Trước đây, một
số NH lớn khi nhận nhiệm vụ sáp nhập một số NH nhỏ đã mất rất nhiều thời
gian và nguồn lực để giải quyết những tồn tại của các đơn vị này [44].
Như vậy có thể thấy không phải thương vụ tái cơ cấu nào cũng có thể đi
kết hồi kết tốt đẹp, thậm chí còn gây nhiều tổn thất về tài chính cho các chủ
thể này. Gần đây, cùng với đề ántái cấu trúc hệ thống NHTM được đưa ra bởi
Chính phủ, một số vụ sáp nhập mới cũng được thực hiện.
1.1.2. Khái niệm
* Khái niệm sáp nhập:
“Sáp nhập” thường được nhắc đến trong thuật ngữ “mua lại và sáp
nhập” là một thuật ngữ được dịch từ “merger and acquisition – M&A”.
Ngoài nghĩa được dịch khá thông dụng là “mua lại và sáp nhập” [1], M&A

trường hay bất kỳ yếu tố nào khác.
Ở nước ta, những khái niệm về sáp nhập, mua lại và hợp nhất được
đưa ra với những nội hàm khác nhau. Điều 17 – Luật Cạnh tranh 2004 quy
định: “sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển
toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh
nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.
15
Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần
tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một
ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”. Luật Cạnh tranh cũng đề cập đến
“hợp nhất doanh nghiệp” là việc “hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn
bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một
doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị hợp nhất.”
Luật Doanh nghiệp 2005 đưa ra khái niệm “sáp nhập doanh nghiệp” tại
khoản 1, Điều 153 như sau: “một hoặc một số công ty cùng loại (công ty bị
sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (công ty nhận sáp nhập) bằng
cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty
nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.
Có thể thấy sáp nhập khác với hợp nhất ở chỗ sau giao dịch tư cách của
các chủ thể có sự thay đổi khác nhau: cả hai bên chấm dứt tư cách pháp lý
trong giao dịch hợp nhất để tạo ra một chủ thể có tư cách mới; chỉ một bên
được sáp nhập chấm dứt tư cách pháp lý trong khi bên nhận vẫn tiếp tục tồn
tại trong giao dịch sáp nhập. Tuy nhiên giữa haikhái niệm “sáp nhập” và “mua
lại” lại chưa thật sự có nội hàm rõ ràng theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Bài Luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu về “sáp nhập” để có thể đưa ra cái
nhìn cụ thể và toàn diện hơn về khái niệm này.
* Khái niệm NHTMCP
NH bắt đầu hoạt động từ việc giữ các đồ vật quý cho những người chủ
sở hữu nó. Đổi lại,người chủ sở hữu phải trả cho người giữ một khoản
phí. Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa thì NH ra đời và phát

hiện thông qua các nghiệp vụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối và chứng
khoán… để cam kết thực hiện công việc nhất định cho khách hàng trong một
17
thời hạn nhất định nhằm mục đích thụ hưởng tiền công dịch vụ do khách hàng
chi trả dưới dạng phí hay hoa hồng.
Thứ hai, hoạt động NHTM là loại hình hoạt động kinh doanh có điều
kiện, nghĩa là chỉ khi nào NHTM thoả mãn đầy đủ những điều kiện khắt khe
do pháp luật quy định (vốn pháp định, phương án kinh doanh, ) thì mới được
phép hoạt động trên thị trường.
Thứ ba, hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh có độ rủi ro cao hơn
nhiều so với các loại hình kinh doanh khác và thường có ảnh hưởng sâu sắc,
mang tính chất dây chuyền đối với nền kinh tế. Sở dĩ nói như vậy là vì, trong
hoạt động NH, đặc biệt là hoạt động kinh doanh tiền tệ, do các NHTM phải
tiến hành huy động vốn của người khác để cấp tín dụng cho khách hàng và
trên nguyên tắc NHTM chỉ có thể đòi tiền của người vay sau một thời hạn
nhất định, nên đã tạo ra khả năng rủi ro cao cho hoạt động NH, kéo theo đó là
sự rủi ro đối với người gửi tiền ở NHTM, cũng như rủi ro đối với nền kinh tế.
Chính những đặc điểmtrong hoạt động của NHTM trên đã dẫn tới việc
thực hiện sáp nhập đối với các chủ thể này cũng có những đặc thù riêng. Một
số điểm đặc thù chúng ta có thể thấy được như sau:
Một là, để đi đến sáp nhập NHTM cần phải tuân theo những điều kiện
nghiêm ngặt hơn so với các doanh nghiệp đơn thuần khác. Ngoài việc không
vi phạm những điều khoản về ngăn chặn tập trung kinh tế, NHTM muốn tiến
hành sáp nhập cần phải tuân thủ nhiều điều kiện khác như: bắt buộc phải có
Đề án sáp nhập bao gồm tối thiểu các nội dung nhất định theo quy định của
pháp luật; yêu cầu về mức vốn, tài sản; thời gian thành lập.
Hai là, để sáp nhập NHTM đòi hỏi phải có sự chấp thuận của cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền.Trong trường hợp này, chủ thể có thẩm quyền cũng
có thể là cơ quan khác so với trong một thương vụ sáp nhập doanh nghiệp đơn thuần.
18

