Pháp luật về quản trị, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần ở việt nam - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ LAN ANH

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ, ĐIỀU HÀNH
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ LAN ANH

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ, ĐIỀU HÀNH
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Thị Thu Thủy

1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của quản trị, điều hành NHTMCP ............. 10
1.2. Các mô hình quản trị, điều hành NHTMCP ....................................... 16
1.3. Các cơ quan quản trị, điều hành trong NHTMCP .............................. 18
1.4. Các nguyên tắc quản trị, điều hành NHTMCP ................................... 19
1.4.1. Các nguyên tắc của OECD.......................................................... 19
1.4.2. Các nguyên tắc Basel về quản trị công ty .................................... 24
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ, ĐIỀU HÀNH
NHTMCP Ở VIỆT NAM ............................................................................. 29
2.1. Sơ lược pháp luật về quản trị, điều hành NHTMCP ở Việt Nam........ 29
2.2. Cơ quan quản trị, điều hành NHTMCP theo quy định pháp luật Việt
Nam hiện hành ......................................................................................... 35
2.2.1. ĐHĐCĐ...................................................................................... 35
2.2.2. Hội đồng quản trị ........................................................................ 43
2.2.3. Ban kiểm soát ............................................................................. 50
2.2.4. Tổng giám đốc (Giám đốc) ......................................................... 57
2.2.5. Mối quan hệ giữa các cơ quan trong tổ chức bộ máy quản trị, điều
hành NHTMCP .................................................................................... 60
2.3. Những vấn đề đặt ra từ thực trạng pháp luật về quản trị, điều hành
NHTMCP ở Việt Nam.............................................................................. 60


2.3.1. Vấn đề tách bạch giữa sở hữu và điều hành ................................ 60
2.3.2. Vấn đề bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số............................. 62
2.3.3. Thẩm quyền của các cơ quan quản trị, điều hành NHTMCP ....... 65
2.3.4. Về thành viên HĐQT độc lập...................................................... 72
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ QUẢN TRỊ, ĐIỀU HÀNH NHTMCP Ở VIỆT NAM ................. 75
3.1. Những định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật về quản trị, điều hành
NHTMCP ở Việt Nam.............................................................................. 75
3.1.1. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng, phát


Ban kiểm soát

2

CTCP

Công ty cổ phần

3

ĐHĐCĐ

Đại hội đồng cổ đông

4

HĐQT

Hội đồng quản trị

5

NHNN

Ngân hàng nhà nước

6

NHTM

Luật Doanh nghiệp năm 2005, Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày
16/07/2009 về tổ chức và hoạt động của NHTM, Thông tư số 06/2010/TTNHNN ngày 26/02/2010 hướng dẫn về tổ chức, quản trị, điều hành, vốn điều
lệ, chuyển nhượng cổ phần, bổ sung, sửa đổi giấy phép, điều lệ của NHTM.
Trong đó, sự ra đời của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã khắc phục
được một số quy định tồn tại về quản trị, điều hành NHTM như: nhiệm vụ,
quyền hạn của HĐQT và Tổng giám đốc chưa được phân định rõ ràng và hợp
1


lý dẫn đến tình trạng có những ngân hàng, HĐQT can thiệp quá sâu vào việc
điều hành hoặc ngược lại, có những ngân hàng Ban điều hành lấn át HĐQT...,
hay chưa có chế độ báo cáo và công bố thông tin rõ ràng, minh bạch dẫn đến
tình trạng thông tin bất cân xứng. Tuy nhiên, hệ thống văn bản điều chỉnh vấn
đề quản trị, điều hành ngân hàng hiện nay thực sự vẫn chưa tương đồng, chưa
nghiên cứu áp dụng triệt để các nguyên tắc chung về quản trị của thế giới (các
nguyên tắc quản trị ngân hàng lành mạnh của Ủy ban Basel; các nguyên tắc của
OECD) và còn nhiều bất cập như quy định về thành viên HĐQT độc lập, về số
vốn tối thiểu của Chủ tịch HĐQT,…làm hạn chế hiệu quả quản trị, điều hành
ngân hàng.
Từ năm 2011 và nhất là từ đầu năm 2012 đến nay, vấn đề chất lượng
hoạt động của các ngân hàng đang bộc lộ nhiều vấn đề đáng báo động, vấn đề
thanh khoản và nợ xấu tăng lên không ngừng. Ngoài những nguyên nhân
khách quan do điều kiện, hoàn cảnh của nền kinh tế tác động thì hạn chế về
quản trị, điều hành ngân hàng cũng là một yếu tố gây ảnh hưởng không nhỏ.
Trong đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015 của
Thủ tướng Chính phủ, một định hướng quan trọng được đề ra là cơ cấu lại hệ
thống quản trị. Đặc biệt, ngày 26 tháng 11 năm 2014, tại Kỳ họp thứ 8, Quốc
hội khóa XIII đã thông qua Luật Doanh nghiệp năm 2014, hiệu lực thi hành từ
ngày 01/7/2015 với những thay đổi trong quy định về cơ cấu tổ chức quản trị,
điều hành một công ty cổ phần sẽ trở thành cơ sở pháp lý quan trọng cho các

