Tóm lược
Bước theo sau dự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới là sự đối mặt
với nhiều thách thức cho các NHTM Việt Nam. Sự cạnh tranh gay gặt buộc các
ngân hàng phải quan tâm nhiều hơn nữa đến hoạt động quản trị của mình để tránh
gặp phải rủi ro. Trong đó, KDNH là mảng kinh doanh mang nhiều rủi ro cho ngân
hàng do sự biến động khó lường của tỷ giá.
Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu những nguyên nhân gây ra RRTG mà
ngân hàng có thể gặp phải và thực trạng QTRRTG tại ngân hàng nhằm đưa ra
những mặt được và chưa được của mô hình QTRRTG. Từ đó, luận văn hướng đến
các giải pháp ở tầm vĩ mô để cải thiện môi trường KDNH và giải pháp ở tầm vi mô
ngân hàng để nâng cao hơn nữa hoạt động QTRRTG.
i
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Tóm lược iii
Mục lục iv
Danh mục các từ viết tắt viii
Danh mục các bảng, hình, sơ đồ viii
Lời mở đầu x
I. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu x
II.Mục tiêu nghiên cứu của đề tài xi
III. Đối tượng nghiên cứu xi
IV.Phạm vi nghiên cứu xi
V.Phương pháp nghiên cứu xi
VI.Kết cấu của đề tài xii
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối1
1.1 Tổng quan về thị trường ngoại hối 1
1.1.1 Khái niệm 1
1.1.2 Lịch sử hình thành 2
1.1.3 Các chủ thể tham gia và đặc điểm của thị trường ngoại hối 2
1.4.2 Vụ lừa đảo ở Ngân hàng Allied Irish (AIB)-2002 22
Kết luận chương 1 23
Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tỷ giá tại ngân hàng Ngoại thương Việt Nam24
2.1Giới thiệu sơ lược về Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 24
2.1.1 Lịch sử hình thành 24
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 24
2.1.3 Những thành tựu đạt được 25
2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh chủ yếu của Vietcombank từ 2009-2011 25
2.1.4.1 Tình hình hoạt động kinh doanh 25
2.1.4.2 Tình hình huy động vốn qua các năm 27
2.2 Tổng quan về môi trường kinh doanh ngoại tệ tại Việt Nam 28
2.3 Thực trạng kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 33
2.3.1 Các qui định về kinh doanh ngoại tệ 33
2.3.2 Đánh giá thực trạng kinh doanh ngoại tệ của Vietcombank 34
2.4 Thực trạng áp dụng quản trị rủi ro tỷ giá cho các hoạt động kinh doanh ngoại tệ
tại VCB 39
2.4.1 Các nguyên nhân gây ra rủi ro tỷ giá đối với hoạt động kinh doanh ngoại tệ
tại VCB 39
2.4.1.1 Giữ trạng thái ngoại hối mở 39
2.4.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá biến động theo hướng bất lợi 40
2.4.2 Mô hình quản trị rủi ro tỷ giá đang được áp dụng tại VCB 41
2.4.2.1 Cơ cấu tổ chức của phòng kinh doanh ngoại hối Vietcombank 42
2.4.2.2 Qui trình giao dịch ngoại hối ở Vietcombank 43
2.4.2.3 Thực trạng áp dụng quản trị rủi ro tỷ giá tại VCB 50
2.4.3 Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại tệ tại VCB
57
2.4.3.1 Ưu điểm 57
2.4.3.2 Hạn chế 58
Kết luận chương 2 61
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro tỷ giá trong kinh doanh
3.4.6.2 Phân cấp rõ ràng trong công tác kiểm soát rủi ro 83
3.4.6.3 Nâng cao vai trò và trách nhiệm của ban giám đốc và hội đồng quản
trị trong công tác quản trị rủi ro 84
Kết luận chương 3 85
Kết luận chung 86
Tài liệu tham khảo 87
Phụ lục 89
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NHNN: Ngân hàng Nhà Nước
TMCP: Thương mại cổ phần
VCB: Vietcombank
KDNH: kinh doanh ngoại hối
RRTG: rủi ro tỷ giá
QTRRTG: quản trị rủi ro tỷ giá
TCTD: tổ chức tín dụng
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH, SƠ ĐỒ
Bảng 1.1: Kết quả kinh doanh trong ngày của giao dịch giữa USD và EUR
