Pháp luật về sáp Ngân hàng Thương mại Cổ phần ở Việt Nam - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ DUNG

PHÁP LUẬT VỀ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2013

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ DUNG

PHÁP LUẬT VỀ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành

: Luật Kinh tế

Mã số

: 60 38 50


1.1.4. Phương thức sáp nhập NHTMCP ................................................................... 16
1.2. Một số vấn đề lý luận về pháp luật trong hoạt động sáp nhập NHTMCP ............... 18
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển khung pháp lý điều chỉnh hoạt động sáp nhập
NHTMCP ................................................................................................................ 18
1.2.2. Đặc điểm pháp luật điều chỉnh hoạt động sáp nhập NHTMCP........................ 27
Chƣơng 2. Thực trạng pháp luật trong hoạt động sáp nhập NHTMCP ở Việt Nam
hiện nay.......................................................................................................................... 30
2.1. Quy định về điều kiện sáp nhập ............................................................................ 30
2.1.1. Các quy định hạn chế tập trung kinh tế ........................................................... 31
2.1.2. Về chủ thể tham gia sáp nhập: ........................................................................ 33
2.1.3. Về Đề án sáp nhập ......................................................................................... 35
2.1.4. Về mức vốn điều lệ: ....................................................................................... 36
2.2. Quy định về thẩm quyền quyết định sáp nhập ....................................................... 37
2.2.1. Thẩm quyền của cơ quan Nhà nước: .............................................................. 37
2.2.2. Thẩm quyền quyết định tại nội bộ NHTMCP ................................................. 38
2.3. Quy định về trình tự, thủ tục sáp nhập ................................................................... 43
2.3.1.
Phối hợp xây dựng Đề án sáp nhập, hợp đồng sáp nhập và Điều lệ ............................. 43
2.3.2. Thông báo cho cơ quan quản lý cạnh trạnh ................................................. 49
2.3.3. Chấp thuận nguyên tắc sáp nhập và chấp thuận sáp nhập ............................ 51
2.3.4. Chuyển giao tài sản .................................................................................... 52
2.3.5. Hậu sáp nhập .............................................................................................. 53
2.4. Quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ thể tham gia sáp nhập.............................. 55
2.4.1. Quyền và nghĩa vụ đối ứng giữa các bên NH tham gia sáp nhập: .................... 55
2.4.2. Quyền và nghĩa vụ của NH đối với bên thứ ba ............................................... 58
2.4.3. Quyền và nghĩa vụ đối với Nhà nước ............................................................. 65

3




Ngân hàng thƣơng mại

: NHTM

Ngân hàng thƣơng mại cổ phần

: NHTMCP

Tổ chức tín dụng

: TCTD

Ủy Ban chứng khoán

: UBCK

5


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nền kinh tế Việt Nam đang bước vào giai đoạn trải nghiệm đầy thách
thức của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng. Song song trong quá
trình này là cơ hội và cũng là những vấn đề phức tạp phát sinh đòi hỏi sự phản
ứng nhạy bén, linh hoạt của các chủ thể liên quan. Theo đó từ đường lối,
chính sách kinh tế của Chính phủ đến phương án chiến lược kinh doanh của
các doanh nghiệp… cũng cần có thay đổi cho phù hợp.
Trong bối cảnh trên, tại Đại hội Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
11, vấn đề về tái cơ cấu kinh tế trong đó có tái cơ cấu thị trường tài chính với

luật điều chỉnh liên quan đến hoạt động sáp nhập NHTMCP ở Việt Nam. Đặt
trong tương quan so sánh và học hỏi kinh nghiệm một số nước trong chính
sách pháp luật về vấn đề trên, Luận văn sẽ đưa ra những phương hướng nhằm
giải quyết những tồn tại vướng mắc này.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Phân tích được bản chất của hoạt động sáp nhập NHTMCP;
- Hệ thống hóa các văn bản pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động sáp
nhập NHTMCP;
- Vạch ra những điểm thiếu sót, chưa đồng bộ trong các quy định của
pháp luật về sáp nhập NHTMCP ở Việt Nam hiện nay:
+ Quy định về điều kiện sáp nhập
+ Quy định về thẩm quyền quyết định sáp nhập
+ Quy định về trình tự, thủ tục sáp nhập
+ Quy định về quyền và trách nhiệm của các bên chủ thể tham gia sáp
nhập
+ Quy định về quản lý Nhà nước đối với hoạt động sáp nhập NHTMCP
- Phân tích đánh giá những khiếm khuyết trên trong việc ảnh hưởng đến
thực tiễn hoạt động sáp nhập NHTMCP ở nước ta hiện nay.