chức quản lý nội bộ CTCP – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” Luận văn
thạc sĩ luật học của Cao Thị Kim Trinh, năm 2004; “Bảo vệ quyền lợi của cổ
đông trong CTCP theo pháp luật Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực
tiễn” Luận văn thạc sỹ luật học của Bùi Minh Nguyệt, năm 2010.
Từ những năm 2000 cho đến nay, khi lĩnh vực ngân hàng phát triển
mạnh mẽ ở nước ta, đặc biệt từ năm 2006, hàng loạt ngân hàng nông thôn địa
3


phương chuyển đổi thành ngân hàng đô thị thì vấn đề quản trị, điều hành
NHTMCP đặt ra rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu. Tuy nhiên, thực tế những
công trình nghiên cứu, những bài viết về vấn đề này còn rất ít. Ở Việt Nam
hiện nay, ngoài một số bài báo đề cập hoặc nghiên cứu các khía cạnh của vấn
đề quản trị, điều hành trong NHTMCP và các công trình nghiên cứu về quản
trị trong CTCP như kể trên, thì các công trình nghiên cứu đầy đủ về vấn đề
quản trị cho NHTMCP vẫn chưa nhiều. Năm 2009 có công trình: “Pháp luật
về quản trị NHTMCP ở Việt Nam” - Luận văn thạc sỹ luật học của Nguyễn
Thị Phong Thủy. Tuy nhiên, công trình này được nghiên cứu khi Luật các tổ
chức tín dụng năm 2010 chưa được ban hành, vì vậy kiến nghị trong luận văn
chỉ phù hợp với giai đoạn trước năm 2011 (thời điểm Luật các tổ chức tín
dụng 2010 có hiệu lực).
Việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật về quản trị, điều hành NHTMCP ở
Việt Nam” hiện nay vẫn là cần thiết nhằm tìm ra những bất cập và đề xuất
giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này và nâng cao hiệu quả quản trị
điều hành NHTMCP ở Việt Nam.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu tổng quát
Luận văn tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về quản trị, điều hành
NHTMCP; phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về
vấn đề này tại một số NHTMCP. Trên cơ sở đó nêu ra những bất cập và giải

6. Phương pháp nghiên cứu
Để tiếp cận nghiên cứu đề tài này một cách hệ thống và hiệu quả, tác
giả sử dụng tổng hợp các phương pháp: phân tích luật, so sánh, tổng hợp,
thống kê, khảo sát, diễn giải, suy luận logic để làm rõ quy định của pháp luật

5


Việt Nam về vấn đề quản trị, điều hành NHTMCP và thực trạng áp dụng pháp
luật ở một số ngân hàng của Việt Nam.
7. Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu tại thành phố Hà Nội là một trong hai thành
phố lớn của cả nước, nơi mà hoạt động ngân hàng diễn ra sôi động và đa dạng
nhất, yêu cầu về quản trị ngân hàng đặt ra cấp thiết hơn bất cứ nơi nào. Sự
cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước với nhau và sự cạnh tranh giữa các
ngân hàng trong nước với ngân hàng ngoại ngày càng khốc liệt đòi hỏi các
ngân hàng ngày càng phải nâng cao năng lực về mọi mặt, đặc biệt là năng lực
quản trị điều hành ngân hàng.
Chính vì vậy, việc đi sâu tìm hiểu vấn đề pháp luật về quản trị, điều
hành ngân hàng có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.
8. Bố cục của luận văn
Bố cục của luận văn bao gồm các phần sau đây:
Phần mở đầu
Chương 1. Những vấn đề lý luận về quản trị, điều hành NHTMCP
Chương 2. Thực trạng pháp luật về quản trị, điều hành NHTMCP ở
Việt Nam
Chương 3. Định hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản
trị, điều hành NHTMCP
Kết luận chung
Danh mục tài liệu tham khảo