Bảng 1.2: Tỷ trọng trạng thái ngoại hối của giao dịch kỳ hạn
Bảng 2.1: Tình hình hoạt động kinh doanh của VCB các năm 2009, 2010, 2011
Bảng 2.2: Tình hình dư nợ tín dụng của VCB qua các năm 2009, 2010, 2011
Bảng 2.3: Biểu phí giao dịch hoán đổi của NHNN
Bảng 2.4: Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh ngoại hối của một số ngân hàng
Bảng 2.5: Tình hình huy động ngoại tệ tại VCB năm 2009, 2010, 2011
v
Bảng 2.6: Doanh số mua bán ngoại tệ tại VCB từ 2008 – 2011
Bảng 2.7: Lợi nhuận kinh doanh ngoại hối theo từng loại nghiệp vụ của VCB năm
2009-2011
Bảng 2.8: Hạn mức giao dịch ngoại tệ tại VCB
Bảng 2.9: Doanh số giao dịch quyền chọn ngoại tệ tại VCB – HCM
tiến hơn so với các ngân hàng tư nhân. Tuy nhiên, nước ta đang trong quá trình hội
nhập với nền kinh tế thế giới, VCB nói riêng và các ngân hàng Việt Nam nói chung
đang phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ phía các ngân hàng nước ngoài với
vii
thế mạnh của họ là tiềm lực tài chính dồi dào. Nâng cao cạnh tranh bằng việc tăng
vốn nhanh và nhiều là khó có thể đối với một nước có nền kinh tế đang phát triển
như nước ta, biện pháp còn lại sẽ chỉ là nâng cao việc sử dụng vốn cho có hiệu quả
và mặt khác nâng cao chất lượng quản trị các họat động kinh doanh của ngân hàng
trong đó quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại tệ được đặt ra hàng đầu.
Vì vậy, việc nâng cao công tác quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối đặc
biệt là quản trị rủi ro tỷ giá là một việc làm hết sức cần thiết trong thời kỳ kinh tế
hội nhập như hiện nay. Xuất phát từ vấn đề trên đồng thời cũng đã có cơ hội trải qua
mười tuần thực tập tại ngân hàng VCB, tôi quyết định chọn đề tài “Quản trị rủi ro
tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối tại Ngân Hàng TMCP Ngoại Thương Việt
Nam” cho khóa luận của mình.
II. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro tỷ giá
trong kinh doanh ngoại hối tại VCB nhằm hạn chế những thiệt hai do tỷ giá gây ra.
Đồng thời qua đó cải thiện qui trình xử lý giao dịch và các kỹ thuật phòng ngừa rủi
ro tỷ giá nhằm thu hút nhiều khách hàng hơn nữa đến với ngân hàng, nâng cao vị
thế cũng như sức cạnh tranh của ngân hàng so với các NHTM khác trong nước.
III. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là rủi ro tỷ giá phát sinh trong hoạt động
kinh doanh ngoại hối của ngân hàng và các kỹ thuật phòng ngừa rủi ro tỷ giá trong
kinh doanh ngoại hối.
IV. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung chủ yếu vào hoạt động kinh doanh
ngoại hối và quản trị rủi ro tỷ giá tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
trong khỏang thời gian từ 2009-2011, có cập nhật tình hình mới của năm 2012.
V. Phương pháp nghiên cứu:
loại ngoại tệ.
Sở dĩ thị trường ngoại hối có thể hiểu theo nhiều nghĩa như vậy là từ thành
phần cấu thành nên thuật ngữ “ngoại hối”. Theo Pháp lệnh ngoại hối số
28/2005/PL-UBTVQH11, ngày 13/12/2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngoại hối bao gồm:
• Đồng tiền của quốc gia khác, đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung
khác được dùng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại
tệ).
• Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm: séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi
nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác.
• Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu
công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác.
• Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của
người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang
vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
• Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp
chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong
thanh toán quốc tế.
x
Tuy nhiên, trên thị trường ngoại hối, đối tượng mua bán chủ yếu là các
khoản tiền gửi ngân hàng được ghi bằng các đồng tiền khác nhau. Do vậy, trong
phạm vi nghiên cứu của khóa luận này cũng chỉ đề cập đến ngoại hối trong phạm vi
là ngoại tệ.
Như vậy có thể tóm lại, thị trường ngoại hối là nơi diễn ra các hoại động mua
bán và trao đổi các loại ngoại tệ thông qua quan hệ cung cầu. Việc trao đổi bao gồm
việc mua một đồng tiền này và bán đồng thời một đồng tiền khác theo từng cặp với
nhau.
1.1.2 Lịch sử hình thành
Hầu hết mỗi quốc gia hay một nhóm quốc gia liên kết (ví dụ như liên minh
châu Âu) đều sở hữu một đồng tiền riêng của mình, được tạm thời gọi là nội tệ.
vào hay bán ra một đồng tiền trên cơ sở phán đoán của mình về xu hướng biến động
tỷ giá. Việc đầu cơ cũng là một yếu tố làm tăng thanh khoản cho thị trường và làm
cho thị trường sôi động hơn.
Các nhà môi giới: là những người đóng vai trò trung gian giữa người mua và
người bán. Họ sẽ lựa chọn tỷ giá mua thấp nhất và tỷ giá bán cao nhất để tạo thành
giá chào tốt nhất cho người hỏi giá. Các nhà cung cấp dịch vụ bao gồm các tổ chức
cung cấp thông tin cập nhật thường xuyên về thị trường, tư vấn cho các khách hàng
như: Reuters, telerate… cũng có thể là nhà môi giới. Nhờ có các nhà môi giới đã
giúp cho việc giao dịch được nhanh chóng, từ đó tiết kiệm thời gian và chi phí hơn.
Thành viên cuối cùng thực hiện chức năng can thiệp trên thị trường ngoại
hối là NHTW: Nhằm thực hiện chính sách tiền tệ và quản lý ngoại hối, NHTW phải
ra tay để ổn định thị trường khi cung và cầu trên thị trường chênh lệch nhau quá
nhiều bằng việc mua vào hoặc bán ra ngoại tệ nhằm tác động trực tiếp lên giá trị đối
ngoại của nội tệ. NHTW có thể can thiệp bằng nhiều phương thức: trực tiếp với các
NHTM, hoặc thông qua nhà môi giới, hoặc qua thị trường giao dịch tương lai, hoặc
thông qua NHTW của các nước.
1.1.3.2 Đặc điểm của thi trường ngoại hối
Là thị trường phi tập trung: thị trường ngoại hối là một thị trường mang tính
toàn cầu, không giới hạn ở bất kỳ một vị trí địa lý nào. Hầu hết các giao dịch ngoại
hối được thực hiện trên thị trường phi tập trung. Tuy nhiên, có một phân khúc thị
trường là giao dịch tương lai được tiến hành giao dịch tập trung tại Sở giao dịch.
xii
Các giao dịch được thực hiện qua điện thoại, telex, fax và việc chênh lệch múi giờ
của các trung tâm giao dịch giúp cho thị trường hoạt động một cách liên tục 24/24
giờ một ngày (trừ ngày cuối tuần và ngày lễ). Chính vì thế mà thị trường ngoại hối
còn được gọi là thị trường “không ngủ”.
Là một thị trường cạnh tranh hoàn hảo: Với số lượng người bán và người
mua tham gia động đảo, việc gia nhập thị trường một cách dễ dàng và các sản phẩm
mua bán là đồng nhất.