không có lãi… không những tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh mà còn ẩn
chứa rất nhiều rủi ro cho hệ thống tài chính NH Việt Nam.
Trong bối cảnh như vậy, phương án sáp nhập các NH là một trong
những xu hướng đúng đắn, cần thiết để tăng năng lực cho các chủ thể này.
Bởi sự hợp tác sẽ mang lại nhiều lợi thế (gia tăng quy mô hoạt động; kết hợp
sử dụng hiệu quả hơn khi các nguồn lực được bổ sung; tiết giảm chi phí giao
dịch; chi phí hoạt động…) [2] hỗ trợ cùng nhau phát triển bền vững, giúp
ngành NH trong nước đủ sức cạch tranh với các tập đoàn tài chính nước
ngoài.
Việc hoàn thiện hơn về khung khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động sáp
nhập nói chung và sáp nhập NH nói riêng cũng tạo một môi trường thu hút
các thương vụ sáp nhập NH. Hiện nay, các quy định về hoạt động mua lại và
sáp nhập ngành NH cũng đang từng bước hoàn thiện. Cụ thể năm 2010,
NHNN đã ban hành Thông tư 04/2010/TT-NHNN quy định việc sáp nhập,
hợp nhất, mua lại TCTD gồm: NHTM, công ty tài chính, công ty cho thuê tài
chính, TCTD hợp tác. Thông tư này cũng đang được nghiên cứu để sửa đổi và
hoàn thiện hơn nữa. Các quy định về sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài
vào Việt Nam cũng được thay đổi cho phù hợp với lộ trình gia nhập Tổ chức
thương mại thế giới của nước ta.
Bên cạnh đó, tham gia vào hoạt động sáp nhập trong lĩnh vực tài chính
nói chung và lĩnh vực NH nói riêng tại Việt Nam là một trong những chiến
lược của các tập đoàn tài chính NH nước ngoài. Trong những năm gần đây, từ
điều kiện thuận lợi của chính sách mở cửa hội nhập, các tập đoàn tài chính
NH nước ngoài đã lựa chọn các NH Việt Nam làm đối tác như một chiến lược
cho kế hoạch thâm nhập ngành tài chính nước ta của các tập đoàn này. Các
20
NHTM được lựa chọn đều là những NHTM cổ phần hàng đầu, có uy tín, có
kết quả làm ăn tốt. Đây là một khoản đầu tư lâu dài, đảm bảo sinh lợi cao và
an toàn. Ngoài ra việc thâu tóm các NH nhỏ thông qua các chiến lược thu
gom cổ phiếu cũng hoàn toàn có thể xảy ra.