những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của
7


công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng
tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài
chính” [55]. Ở Ấn Độ, NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay
hay tài trợ đầu tư. Còn ở Thổ Nhĩ Kỳ, NHTM là hội trách nhiệm hữu hạn thiết
lập nhằm mục đích nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái,
nghiệp vụ công hối phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mượn khác…
[26, tr.13-14]. Như vậy, dù khác nhau song các định nghĩa trên đây đều tiếp
cận khái niệm NHTM thông qua hoạt động nghiệp vụ của nó.
Ở Việt Nam, tại khoản 2, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy
định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả
các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng”. Theo
đó, NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm
mục tiêu lợi nhuận. Như vậy, cơ sở phân biệt NHTM với các hình thức ngân
hàng khác là ở “mục tiêu lợi nhuận”.
Khi NHTM được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần thì có tên gọi
cụ thể là NHTMCP. Ở Việt Nam hiện nay, trong 05 NHTM nhà nước thì có
03 ngân hàng đã cổ phần hóa (NHTMCP Ngoại thương Việt Nam –
Vietcombank, NHTMCP Công thương Việt Nam – Vietinbank, NHTMCP
Đầu tư và phát triển Việt Nam); còn tất cả các NHTM tư nhân đều được tổ
chức dưới hình thức công ty cổ phần [62, số liệu tính đến cuối năm 2014].
Từ những nhận thức trên, có thể hiểu NHTMCP là loại hình tổ chức tín
dụng được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần; được thực hiện tất cả các
hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của
pháp luật.
Xuất phát từ định nghĩa như vậy thì vấn đề quản trị, điều hành

trong việc sử dụng, phân bổ nguồn vốn huy động từ xã hội, các hoạt động của
9


loại hình doanh nghiệp này có ảnh hưởng lớn đến sự ổn định xã hội, kinh tế
đất nước, nếu đổ vỡ sẽ có thể gây tổn thất lớn và trên phạm vi rộng. Tại cùng
một thời điểm, các ngân hàng chịu rủi ro hơn về quản trị so với doanh nghiệp
thông thường vì tính không rõ ràng hay cụ thể hơn là phạm vi cát cứ, chuyển
rủi ro, lợi ích của cá nhân và sự chiếm dụng công khai (hoạt động ngầm, hoạt
động cho vay nội gián, chiếm đoạt…) lớn hơn so với các doanh nghiệp phi tài
chính. Việc quản lý thiếu nghiêm túc, sự lạm dụng quyền lực trong nội bộ một
số NHTMCP là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng, đe dọa hoạt động và sự
ổn định của cả hệ thống tổ chức tín dụng. Sự khủng hoảng của hệ thống các tổ
chức tín dụng trong thời gian qua và mối liên quan trực tiếp từ sự khủng
hoảng của kinh doanh bất động sản là một minh chứng hết sức rõ nét cho tầm
ảnh hưởng của hệ thống các tổ chức tín dụng nói chung và NHTMCP nói
riêng tới toàn bộ hoạt động của nền kinh tế. Do đó, việc đặt ra những quy định
pháp lý chặt chẽ điều chỉnh hoạt động của các NHTMCP trong đó đặc biệt là
hoạt động quản trị, điều hành là vô cùng quan trọng. Đây cũng chính là công
cụ để Nhà nước kiểm soát, điều hành sự vận động của kinh tế vĩ mô, trong đó
có hoạt động kinh doanh tiền tệ.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của quản trị, điều hành NHTMCP
1.1.2.1. Khái niệm quản trị, điều hành NHTMCP
Xuất phát từ sự khác nhau về nguồn gốc thể chế pháp luật, đặc tính
quốc gia, văn hóa và trình độ phát triển của thị trường tài chính mà quan niệm
và nội dung của quản trị, điều hành NHTMCP ở các quốc gia khác nhau có
nhiều điểm không tương đồng. Cuốn “Các nguyên tắc quản trị công ty” xuất
bản năm 2004 của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái
niệm: “Quản trị công ty là một hệ thống các cơ chế, các hành vi quản lý. Cơ
chế này xác định việc phân chia các quyền và nghĩa vụ giữa cổ đông, HĐQT,