Là một thị trường hoạt động hiệu quả: tính hiệu quả của thị trường thể hiện ở
lượng vàng của USD. Khoảng thời gian tồn tại của chế độ bản vị USD từ 1944-
1971 có thể chia thành hai giai đoạn: giai đoạn đầu (1944-1958) là giai đoạn khan
hiếm USD và giai đoạn còn lại (1959-1971) là giai đoạn bội thực USD. Việc đồng
USD được xem là chủ chốt khiến cho Mỹ phải tiến hành hỗ trợ tín dụng cho các
nước châu Âu và mở rộng sự xâm nhập của USD trên thế giới khiến cho tình trạng
cán cân thanh toán của Mỹ thâm hụt thường xuyên, đồng USD mất giá trên thị
trường tiền tệ. Trong khi đó dự trữ USD của các nước tăng lên gấp 4 lần giá trị vàng
trong kho của Mỹ. Không còn đủ sức đổi ra vàng khiến chế độ bản vị USD bị sụp
đổ vào năm 1971.
Các chế độ hình thành tỷ giá bị sụp đổ do tỷ giá vẫn chưa được xác định
đúng theo cách mà nó hình thành nên cuối cùng người ta đã phải thả nổi tỷ giá. Và
sau nhiều lần thay đổi người ta cũng nhận ra rằng khi các qui luật thị trường không
bị phá vỡ thì chế độ tiền tệ đó mới có thể tồn tại lâu dài.
1.2.2.2 Các yến tố tác động đến tỷ giá
Sự hình thành tỷ giá hối đoái là sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan và
khách quan. Nhưng phải kể đến trước tiên là các biến số kinh tế vĩ mô cơ bản vì
chúng có tác động quyết định và rõ ràng nhất. Cụ thể:
• Lạm phát (mức giá cả tương đối): được hiểu một cách chung nhất là sự tăng
lên về giá của hàng hóa dịch vụ trong nước so với thế giới. Điều này cũng có
nghĩa là nếu một nước có mức lạm phát cao thì cùng một loại hàng hóa, giá
nhập khẩu sẽ rẻ hơn giá cả trong nước, dẫn đến xuất khẩu giảm và nhập khẩu
xiv
tăng. Hệ quả là cung ngoại tệ giảm và cầu ngoại tệ tăng dẫn đến tỷ giá tỷ giá
tăng, đồng nội tệ mất giá.
• Lãi suất: khi xuất hiện sự chênh lệch lãi suất thực ở trong nước với nước
ngoài thì các luồng vốn sẽ đổ vào nước nào có lãi suất thực cao hơn. Nếu lãi
suất thực ở trong nước thấp hơn tương đối so với nước ngoài thì các tài sản
tài chính được ghi bằng đồng ngoại tệ sẽ trở nên hấp dẫn, cầu ngoại tệ tăng,
tỷ giá tăng và đồng nội tệ mất giá.
• Mức tăng trưởng thu nhập tương đối: nếu mức tăng trưởng thu nhập trong
• Tỷ giá thả nổi hoàn toàn: do cung cầu quyết định, NHTW không can thiệp.
• Tỷ giá thả nổi có điều tiết: được thả nổi nhưng có nhà nước can thiệp.
• Tỷ giá kinh doanh của các NHTM: gồm tỷ giá mua bán tiền mặt và tỷ giá
mua bán tiền chuyển khoản.
• Tỷ giá trên thị trường chợ đen là tỷ giá mua bán ngoại tệ hình thành tự phát
trên thị trường tự do, do quan hệ cung cầu ngoại hối quyết định.
Căn cứ vào tiêu thức thời điểm thanh toán:
• Tỷ giá giao ngay: tỷ giá được niêm yết bởi tổ chức tín dụng hoặc là được các
nhà giao dịch thỏa thuận, ký kết ở thời điểm hiện tại nhưng có ngày giá trị
trong vòng 2 ngày làm việc sau ngày ký kết hợp đồng.
• Tỷ giá kỳ hạn: là tỷ giá giao dịch do tổ chức tín dụng niêm yết hoặc do hai
bên giao dịch tự tính toán, thương lượng với nhau nhưng phải đảm bảo trong
biên độ qui định hiện hành của NHNN tại thời điểm ký kết hợp đồng và thời
điểm giao hàng là một thời điểm được xác định trong tương lai. Kỳ hạn của
các giao dịch này có thể từ 3 ngày đến 365 ngày.
Căn cứ vào tiêu thức thời điểm công bố:
• Tỷ giá mở cửa: là tỷ giá được công bố vào giờ đầu của ngày giao dịch tài
chính.
