Pháp luật về quản trị ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam - Pdf 28


đại học quốc gia hà nội
khoa luật
nguyễn thị phong thủy

pháp luật về quản trị ngân hàng
th-ơng mại cổ phần ở việt nam

Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50 luận văn thạc sĩ luật học
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS. Lê Thị Thu Thủy

Hà nội - 2009

MỤC LỤC


7
1.1.2.
Khái niệm và vai trò của quản trị ngân hàng thương mại
cổ phần
13
1.2.
Mô hình quản trị trong ngân hàng thương mại cổ phần
17
1.2.1.
Mô hình quản lý hai cấp
17
1.2.2
Mô hình quản trị ngành dọc theo hướng chuyên môn hóa
19
1.2.3.
Mô hình công ty mẹ, công ty con
21
1.3.
Pháp luật về quản trị ngân hàng thương mại cổ phần
22
1.3.1.
Sự cần thiết phải có pháp luật về quản trị ngân hàng thương
mại cổ phần
22
1.3.2.
Nội dung của pháp luật về quản trị ngân hàng thương mại
cổ phần
29

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUẢN

Cơ cấu Hội đồng quản trị
44
2.2.2.
Cuộc họp Hội đồng quản trị
47
2.2.3.
Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị
49
2.3.
Ban kiểm soát
52
2.3.1.
Cơ cấu Ban kiểm soát
53
2.3.2.
Quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát
53
2.4.
Tổng giám đốc (Ban Tổng giám đốc)
55
2.4.1.
Vị trí của Tổng giám đốc trong ngân hàng thương mại cổ phần
55
2.4.2.
Nhiệm vụ quyền hạn của Tổng giám đốc
57
2.5.
Một số bộ phận điều hành đặc biệt
58
2.6.

79
3.1.2.
Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực
ngân hàng
79
3.1.3.
Tăng tính tự chủ cho các ngân hàng thương mại cổ phần
80
3.1.4.
Đặt trong giải pháp tổng thể hoàn thiện pháp luật ngân hàng
81
3.2.
Một số giải pháp hoàn thiện các quy định về quản trị ngân
hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam
83
3.2.1.
Về cơ cấu tổ chức của các ngân hàng thương mại cổ phần
83
3.2.2.
Về mô hình quản trị ngân hàng thương mại cổ phần
84
3.2.3.
Về điều kiện, tiêu chuẩn cho các chức danh quản lý, điều
hành
86

KẾT LUẬN
89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang

1.1.
Bộ máy quản trị NHTM
20 1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Ngành ngân hàng đang đứng trước áp lực cạnh tranh ngày một lớn từ
các cam kết mở cửa thị trường tài chính - ngân hàng sau khi Việt Nam đã trở
thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Trước tình hình
đó, môi trường pháp lý cho các ngân hàng hoạt động tại Việt Nam đang được
cải thiện đáng kể. Các hội, đoàn đang có những vận động tích cực để kiến
nghị tập trung vào việc đẩy nhanh ban hành các văn bản, hướng dẫn để tạo
thuận lợi cho các ngân hàng hoạt động, nhiều hội thảo đóng góp ý kiến để xây
dựng đã và sắp diễn ra để hoàn thiện văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động
quản trị ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP). Các tiêu chí về tăng tính
trách nhiệm trong quá trình ra quyết định; giảm khả năng xung đột lợi ích
giữa việc ra quyết định và việc điều hành công việc hàng ngày của ngân hàng
và đặc biệt là để tạo sự kiểm tra và cân bằng quyền lực, đảm bảo ngân hàng
hoạt động lành mạnh, đảm bảo các quyết định của các cấp điều hành, quản lý
là khách quan, vì lợi ích tốt nhất của ngân hàng là những mục đích cho quá
trình ra đời, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật này trong thời gian tới.
Tác giả chọn đề tài "Pháp luật về quản trị ngân hàng thương mại cổ phần ở
Việt Nam" vì những lý do sau đây:
1.1. Mong muốn được nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống những
quy định pháp luật về quản trị NHTMCP. Quản trị được nghiên cứu trong đề tài