toàn khác với cách hiểu “quản trị kinh doanh” thường được hiểu là tri thức và
11


kỹ năng của những người quản lý. Quản trị kinh doanh chính là áp dụng các
nguyên tắc và lý luận của khoa học quản trị vào việc quản trị một cơ sở kinh
doanh là một quá trình, một hoạt động có hướng đích, có tổ chức của chủ thể
quản trị (nhà quản trị) lên đối tượng quản trị (cấp dưới) để điều hành, phối
hợp các nguồn lực (tài sản hữu hình, tài sản vô hình, thời gian và các mối
quan hệ) trong điều kiện cạnh tranh thị trường nhằm đạt được mục đích kinh
doanh với hiệu quả cao.
Đối với các ngân hàng, quản trị tốt phải bao gồm 5 yếu tố chủ yếu, bao
gồm: sự công bằng giữa các cổ đông, tạo điều kiện cho cổ đông đóng góp ý
kiến về mục tiêu của ngân hàng và tiếp cận các nguồn thông tin; minh bạch
thông tin, nhất là về tầm nhìn chiến lược, các chính sách, tình hình tài chính,
cơ cấu quản lý, cổ đông, quản trị rủi ro; tinh thần trách nhiệm, cần phân định
trách nhiệm rõ ràng giữa các phòng ban, xây dựng các thông số đánh giá hoạt
động và hệ thống khen thưởng rõ ràng; sự tuân thủ, các ngân hàng cần hoạt
động kinh doanh một cách thận trọng, đảm bảo tuân thủ các qui định hiện
hành; sự độc lập, ngân hàng cần đưa ra quyết định khách quan, không chịu áp
lực của các bên liên quan, phải ngăn ngừa sự chi phối của các cổ đông và
tránh phát sinh các xung đột lợi ích.
Nếu như trước đây, NHTM nhà nước chiếm phần lớn thị phần (theo
báo cáo của NHNN năm 2007, 05 NHTM thuộc sở hữu nhà nước chiếm
khoảng 80% tổng sản phẩm của các NHTM, các khoản cho vay của NHTM
thuộc sở hữu nhà nước chiếm gần 80% trong tổng số dư nợ ngân hàng) thì
đến nay, cùng với sự củng cố và phát triển của NHTMCP và quá trình cổ
phần hóa các NHTM Nhà nước (NHTMCP Ngoại thương Việt Nam,
NHTMCP Công thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt
Nam), vị thế và vai trò của hệ thống NHTMCP đã thay đổi, giữ vị trí chủ đạo

mà có sự gắn kết chặt chẽ với nhau, trong quản trị có điều hành, trong điều
13


hành thể hiện yếu tố quản trị. Có thể coi điều hành là hoạt động triển khai kết
quả của quản trị. Quản trị và điều hành là hai mặt hoạt động của ngân hàng;
chúng hỗ trợ nhau tạo nên hiệu quả của hoạt động ngân hàng. Nếu như quản
trị công ty tập trung vào các cơ cấu và các quy trình của công ty nhằm đảm
bảo sự công bằng, minh bạch, tính trách nhiệm và giải trình thì điều hành
công ty tập trung vào các công cụ cần thiết để tổ chức thực hiện các hoạt động
của công ty. Nói cách khác, trong khi điều hành phần nhiều mang tính nghiệp
vụ ngân hàng thì quản trị mang tính tổ chức nội bộ.
Phạm vi đề tài này đề cập đến những vấn đề liên quan đến tổ chức nội
bộ đối với các cơ quan quản lý, điều hành trong ngân hàng và những quy định
pháp luật liên quan, cụ thể là việc phân định rõ quyền hạn và nghĩa vụ giữa
các thành viên, cơ quan trong ngân hàng như các cổ đông, HĐQT, BKS, Ban
điều hành và các quan quan giúp việc khác.
1.1.2.2. Đặc điểm của quản trị, điều hành NHTMCP
Các NHTMCP - bản chất là các doanh nghiệp, song là các doanh
nghiệp đặc biệt, cung cấp các dịch vụ về tài chính nhằm thu lợi nhuận, do vậy
hoạt động quản trị, điều hành không những tác động đến giá trị của ngân hàng
và giá vốn của họ mà còn tác động đến giá vốn của các doanh nghiệp và hộ
gia đình mà họ cho vay vốn. Công tác quản trị, điều hành tại ngân hàng sẽ tác
động trực tiếp không chỉ đến giá trị của ngân hàng mà còn tới vị thế và uy tín
của ngân hàng. Nói một cách tổng quát, vấn đề quản trị, điều hành tác động
đến khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng, là thước đo cho khả năng
chống đỡ của ngân hàng trước biến động của nền kinh tế. Không những thế,
hoạt động của ngân hàng tác động đến sự luân chuyển nguồn vốn của nền
kinh tế bởi lẽ các ngân hàng huy động và phân bổ tiết kiệm của xã hội.
Cũng bởi NHTMCP là các doanh nghiệp đặc biệt nên hoạt động của

tiêu chuẩn rõ ràng hoặc không tuân thủ các quy định về công bố thông tin và
không minh bạch.
15