• Tỷ giá đóng cửa: là tỷ giá công bố vào giờ cuối cùng của ngày giao dịch tài
chính.
Căn cứ vào tiêu thức giá trị của tỷ giá:
• Tỷ giá danh nghĩa: là tỷ giá được yết và thực hiện trao đổi giữa hai đồng tiền
mà không đề cập đến tương quan sức mua giữa chúng.
• Tỷ giá thực: là tỷ giá đã được điều chỉnh theo sức mua tương quan giữa nước
có đồng tiền được yết giá và nước có đồng tiền định giá.
1.2.4 Rủi ro tỷ giá
xvi
RRTG là rủi ro phát sinh do sự thay đổi tỷ giá ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng
của một khoản ngoại tệ được qui về nội tệ trong tương lai. Trong NHTM, sự dịch
chuyển tỷ giá làm giá trị các tài sản Nợ, tài sản Có được ghi bằng ngoại tệ thay đổi
Trong đó: LFEP(t) – doanh số mua ngoại tệ trong kỳ tính toán (t).
SFEP(t) – doanh số bán ngoại tệ trong kỳ tính toán (t).
NFEP(t-1) – trạng thái ngoại hối ròng cuối kỳ trước (t-1).
NFEP(t) – trạng thái ngoại hối ròng cuối kỳ tính toán (t).
• Nếu NFEP(t) > 0: ngoại tệ có trạng thái ngoại hối trường ròng. Nếu ngoại tệ
đóng vai trò là đồng tiền yết giá, thì khi tỷ giá tăng sẽ tạo ra lãi ngoại hối và
khi tỷ giá giảm sẽ phát sinh lỗ ngoại hối đối với chủ thể nắm giữ ngoại tệ.
• Nếu NFEP(t) < 0: ngoại tệ có trạng thái ngoại hối đoản ròng. Nếu ngoại tệ
đóng vai trò là đồng tiền yết giá, thì khi tỷ giá tăng sẽ tạo ra lỗ ngoại hối và
khi tỷ giá giảm sẽ phát sinh lãi ngoại hối đối với chủ thể nắm giữ ngoại tệ.
• Nếu NFEP(t) = 0: ngoại tệ có trạng thái ngoại hối cân bằng. Những thay đổi
của tỷ giá đều không ảnh hưởng đến lãi hay lỗ ngoại hối.
Việc duy trì một trạng thái ngoại hối mở (trạng thái ngoại hối trường hoặc
trạng thái ngoại hối đoản) là một quyết định quan trọng trong kinh doanh bởi vì
điều này sẽ làm khiến cho nhà kinh doanh phải đối mặt với RRTG.
Trạng thái ngoại hối phát sinh ngay tại thời điểm ký kết hợp đồng mua bán
ngoại tệ, chứ không phải tại thời điểm xảy ra các luồng tiền giao dịch thực tế. Ví dụ,
nếu một hợp đồng kỳ hạn 3 tháng được ký kết ngày hôm nay, mua 1.000.000 USD
và thanh toán bằng VND tại tỷ giá 20,680 VND/USD, người mua sau khi ký kết
hợp đồng ngay lập tức ở trạng thái ngoại hối trường USD, cho dù các luồng tiền
giao dịch thực tế sẽ xảy ra sau 3 tháng nữa. Bởi việc chuyển giao quyền sỡ hữu sẽ
phát sinh ngay khi hợp đồng được ký kết chứ không chờ đến lúc thực hiện hợp đồng
mới phát sinh.
Đối với các NHTM, trạng thái ngoại hối ròng xảy ra khi có sự chênh lệch
giữa tổng tài sản Nợ và tổng tài sản Có (bao gồm cả nội bảng và ngoại bảng) của
ngoại tệ đó tại một thời điểm nhất định.