các bên đều đạt mục tiêu mà họ cho rằng có thể đạt được. Tuy nhiên để cả hai
bên cùng thắng lợi và đi đến thống nhất một thương vụ sáp nhập là điều
không hề dễ. Trên thực tế để đi đến thống nhất các bên có thể phải tốn nhiều
thời gian và tiền của để gặp nhau trao đổi, đàm phán. Chưa nói đến các
thương vụ hao tiền tốn của cho đàm phán như trên mà mục tiêu sáp nhập lại
không đạt được. Do đó tiến hành sáp nhậptheo phương thức trực tiếp như trên
có thể thấy có nhiều ưu điểm nhưng cũng có những hạn chế.
• Phương thức chào mua cổ phiếu công khai
Theo phương thức này một bên có thể thực hiện chào mua công khai
công khai một số lượng cổ phiếu nhất định của bên NH mục tiêu, theo điều
kiện và trong một thời gian cụ thể và bên chào mua không rút lại ý định mua
hay thay đổi điều kiện trong suốt thời gian này.
Theo đó, NHTM muốn thực hiện sáp nhập có thể đã là cổ đông hoặc
chưa là cổ đông của NHTM mục tiêu phải:
Áp dụng các điều kiện chào mua công khai với tất cả cổ đông của công
ty bị chào mua; Áp dụng chế độ công bố thông tin cho các cổ đông về ý định
sẽ trả một giá nào đó trong một thời gian nhất định và cam kết sẽ mua cổ
phiếu. Giá được chào mua có thể cao hơn giá thị trường rất nhiều, bởi nó phải
đủ hấp dẫn để đa số cổ đông tán thành việc từ bỏ quyền sở hữu và quản lý của
mình; Mua cổ phiếu từ bất kỳ cổ đông nào theo điều kiện đã công bố; Chấp
22
hành đúng thời hạn chào mua công khai. Nếu các cổ đông của NHTM mục
tiêu chấp nhận chào mua thì việc chào mua công khai đã thành công.
• Phương thức thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
Thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán là phương thức NH chủ
động có ý định thâu tóm sẽ tiến hành mua dần cổ phiếu của NH mục tiêu
thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán, hoặc mua lại từ các cổ đông
chiến lược hiện hữu. Phương thức này đòi hỏi thời gian và tính bảo mật vì nếu
ý đồ thôn tính được tiết lộ sẽ làm giácổ phiếu của NH mục tiêu giao động
mạnh trên thị trường. Việc thâu tóm này được thực hiện trôi chảy, NH chủ

nhằm làm rõ hơn các quy định của Đạo luật Sherman.
Tiếp theo các “đợt sóng” sáp nhập xuất hiện ở trên, các “đợt sóng” khác
nhau được diễn ra và đều có mục đích khá giống nhau: độc quyền, độc quyền
nhóm bán, sáp nhập thành tập đoàn. Chính vì vậy trên thế giới, hoạt động sáp
nhập được xem xét, điều tiết chủ yếu từ góc độ của pháp luật về cạnh tranh:
kiểm soát tập trung kinh tế.
Ở Mỹ các cơ quan giám sát NH đã tạo điều kiện cho những hoạt động
mua lại và sáp nhập, đặc biệt là giữa các NH có quy mô vừa và lớn bằng cách
bãi bỏ những rào cản về thị phần của các NH bán lẻ. Đạo Luật NH năm 1933
đặt ra rào cản về sản phẩm và phạm vi địa lý đối với các TCTD và hạn chế
việc mở chi nhánh trong nội bộ một Bang nhằm giảm thiểu rủi ro. Đạo luật
Celler-Kefauver được ban hành năm 1950 - sửa đổi Đạo luật Clayton với mục
đích là tăng cường pháp luật chống lại sự độc quyền mạnh mẽ được tạo ra
thông qua sáp nhập. Từ những năm 1960, sự ra đời của các công ty nắm giữ
NH đã tạo ra một lối thoát giúp các TCTD vượt qua các quy định kỹ thuật về
24
sản phẩm và địa lý. Theo đó, các chi nhánh ở các Bang khác nhau được tổ
chức lại thành các NH con thuộc một công ty sở hữu nhiều NH. Khuôn khổ
pháp lý này khiến cho hệ thống NH phình ra với số lượng lớn. Do đó, xu
hướng hoạt động mua lại và sáp nhập trong lĩnh vực NH vẫn tiếp tục phát
triển. Bên cạnh đó, vấn đề bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư trong các
thương vụ sáp nhập thông qua các quy định pháp luật kiểm soát nghiêm ngặt
đối với báo cáo tài chính của công ty niêm yết cũng được đặt ra khi Đạo luật
Sarbanes-Oxeley ra đời năm 2002. Tóm lại “mua lại và sáp nhập NH ở Mỹ là
minh chứng rõ nét nhất của sự liên kết ngẫu nhiên giữa những thay đổi về mặt
chính sách pháp luật và làn sóng mua lại và sáp nhập chưa từng có trong lịch
sử” [17].
Ở châu Âu, hoạt động sáp nhập được điều chỉnh không chỉ thông qua
hành lang pháp luật canh tranh mà còn bằng Luật Công ty. Riêng đối với các
nước thuộc Liên Bang Nga trước đây thì pháp luật cạnh tranh tạo ra hành lang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status