1.2. Các mô hình quản trị, điều hành NHTMCP
Khi nghiên cứu về cơ cấu tổ chức hay cấu trúc quản trị nội bộ của các
công ty cổ phần nói chung và các ngân hàng cổ phần trên thế giới nói riêng,
người ta nhận thấy có hai mô hình cơ bản, đó là cấu trúc hội đồng hai lớp
(dual board hay two-tier board model) (còn có cách gọi khác là mô hình đa
hội đồng) và hội đồng đơn lớp (hay còn gọi là mô hình đơn hội đồng) (unitary
board hay one-tier board model). Việc tổ chức theo mô hình nào tùy thuộc
vào điều kiện thực tế và truyền thống, cơ chế pháp lý của từng nước.
Điển hình cho mô hình hội đồng hai lớp là mô hình các công ty cổ phần
của Đức và một số nước châu Âu. Trong pháp luật công ty của Đức, Áo,
Thụy Sĩ và Hà Lan hay một số nước châu Âu khác gồm có cấu trúc bộ máy
quản trị - điều hành đặc biệt. Ở Đức, mô hình này có hai cấp bậc, bậc trên là
Ban Giám sát (Supervisory Board) và bậc dưới là Ban Quản lý (Management
Board), trong đó các cổ đông và người lao động sẽ bầu chọn thành viên của
Ban giám sát. Theo đó, cấu trúc mô hình một công ty cổ phần nói chung sẽ
bao gồm ĐHĐCĐ, HĐQT, BKS và Tổng giám đốc (giám đốc).
Có thể hình dung mô hình hội đồng hai lớp như sau:
Đại hội đồng cổ đông

Ban Kiểm soát

Hội đồng quản trị

Tổng giám đốc (Giám đốc)
Sơ đồ mô hình Hội đồng hai lớp

luật Anh và Mỹ vì có sự tồn tại của thiết chế BKS, một cơ quan độc lập với
17


nhiệm vụ giám sát những người quản lý - điều hành ngân hàng (gồm cả HĐQT
và Ban điều hành). Cũng có nhiều quan điểm cho rằng mô hình quản trị Công
ty cổ phần nói chung và NHTMCP của Việt Nam nói riêng là hội đồng hai lớp.
Tuy mô hình này gần giống với mô hình hội đồng hai lớp trong pháp luật Đức,
song nó khác biệt ở chỗ BKS trong doanh nghiệp cổ phần ở Việt Nam do
ĐHĐCĐ bầu ra và có chức năng cơ bản nhất là giám sát công tác quản lý, điều
hành của HĐQT và BGĐ. Theo Điều 123 của Luật Doanh nghiệp 2005, BKS
không có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các thành viên của
HĐQT, tổng giám đốc và người quản lý công ty và tham gia quyết định các
vấn đề quan trọng của công ty như Hội đồng giám sát ở Đức.
1.3. Các cơ quan quản trị, điều hành trong NHTMCP
Dù được tổ chức theo mô hình nào thì cơ cấu bộ máy quản trị, điều hành
trong loại hình NHTMCP về cơ bản bao gồm các cơ quan chính, đó là: ĐHĐCĐ,
HĐQT, BKS và Ban điều hành. Đây là mô hình có tính chất phổ biến ở tất cả
các nước trên thế giới. Tuy nhiên, về các quy định cụ thể thì từng nước có những
quy định khác nhau nhất định, tùy theo hệ thống pháp luật, cách thức và mục
tiêu quản lý của mỗi Nhà nước. Ở Việt Nam, NHTMCP được tổ chức và hoạt
động trên cơ sở những quy định chung của Luật Doanh nghiệp về công ty cổ
phần và những quy định cụ thể của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Bộ máy
quản trị, điều hành của NHTMCP gồm: ĐHĐCĐ, HĐQT, BKS và Ban điều
hành. Theo Điều 95 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định “Công ty cổ phần có
ĐHĐCĐ, HĐQT và Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc; đối với công ty cổ phần có
trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50%
tổng số cổ phần của công ty phải có BKS…”.
Mặc dù sau ngày 01/7/2015 khi mà Luật Doanh nghiệp 2014 chính
thức có hiệu lực, thì công ty cổ phần có thể chọn một trong hai mô hình hoặc

thời duy trì ổn định tài chính, qua đó đóng góp cho sự phát triển của nền kinh
19


Trích đoạn Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng, phát Nâng cao năng lực quản trị, điều hành, tăng tính tự chủ cho các Bổ sung những quy định về điều kiện, tiêu chuẩn cho các chức Bổ sung những quy định pháp luật về chế độ công khai hóa, mức Bổ sung, hoàn thiện quy định pháp luật nhằm ngăn ngừa sự lạm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status