7


- Sau khi đánh giá sẽ đưa ra được những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ
thống pháp luật điều chỉnh hoạt động sáp nhập NHTMCP.
3. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn có tham khảo và kế thừa một số điểm nổi bật của các bài viết
về các vấn đề pháp lý trong hoạt động mua bán và sáp nhập của nước ngoài
cũng như Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay chưa có bài viết đánh giá bình luận
một cách đầy đủ và toàn diện về các hoạt động sáp nhập NHTMCP dưới sự
điều chỉnh của pháp luật Việt Nam nên cách tiếp cận của đề tài có thể thấy

thực hiện việc sáp nhập cũng được đề cập trong khóa luận trong phần tổng

8


quan về hoạt động này. Bên cạnh đó các thực trạng trong quy định và thực
hiện pháp luật về sáp nhập NHTMCP cũng được đề cập đến: quy định về điều
kiện sáp nhập, thẩm quyền quyết định sáp nhập, trình tự thủ tục sáp nhập,
quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện sáp nhập.
5. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nội dung nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về sáp nhập
NHTMCP. Các vấn đề về khái niệm, chủ thể, nguyên tắc, mục đích, thực hiện
việc sáp nhập cũng được đề cập trong khóa luận trong phần tổng quan về hoạt
động này. Bên cạnh đó các thực trạng trong quy định và thực hiện pháp luật
về sáp nhập NHTMCP cũng được đề cập đến: quy định về điều kiện sáp nhập,
thẩm quyền quyết định sáp nhập, trình tự thủ tục sáp nhập, quyền và nghĩa vụ
của các bên trong việc thực hiện sáp nhập. Từ các thực trạng trên Luận văn
đánh giá và đưa ra phương hướng, kiến nghị cụ thể để giải quyết, tạo điều
kiện thuận lợi cho hoạt động sáp nhập MHTMCP.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện dựa trên phương pháp triết học Mác-Lênin
về duy vật biện chứng. Đồng thời khóa luận còn sử dụng kết hợp các phương
pháp nghiên cứu gồm: Phương pháp phân tích; Phương pháp tổng hợp dữ
liệu; Phương pháp suy luận logic; Phương pháp so sánh; Phương pháp liệt kê.
Kết cấu chính của Luận văn gồm có ba phần:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật trong hoạt động sáp
nhập NHTMCP:
Chương 2. Thực trạng pháp luật trong hoạt động sáp nhập NHTMCP ở
Việt Nam hiện nay;

tế thế giới đi vào đợt suy thoái khác. Ở Mỹ, sự bắt đầu của làn sóng mua bán,
sáp nhập thứ ba đi cùng với những quy định chống độc quyền vào những năm
1950. Những quy định nghiêm khắc về chống độc quyền này đã buộc các