này, tuy nhiên một số quy định vẫn chưa được rõ ràng, đầy đủ, ngoài ra sự
không thống nhất giữa Nghị định 59/2009/NĐ-CP với các quyết định của
NHNN khiến các quy định về quản trị NHTMCP vẫn chưa đáp ứng được
đúng sự mong đợi của các ngân hàng trên thực tế.
1.4. Trước tình trạng số lượng các NHTMCP đang ngày một tăng [11],
thì dường như việc quan tâm đến vấn đề quản trị của các ngân hàng đang tồn

3
tại cũng như kế hoạch quản trị cho các ngân hàng sắp được thành lập đang
bị bỏ rơi. Nhiều vụ việc xảy ra trên thực tế như HĐQT và Ban điều hành là
một, quyền lợi của cổ đông thiểu số không được coi trọng hay sự mâu thuẫn
giữa HĐQT và Ban điều hành trên thực tế đã là một trong những lý do làm
suy giảm niềm tin của nhà đầu tư vào các NHTMCP cũng như ảnh hưởng
nhiều đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Thông qua việc nghiên cứu
thực tiễn hoạt động quản trị của các ngân hàng Việt Nam và tham khảo các
hoạt động quản trị ngân hàng nước ngoài, luận văn sẽ đưa ra những nhận xét
và đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong việc điều
chỉnh lĩnh vực này. Việc nghiên cứu những quy định về hoạt động và quản
trị của ngân hàng một cách thấu đáo sẽ giúp cho hoạt động của các ngân
hàng hiệu quả hơn.
2. Tính cấp thiết của đề tài
Quản trị đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của doanh
nghiệp nói chung, mà đặc biệt là các NHTM. Với tính rủi ro cao trong hoạt
động ngân hàng, NHTM có hệ thống quản trị càng tốt, họ càng có đủ công cụ
để phục vụ thị trường, đồng thời tự xây dựng được sự bảo vệ hạn chế rủi ro ở
mức tối đa đối với các dịch vụ. Đứng trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt,
đòi hỏi về công tác quản trị trong các NHTM Việt Nam ngày càng cao hơn.
Một ngân hàng yếu kém trong quản trị sẽ không chỉ gây tổn thất cho chính
ngân hàng đó, mà còn tạo nên những rủi ro nhất định mang tính dây chuyền
và có thể ảnh hưởng tới toàn xã hội. Vì vậy, để đảm bảo cho NHTM hoạt

của một số nước trên thế giới - Bài học kinh nghiệm và kiến nghị giải pháp
hoàn thiện pháp luật công ty ở Việt Nam" Đề tài đặc biệt cấp Quốc gia do
PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa (chủ biên); "Báo cáo nghiên cứu rà soát văn bản
pháp luật về thành lập, tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp" của CIEM;
"Quản trị công ty: Nâng cao năng lực cạnh tranh và tiếp cận nguồn vốn trên

5
thị trường toàn cầu" sách do CIEM dịch với sự tài trợ của GTZ; Các tài liệu
nghiên cứu của CIEM và Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ về dự án
xây dựng Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp thống nhất… và các công trình
có đề cập tới quản trị công ty như: "Nghiên cứu so sánh quản lý công ty cổ
phần theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa", Luận án tiến sĩ Luật học của Ngô Viễn Phú; "Quản lý, điều
hành trong Công ty cổ phần ở Việt Nam", Luận văn thạc sĩ Luật học của Đậu
Anh Tuấn,…
Tuy nhiên, tình hình nghiên cứu về hoạt động quản trị trong NHTMCP
thì vẫn còn khoảng trống. Hiện nay ở nước ta, ngoài một số bài báo đề cập
hoặc nghiên cứu các khía cạnh của vấn đề quản trị và hoạt động trong
NHTMCP, và các công trình nghiên cứu về quản trị trong công ty cổ phần
như kể trên, thì các đề tài nghiên cứu đầy đủ về vấn đề quản trị nói riêng cho
NHTMCP vẫn chưa nhiều. Đề tài này mang ý nghĩa lý luận cho việc xây
dựng những quy phạm pháp luật đầy đủ, làm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng
các quy định về hoạt động quản trị và điều hành trong NHTMCP. Những kiến
nghị của đề tài hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn
thiện các quy định pháp luật của Việt Nam để quản trị và hoạt động trong
NHTMCP được thực hiện một cách tốt hơn, trợ giúp cho hoạt động ngân hàng -
tài chính đang phát triển với tốc độ rất nhanh hiện nay. Tác giả hy vọng rằng
với sự đầu tư thích đáng, kết quả nghiên cứu sẽ là một tài liệu tham khảo có
giá trị.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu

khái niệm khác nhau về NHTM ở các nước trên thế giới. Ở Mỹ, NHTM là
một loại hình tổ chức tín dụng cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính
đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực
hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào
trong nền kinh tế. Còn ở Pháp, NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở nào
thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức
khác các số tiền mà họ đang cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng
hay dịch vụ tài chính [34, tr. 13-14] Hay ở Ấn Độ, NHTM là các cơ sở nhận
các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ đầu tư. Như vậy, có thể thấy NHTM
được định nghĩa thông qua hoạt động nghiệp vụ chủ yếu của nó.
Với những nghiệp vụ nhiều rủi ro và mang tính ảnh hưởng lớn đến cả
một nền kinh tế, các ngân hàng đòi hỏi phải có sự quản lý, giám sát chặt chẽ
của nhà nước trong hoạt động. Bởi vì, nếu một ngân hàng kinh doanh thua lỗ
hay bị sụp đổ, sẽ kéo theo hàng loạt những hệ quả và ảnh hưởng nặng nề
khác, đặc biệt ảnh hưởng lớn đến dân chúng gửi tiền. Trên thế giới vẫn xảy ra
những tranh chấp trong việc định nghĩa ngân hàng là gì. Các ngân hàng có thể
được định nghĩa qua chức năng (các dịch vụ) được thực hiện trong nền kinh

8
tế. Tuy nhiên, vấn đề là không chỉ chức năng của các ngân hàng đang thay đổi
mà chức năng của các đối thủ cạnh tranh chính sách của ngân hàng cũng
không ngừng thay đổi [34]. Đối thủ cạnh tranh chính sách của ngân hàng ở
đây bao gồm các tổ chức tài chính phi ngân hàng, công ty chứng khoán, công
ty tài chính, công ty bảo hiểm đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của
ngân hàng. Do đó, ngân hàng cũng đối phó với các đối thủ cạnh tranh này
bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ, hướng về lĩnh vực bất động sản
và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, và thực hiện nhiều
dịch vụ mới khác. Do vậy, nếu định nghĩa không rõ ràng, thì một số tổ chức
sẽ luôn tìm cách mở rộng phạm vi hoạt động của mình sang lĩnh vực ngân
hàng, vốn là ngành cần phải được Nhà nước quản lý chặt chẽ.

chức khác. Sau khi nhận được Giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng
của NHNN, ngân hàng vẫn phải tiến hành đăng ký kinh doanh theo quy định
của Luật doanh nghiệp. Về cơ bản, cơ cấu quản trị ngân hàng vẫn được áp
dụng theo các quy định tại Luật Doanh nghiệp, ngoài ra, với tính chất đặc thù
của ngân hàng nên Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản chuyên ngành
khác có quy định một số yêu cầu khác chi tiết hơn về các cơ quan tham gia
quản trị cũng như điều kiện để trở thành thành viên của các cơ quan này.
Nghị định số 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ vào tháng 11/2006 về
danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng, đặc biệt là Quyết định
số 24/2007/QĐ-NHNN vào tháng 6/2007 của NHNN về điều kiện thành lập
ngân hàng mới, việc thành lập NHTMCP đã trở nên khó khăn hơn. Đáng chú
ý là mức vốn điều lệ tối thiểu của một NHTMCP đô thị tăng từ 70 tỉ đồng lên
1.000 tỉ đồng.
Thực ra các cổ đông sáng lập cùng tham gia vào cuộc đua thành lập
NHTMCP mới đều có lý do khá thuyết phục. Có thể nêu lên một số khía cạnh
chủ yếu sau đây:

10
Một là, nền kinh tế Việt Nam trước thời điểm và sau khi gia nhập
WTO, tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián
tiếp nước ngoài, kim ngạch xuất nhập khẩu, lượng khách du lịch quốc tế
tăng trưởng mạnh. Do đó nhu cầu về dịch vụ ngân hàng tăng lên rất lớn.
Hai là, theo đề án thanh toán không dùng tiền mặt được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt mới đây thì từ đầu năm 2008, trước tiên các đơn vị chi
lương từ nguồn ngân sách nhà nước, tiếp đến là các đơn vị sự nghiệp… phải
trả lương qua hệ thống tài khoản ngân hàng. Đây là một cơ hội lớn cho các
NHTM, cùng theo chiều hướng đó thì việc chi trả lương của các doanh
nghiệp, nhất là doanh nghiệp có đông công nhân cũng phát triển rất mạnh.
Ba là, tiềm năng thị trường dịch vụ ngân hàng ở nước ta còn rất lớn.
Tính bình quân trong hơn 3 năm qua, các NHTM ở nước ta có tốc độ tăng

lệ (ngân hàng mẹ). Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài được thành
lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc từ hai
thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam.
- Ngân hàng thương mại liên doanh là ngân hàng thương mại được
thành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp của bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều
ngân hàng Việt Nam) và Bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều ngân hàng
nước ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Ngân hàng thương mại liên
doanh được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai
thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam. Như
vậy, qua từng thời kỳ, cách phân loại về ngân hàng đã có sự khác nhau.
Nghị định 59/2009/NĐ-CP đã có cách phân loại khác với Luật Các tổ
chức tín dụng, và đã lấy những tiêu chí phân loại dựa theo mô hình các doanh
nghiệp được quy định tại Luật doanh nghiệp 2005. Tuy nhiên, các cách phân
chia này vẫn chưa thống nhất với Luật Doanh nghiệp [19]. Theo Nghị định

12
59/2009/NĐ-CP, các NHTM vừa được phân chia theo hình thức sở hữu, vừa
được phân chia theo mô hình doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp năm 2005 chỉ
phân chia các doanh nghiệp theo mô hình tổ chức. Nếu phân chia như trên sẽ
có độ vênh so với Luật Doanh nghiệp. Hiện nay Luật Doanh nghiệp phân chia
thành các loại hình: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty
hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Tất cả các doanh nghiệp trước đây thành
lập với loại hình, tên gọi khác nhau sẽ phải chuyển đổi tương ứng theo 4 loại
hình doanh nghiệp này, như doanh nghiệp nhà nước, hay doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài (sẽ hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên), doanh nghiệp liên doanh… Mặc dù ngân hàng là một lĩnh
vực chuyên biệt nhưng ngoài văn bản chuyên ngành thì các NHTM vẫn phải
tuân thủ các quy định của Luật Doanh nghiệp đối với những nội dung mà các
văn bản luật chuyên ngành chưa đề cập đến. Do đó, việc phân loại các ngân
hàng theo mô hình tổ chức sẽ phù hợp với Luật Doanh nghiệp hơn và phù hợp