10


công ty của Mỹ phải đi theo hướng đa dạng hóa thông qua việc thực hiện mua
bán, sáp nhập. Theo đó các công ty theo đuổi sự phát triển nhanh chóng bị bỏ
lại với lựa chọn duy nhất là tiếp quản các công ty ngoài lĩnh vực kinh doanh
của họ. Trong những năm 1960, các công ty đã phải tìm cơ hội phát triển với
thị trường sản phẩm mới không liên quan để nâng cao giá trị cho công ty
mình. Làn sóng thứ 4 được đặt ra bởi quá trình chuyển đổi môi trường kinh
doanh như thay đổi trong chính sách độc quyền, tạo ra các thị trường và công
cụ tài chính mới cũng như những tiến bộ công nghệ trong ngành công nghiệp
thông tin và viễn thông. Làn sóng mua bán, sáp nhập này được đặc trưng bởi
sự thâu tóm mang tính thù địch chưa từng xuất hiện trước đó. Nó được bắt
đầu từ năm 1978, khi thị trường chứng khoán được phục hồi từ cuộc suy thoái
kinh tế trước đó và kết thúc vào năm 1989. Làn sóng thứ năm được bắt đầu từ
năm 1993. Cũng giống như các giai đoạn trước, nó phát triển cùng với sự
bùng nổ của nền kinh tế và dừng lại khi thị trường chứng khoán sụp đổ vào
năm 2000. Giai đoạn này được đặc trưng bởi các thương vụ tái cơ cấu lớn
trong toàn ngành công nghiệp. Làn sóng thứ sáu bắt đầu vào khoảng giữa năm
2003. Giai đoạn này, hoạt động mua bán, sáp nhập phát triển cùng với sự
phục hồi của nền kinh tế và thị trường tài chính sau cuộc suy thoái đã xảy ra
vào năm 2000 [53]. Theo xu hướng tự do hóa tài chính và xóa bỏ những hạn
chế về đầu tư, các nền kinh tế Đông Á cũng tham gia vào lĩnh vực mua bán,
sáp nhập doanh nghiệp từ giữa những năm 1980. Đi đầu trong hoạt động này
phải kể đến những nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,
Hồng Kông [50].

NHTMCP Thạnh Thắng được sáp nhập vào NHTMCP Sài Gòn thương tín
năm 2001; NHTMCP Nông thôn Tây Đô sáp nhập vào NHTMCP Phương
Đông năm 2003.
Với quy mô nhỏ của các NH bị sáp nhập, việc chuyển các quyền và
nghĩa vụ trong hoạt động của TCTD cổ phần được sáp nhập (gồm tiền gửi,

12


tiền vay, các khoản đầu tư, cho vay, công nợ các khoản phải thu phải trả...)
sang TCTD nhận sáp nhập cũng đơn giản hơn. Cùng với đó thì quyền lợi,
nghĩa vụ và trách nhiệm của các cổ đông của TCTD cổ phần được sáp nhập
cũng được giải quyết trên cơ sở tự thoả thuận giữa hai chủ thể. Trên thực tế,
với kinh nghiệm sáp nhập của mình, NHTMCP Phương Nam đã tiến hành
nhiều thương vụ nhận sáp nhập nhằm nâng cao năng lực, mở rộng quy mô
hoạt động mà không gây ra những rắc rối xung quanh vấn đề sáp nhập. Một
số các giao dịch sáp nhập NH khác trong thời gian này cũng không đặc biệt
gây nhiều ấn tượng về mặt pháp lý mặc dù hàng lang pháp luật cho hoạt động
sáp nhập có nhiều hạn chế.
Chính vì vậy trong khoảng thời gian hơn chục năm kể từ khi Quy chế sáp
nhập, hợp nhất, mua lại TCTD cổ phần Việt Nam năm 1998 được ban hành,
nhu cầu xây dựng văn bản mới thay thế Quy chế này vẫn chưa thật sự bức
thiết. Chỉ đến khi chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
năm 2008, một trong những chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nhằm chủ động
ứng phó với tác động từ cuộc khủng hoảng trên là việc NHNN sớm xây dựng,
trình Chính phủ ban hành quy định về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại, phá
sản những NH gặp vấn đề, để có căn cứ pháp lý thực hiện chủ trương về cơ
cấu lại đối với những NH thương mại và tổ chức tín dụng yếu kém, bảo đảm
sự lành mạnh, an toàn của cả hệ thống.
Chúng ta có thể thấy đến giai đoạn này thì nhu cầu sáp nhập NH không

nhiên ý nghĩa nội hàm của chúng không thay đổi.
Theo từ điển luật học “mua lại và sáp nhập” là sự kết hợp của hai hay
nhiều công ty khi một trong hai công ty bị hấp thụ bởi công ty còn lại. Công
ty yếu hơn sẽ mất đi tư cách pháp lý và trở thành một phần của công ty mạnh
hơn - chủ thể vẫn giữ lại tư cách pháp lý của mình. Bên nhận sáp nhập sẽ triệt
tiêu bên được sáp nhập và công ty tồn tại sẽ tiếp nhận tất cả các quyền, lợi ích
và nghĩa vụ của bên được sáp nhập [47]. Trong cuốn sách hướng dẫn về mua

14


lại, sáp nhập của Công ty xuất bản Delta cũng ghi nhận khái niệm sáp nhập
tương tự như trên. Sáp nhập là khi hai hay nhiều công ty kết hợp với nhau
thành một thực thể và chỉ công ty nhận sáp nhập tiếp tục tồn tại tư cách pháp
lý. Thông thường bên mạnh hơn sẽ là bên nhận sáp nhập. Khái niệm này cũng
được đưa ra so sánh những điểm khác biệt so với khái niệm hợp nhất. Theo
đó hợp nhất là khi hai hay nhiều công ty cùng kết hợp tạo ra một công ty mới.
Tất cả các công ty tham gia kết hợp sẽ chấm dứt tư cách pháp lý của mình
[51]. Trong tài liệu nghiên cứu về mua lại sáp nhập của trường Đại học Kinh
doanh Edinburgh, thuộc trường Đại học Heriot-Watt cũng đưa ra nội dung các
khái niệm trên với nội hàm tương tự. Tài liệu cũng chỉ ra một số điểm khác
nhau giữa “mua lại” và “sáp nhập”. Trong một giao dịch sáp nhập, quá trình
thương lượng, đàm phán giữa các bên thường được thực hiện trước khi đi đến
sự kết hợp giữa chúng. Còn trong giao dịch mua lại, quá trình thương lượng
không nhất thiết cần thực hiện vì vậy có thể xuất hiện mua lại với tính chất
thân thiện hoặc thù địch [49].
Sáp nhập NH là sự kết hợp của hai hay nhiều NH khi một hoặc một số
NH bị hấp thụ bởi NH còn lại. Bên yếu hơn sẽ mất đi tư cách pháp lý và trở
thành một phần của bên mạnh hơn - chủ thể vẫn giữ lại tư cách pháp lý của
mình. Bên nhận sáp nhập sẽ triệt tiêu bên được sáp nhập và bên tồn tại sẽ tiếp

nhìn cụ thể và toàn diện hơn về khái niệm này.
* Khái niệm NHTMCP
NH bắt đầu hoạt động từ việc giữ các đồ vật quý cho những người chủ
sở hữu nó. Đổi lại,người chủ sở hữu phải trả cho người giữ một khoản
phí. Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa thì NH ra đời và phát
triển thành một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế.
Dựa trên những góc độ khác nhau về chức năng, vai trò hay hoạt động
mà định nghĩa về NH có thể được hiểu cụ thể. Cách tiếp cận thận trọng nhất
là có thể xem xét các tổ chức này trên phương diện loại hình dịch vụ mà

16


chúng cung cấp: “NH là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các
dịch vụ tài chính đa dạng nhất-đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh
toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một chức
kinh doanh nào trong nền kinh tế” [18]. Bên cạnh đó, tùy từng hoàn cảnh,
điều kiện lịch sử khác nhau của mỗi quốc gia các loại hình NH khác nhau
cũng được hình thành.Trong đó NHTM là loại hình không thể thiếu và thường
chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần, số lượng các NH.
NHTM được biết đến như là một định chế tài chính mà đặc trưng là
cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi,
cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán, ngoài ra còn nhiều dịch vụ khác
nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Ở Việt Nam,
NHTM là một loại hình NH được thực hiện tất cả các hoạt động NH: nhận
tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản và các hoạt
động kinh doanh khác theo quy định của Luật TCTD 2010 nhằm mục tiêu lợi
nhuận. NHTM trong nước được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, trừ
NHTM nhà nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty THHH một
thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ. Vì vậy, khi nhắc đến

số điểm đặc thù chúng ta có thể thấy được như sau:
Một là, để đi đến sáp nhập NHTM cần phải tuân theo những điều kiện
nghiêm ngặt hơn so với các doanh nghiệp đơn thuần khác. Ngoài việc không
vi phạm những điều khoản về ngăn chặn tập trung kinh tế, NHTM muốn tiến
hành sáp nhập cần phải tuân thủ nhiều điều kiện khác như: bắt buộc phải có
Đề án sáp nhập bao gồm tối thiểu các nội dung nhất định theo quy định của
pháp luật; yêu cầu về mức vốn, tài sản; thời gian thành lập.
Hai là, để sáp nhập NHTM đòi hỏi phải có sự chấp thuận của cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền.Trong trường hợp này, chủ thể có thẩm quyền cũng
có thể là cơ quan khác so với trong một thương vụ sáp nhập doanh nghiệp đơn thuần.