quản trị theo kiểu thành viên góp vốn đứng ra trực tiếp điều hành, quản lý
hoạt động của công ty như doanh nghiệp tư nhân, hoặc mọi thành viên trong
công ty đều có quyền tham gia trong hoạt động điều hành, nhân danh công ty
trong mọi giao dịch như các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh.
1.1.2. Khái niệm và vai trò của quản trị ngân hàng thƣơng mại cổ phần
Thuật ngữ Corporate Governance tạm dịch là quản trị doanh nghiệp
đã được thừa nhận rộng rãi và được nhiều quốc gia trên thế giới nghiên cứu.
Theo hệ thống dân luật, doanh nghiệp có những quan hệ hướng nội (quan hệ
giữa các thành viên, giữa các cơ quan quản lý, điều hành trong công ty) và
quan hệ hướng ngoại (quan hệ giữa công ty và các bên thứ ba như người lao
động, cơ quan nhà nước, đối tác, các tổ chức tài chính ) [23, tr. 357]. Các
quy định điều chỉnh mối quan hệ giữa các thành viên, giữa các cơ quan quản
lý, điều hành trong ngân hàng là nội dung chính của quản trị ngân hàng theo ý
nghĩa đề tài này hướng đến.

14
Theo Tổ chức hợp tác và phát triển (OECD):
Quản trị công ty là một hệ thống các cơ chế, các hành vi
quản lý. Cơ chế này xác định việc phân chia các quyền và nghĩa vụ
giữa cổ đông, Hội đồng quản trị, các chức danh quản lý và những
người có lợi ích liên quan, quy định trình tự ban hành các quyết
định kinh doanh. Bằng cách này, công ty tạo ra một cơ chế xác lập
mục tiêu hoạt động, tạo ra phương tiện thực thi và giám sát việc
thực hiện các mục tiêu đó [50].
Theo Ngân hàng Thế giới (WB):
Quản trị công ty là một hệ thống các yếu tố pháp luật, thể
chế và thông lệ quản lý của các công ty. Nó cho phép công ty có thể
thu hút được các nguồn tài chính và nhân lực, hoạt động có hiệu
quả, và nhờ đó tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài cho các cổ đông, trong
khi vẫn tôn trọng quyền lợi của những người có lợi ích liên quan và

doanh với hiệu quả cao [10, tr. 16].
Tương tự, quản trị trong ngân hàng cũng được thiết lập dựa trên những
cơ sở cốt lõi này. Trong luận văn chỉ đề cập đến việc quản trị trong NHTMCP,
bởi những lý do:
NHTMNN tuy chiếm thị phần lớn (theo báo cáo của NHNN, năm 2007,
năm ngân hàng thương mại thuộc sở hữu nhà nước chiếm khoảng 80% tổng
tài sản của các ngân hàng thương mại, các khoản cho vay của ngân hàng
thương mại thuộc sở hữu nhà nước chiếm gần 80% trong tổng số dư nợ ngân
hàng, phần lớn các khoản cho vay dành cho các doanh nghiệp nhà nước)
nhưng sự tăng trưởng rất nhanh chóng hiện nay của NHTMCP sẽ là một dấu
hiệu nhận biết sự định hướng trong tương lai của các ngân hàng. Hiện nay vị
thế của các NHTMNN có được là nhờ quan hệ kinh doanh với những khách
hàng hiển nhiên là các Tổng công ty, công ty nhà nước lớn. Tuy các

16
NHTMCP hiện nay có quy mô nhỏ nhưng không ngừng phát huy thế mạnh
của mình là: Bán lẻ, tấn công vào các khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, các
khu vực bán lẻ mà NHTMNN chưa quan tâm đúng mức. Nhiều doanh nghiệp
Việt Nam đang tăng trưởng rất tốt, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ -
khách hàng cốt lõi của các NHTMCP hướng đến chiếm tỷ lệ rất lớn và đạt
được hiệu quả kinh doanh nhất định trong những năm gần đây. Từ năm 2000
đến năm 2006, Việt Nam có 207.034 doanh nghiệp dân doanh, chủ yếu là các
SME đăng ký kinh doanh thành lập mới với tổng số vốn đăng ký đạt hơn 466
nghìn tỷ đồng (tương đương gần 3 tỷ USD). Trong thời gian qua, các SME đã
sử dụng gần 3 triệu lao động, đóng góp hơn 40% GDP và 29% tổng kim
ngạch xuất khẩu của cả nước, đóng góp khoảng 14,8% tổng thu ngân sách
Nhà nước (theo số liệu Phòng Kế hoạch SME, cập nhật ngày 11/09/2007).
Những khách hàng này là nhóm khách hàng tiềm năng, chiếm thị phần rất lớn
trong việc sử dụng các dịch vụ của các NHTMCP. Sự tăng trưởng tín dụng và
cơ cấu tín dụng của các NHTMCP ở Việt Nam cũng phát triển mạnh mẽ (xem