18


Ba là, trình tự, thủ tục sáp nhập cần tuân thủ nghiêm ngặt theo những
bước được ghi nhận cụ thể trong luật. Trình tự và thủ tục này so với quy trình
áp dụng ở các doanh nghiệp thì mức độ phức tạp cao hơn. Việc xác định,
thẩm định giá trị của NH cũng cần phải tuân thủ theo những quy trình, cách
thức riêng xuất phát từ các hoạt động mang tính đặc thù của tổ chức tín dụng.
Bốn là, bên cạnh vấn đề về quyền lợi, nghĩa vụ của NHTM tham gia sáp
nhập thì quyền lợi và nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân có liên quan cũng
cần phải đảm bảo giải quyết triệt để. NH thực hiện các nghiệp vụ huy động
vốn để cho vay rộng rãi trong nhân dân, chỉ cần một bất ổn nhỏ xuất phát từ
một NH cũng có thể gây mất niềm tin vào cả hệ thống gây ra những hiệu ứng
không tốt cho nền kinh tế. Vì vậy ngoài các quyền lợi cần được đảm bảo như
trong một thương vụ sáp nhập doanh nghiệp thì các quyền lợi mang tính chất
đặc thù trong sáp nhập NH cũng cần được ghi nhận và bảo vệ bởi luật, điển
hình như Luật Bảo hiểm tiền gửi.
Trên đây là một số đặc điểm nổi bật của hoạt động sáp nhập NH. Xuất
phát từ những đặc điểm trên mà các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động

NHNN đã ban hành Thông tư 04/2010/TT-NHNN quy định việc sáp nhập,
hợp nhất, mua lại TCTD gồm: NHTM, công ty tài chính, công ty cho thuê tài
chính, TCTD hợp tác. Thông tư này cũng đang được nghiên cứu để sửa đổi và
hoàn thiện hơn nữa. Các quy định về sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài
vào Việt Nam cũng được thay đổi cho phù hợp với lộ trình gia nhập Tổ chức
thương mại thế giới của nước ta.
Bên cạnh đó, tham gia vào hoạt động sáp nhập trong lĩnh vực tài chính
nói chung và lĩnh vực NH nói riêng tại Việt Nam là một trong những chiến
lược của các tập đoàn tài chính NH nước ngoài. Trong những năm gần đây, từ
điều kiện thuận lợi của chính sách mở cửa hội nhập, các tập đoàn tài chính
NH nước ngoài đã lựa chọn các NH Việt Nam làm đối tác như một chiến lược
cho kế hoạch thâm nhập ngành tài chính nước ta của các tập đoàn này. Các

20


NHTM được lựa chọn đều là những NHTM cổ phần hàng đầu, có uy tín, có
kết quả làm ăn tốt. Đây là một khoản đầu tư lâu dài, đảm bảo sinh lợi cao và
an toàn. Ngoài ra việc thâu tóm các NH nhỏ thông qua các chiến lược thu
gom cổ phiếu cũng hoàn toàn có thể xảy ra.
Như vậy, xu hướng sáp nhập và mua lại là tất yếu, thời điểm sáp nhập
đã chính muồi, phù hợp với chủ trương và chỉ đạo của Chính phủ trong giai
đoạn hiện nay. Đồng thời việc liên kết, sáp nhập sẽ tăng năng lực cạnh tranh
là con đường tất yếu của các NH Việt Nam trong quá trình hội nhập và nhất là
để chống đỡ với cuộc khủng hoảng tài chính đến từ nước ngoài.
Ngoài ra, sự ra đời các tổ chức tư vấn mua lại và sáp nhập ngày càng
nhiều tại Việt Nam là yếu tố hỗ trợ cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu sáp nhập
của các doanh nghiệp và NH thực hiện hoạt động này. Bởi vì, khi thiết lập
giao dịch sáp nhập, vai trò của các tổ chức tư vấn rất quan trọng để đảm bảo
cho giao dịch đúng giá, đúng pháp luật, bảo vệ được quyền lợi và lợi ích của

không đạt được. Do đó tiến hành sáp nhậptheo phương thức trực tiếp như trên
có thể thấy có nhiều ưu điểm nhưng cũng có những hạn chế.