chỉ nghiên cứu những vấn đề liên quan đến việc tổ chức nội bộ đối với các cơ
quan quản lý, điều hành trong ngân hàng và những quy định pháp lý liên
quan, cụ thể là việc phân định rõ quyền hạn và nghĩa vụ giữa các thành viên,
cơ quan trong ngân hàng như các cổ đông, HĐQT, BKS, Ban Giám đốc (Ban
điều hành) và các cơ quan giúp việc khác. Như vậy, phạm vi nghiên cứu chỉ là
một phần của hoạt động "quản trị ngân hàng thương mại" nói trên.
1.2. MÔ HÌNH QUẢN TRỊ TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN
1.2.1. Mô hình quản lý hai cấp
Mô hình tổ chức và quản lý hiện tại được phân biệt chủ yếu theo chức
năng với hai cơ cấu quyền lực là cấp quản trị điều hành và cấp quản lý kinh doanh.
Cấp quản trị điều hành: Là HĐQT gồm chủ tịch HĐQT và một số
thành viên chuyên trách, làm việc theo chế độ tập thể, giúp việc HĐQT có

18
ban chuyên viên và BKS. Về nguyên tắc HĐQT thực hiện chức năng quản lý
đối với mọi hoạt động của ngân hàng; chịu trách nhiệm bảo toàn và phát
triển vốn; ban hành các điều lệ, cơ chế, qui chế tổ chức và hoạt động của các
ngân hàng.
Cấp quản lý kinh doanh: Cấp điều hành kinh doanh gồm Tổng giám
đốc, các Phó tổng giám đốc và các phòng ban tham mưu giúp việc tại hội sở
chính, bên cạnh Tổng giám đốc có Kế toán trưởng. Cấp trực tiếp kinh doanh
gồm các đơn vị hạch toán độc lập, các chi nhánh hạch toán phụ thuộc, các đơn
vị sự nghiệp và đơn vị hùn vốn kinh doanh.
Mô hình tổ chức hiện tại theo hai cấp như trên trong thời gian qua đã
được áp dụng trên thực tế tại nhiều NHTMCP, tuy nhiên, mô hình này đã bộc
lộ một số nhược điểm như sau:
Đối với HĐQT cơ quan quản lý cao nhất không tập trung được các
luồng thông tin chủ yếu về hoạt động của ngân hàng để xây dựng, kiểm tra
các mục tiêu chiến lược và các quyết định phòng ngừa rủi ro trong đó có rủi
ro lãi suất.

Theo đó, chủ sở hữu là cơ quan tối cao, có quyền đưa ra định hướng
phát triển, mục tiêu của NHTMCP - chính là ĐHĐCĐ. Chức năng của các cơ
quan quản lý NHTM được phân định rõ ràng và tách bạch với quyền sở hữu:
- HĐQT là cơ quan quản trị của NHTMCP, có toàn quyền nhân danh
ngân hàng quyết định chính sách phát triển cho ngân hàng, giúp việc cho
HĐQT là các Ủy ban chuyên môn.
- Ban điều hành mà đứng đầu là Tổng giám đốc, điều hành hoạt động
hàng ngày của NHTMCP, thực hiện các nghị quyết, quyết định của ĐHĐCĐ
và HĐQT.
- BKS có chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động của NHTMCP.

Trích đoạn Mụ hỡnh quản trị ngành dọc theo hƣớng chuyờn mụn húa Sự cần thiết phải cú phỏp luật về quản trị ngõn hàng thƣơng mại cổ phần Nội dung của phỏp luật về quản trị ngõn hàng thƣơng mại cổ phần QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM CƠ CẤU QUẢN TRỊ ĐIỀU HÀNH CỦA ACB
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status