Phương thức chào mua cổ phiếu công khai

Theo phương thức này một bên có thể thực hiện chào mua công khai
công khai một số lượng cổ phiếu nhất định của bên NH mục tiêu, theo điều
kiện và trong một thời gian cụ thể và bên chào mua không rút lại ý định mua
hay thay đổi điều kiện trong suốt thời gian này.
Theo đó, NHTM muốn thực hiện sáp nhập có thể đã là cổ đông hoặc
chưa là cổ đông của NHTM mục tiêu phải:
Áp dụng các điều kiện chào mua công khai với tất cả cổ đông của công
ty bị chào mua; Áp dụng chế độ công bố thông tin cho các cổ đông về ý định
sẽ trả một giá nào đó trong một thời gian nhất định và cam kết sẽ mua cổ
phiếu. Giá được chào mua có thể cao hơn giá thị trường rất nhiều, bởi nó phải
đủ hấp dẫn để đa số cổ đông tán thành việc từ bỏ quyền sở hữu và quản lý của
mình; Mua cổ phiếu từ bất kỳ cổ đông nào theo điều kiện đã công bố; Chấp

22


hành đúng thời hạn chào mua công khai. Nếu các cổ đông của NHTM mục
tiêu chấp nhận chào mua thì việc chào mua công khai đã thành công.


Phương thức thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.

Thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán là phương thức NH chủ
động có ý định thâu tóm sẽ tiến hành mua dần cổ phiếu của NH mục tiêu

nhiên, theo Đạo luật thì Tòa án tối cao có thể phán quyết rằng tất cả các vụ
sáp nhập giữa các công ty cạnh tranh trực tiếp tạo thành một sự kết hợp hạn
chế thương mại là vi phạm Luật trên. Quy định này cản trở việc tạo ra các độc
quyền mới thông qua hình thức sáp nhập ngang. Sự sáp nhập giữa các NH lớn
cùng cung cấp những dịch vụ như nhau có thể chưa đến mức tạo ra độc quyền
những cũng tạo ra những yếu tố gây cạnh tranh không lành mạnh. Đến năm
1914, Đạo luật Clayton về chống độc quyền được Quốc hội Mỹ thông qua
nhằm làm rõ hơn các quy định của Đạo luật Sherman.
Tiếp theo các “đợt sóng” sáp nhập xuất hiện ở trên, các “đợt sóng” khác
nhau được diễn ra và đều có mục đích khá giống nhau: độc quyền, độc quyền
nhóm bán, sáp nhập thành tập đoàn. Chính vì vậy trên thế giới, hoạt động sáp
nhập được xem xét, điều tiết chủ yếu từ góc độ của pháp luật về cạnh tranh:
kiểm soát tập trung kinh tế.
Ở Mỹ các cơ quan giám sát NH đã tạo điều kiện cho những hoạt động
mua lại và sáp nhập, đặc biệt là giữa các NH có quy mô vừa và lớn bằng cách
bãi bỏ những rào cản về thị phần của các NH bán lẻ. Đạo Luật NH năm 1933
đặt ra rào cản về sản phẩm và phạm vi địa lý đối với các TCTD và hạn chế
việc mở chi nhánh trong nội bộ một Bang nhằm giảm thiểu rủi ro. Đạo luật
Celler-Kefauver được ban hành năm 1950 - sửa đổi Đạo luật Clayton với mục
đích là tăng cường pháp luật chống lại sự độc quyền mạnh mẽ được tạo ra
thông qua sáp nhập. Từ những năm 1960, sự ra đời của các công ty nắm giữ
NH đã tạo ra một lối thoát giúp các TCTD vượt qua các quy định kỹ thuật về

24


sản phẩm và địa lý. Theo đó, các chi nhánh ở các Bang khác nhau được tổ
chức lại thành các NH con thuộc một công ty sở hữu nhiều NH. Khuôn khổ
pháp lý này khiến cho hệ thống NH phình ra với số lượng lớn. Do đó, xu
hướng hoạt động mua lại và sáp nhập trong lĩnh vực NH vẫn tiếp tục phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status