Một trạng thái ngoại hối mở đối với một ngoại tệ tại NHTM được tính như
sau:
Trạng thái ròng (i) = Trạng thái nội bảng (i) + Trạng thái ngoại bảng (i)
= [Tài sản có ngoại tệ (i)- Tài sản nợ ngoại tệ (i)]
xix
Việc quản trị RRTG phải được thực hiện theo một qui trình chặt chẽ và phù
hợp với đặc thù của từng tổ chức. Tuy nhiên nhìn theo một cách tổng quát thì qui
trình quản trị RRTG đều bao gồm 4 bước cơ bản: nhận diện RRTG, phân tích
RRTG, điều tiết RRTG và cuối cùng là việc giám sát.
1.3.3.1 Nhận diện rủi ro tỷ giá
Bước đầu tiên của một mô hình quản trị rủi ro hiệu quả bao giờ cũng là bước
nhận diện xem rủi ro nào là rủi ro của tổ chức đang gặp phải. Đối với mô hình quản
trị RRTG thì việc xác định mình đang mặc phải loại rủi ro gì là không cần thiết
trong NHTM. Chủ yếu của bước này sẽ là tìm hiểu nguyên nhân gây nên RRTG,
những nhân tố nào tác động và xu hướng ảnh hưởng để tử đó làm cơ sở nền tảng
cho các bước sau của mô hình thực hiện có hiệu quả.
Việc nhận diện có thể được tiến hành thông qua sự hiểu biết của nhân viên,
sự tư vấn của chuyên gia hoặc dựa vào số liệu thông kê, các công trình đã được
nghiên cứu từ trước… Không đòi hỏi sự sáng tạo nhưng rất cần sự cẩn trọng bởi
nếu như bước đầu tiên này xác định không đúng rủi ro thì việc đưa ra giải pháp cho
nó sẽ không làm ngân hàng được an toàn hơn.
1.3.3.2 Phân tích rủi ro tỷ giá
Đây cũng được xem là bước khá quan trọng. Chỉ có phân tích tốt mới có thể
tìm ra các biện pháp quản trị tốt nhất. Phân tích rủi ro là việc tìm thấy trước, xem
xét những kết quả và khả năng xuất hiện rủi ro trong những tình huống, trợ giúp cho
quá trình ra quyết định của các nhà quản trị. Nếu như bước nhận diện rủi ro dựa vào
các lý thuyết, đặc điểm để xác định RRTG xuất hiện khi nào thì ở bước này, công
việc quan trọng nhất là cụ thể hóa các rủi ro bằng cách chỉ ra: xác xuất xuất hiện
của rủi ro đó, định lượng tác động (thiệt hại) khi rủi ro xảy ra.
Hiện nay có ba phương pháp định lượng cơ bản thường được sử dụng, đó là:
Phương pháp kinh nghiệm: phương pháp này dựa vào kinh nghiệm của các
chuyên gia trong NHTM thường là các nhà quản trị hoặc các nhân viên giao dịch
lâu năm. Dựa trên các phán đoán của mình khi thị trường xảy ra các thay đổi làm
ảnh hưởng đến tỷ giá mà áp dụng các biện pháp phù hợp. Đây cũng là một biện
giảm nhiều hơn nếu ngân hàng chủ động phòng tránh trước.
xxi
Chuyển rủi ro: việc chuyển rủi ro đến một đối tác thứ ba có thể được thực
hiện thông qua các hợp đồng bảo hiểm hoặc các biện pháp phòng ngừa rủi ro nhờ
vào các công cụ phái sinh (hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng hoán
đổi ).
Chấp nhận rủi ro: ngân hàng có thể chấp nhận rủi ro ở một mức độ thiệt hại
cụ thể mà không thực hiện bất kỳ một hành động phòng chống nào. Biện pháp này
cũng khó xảy ra trong thực tế kinh doanh của các ngân hàng.
Nói chung, KDNH trong ngân hàng là một hoạt động kinh doanh đầy rủi ro
nhưng mức lợi nhuận tiềm năng rất lớn. Các NHTM luôn luôn nghiên cứu tìm tòi
các biện pháp sao cho quản lý hiệu quả nhất RRTG. Do đó, các biện pháp kể trên
được áp dụng một cách linh hoạt và nhuần nhuyễn, ngoại trừ việc chấp nhận rủi ro
và trách rủi ro bởi vì hai biện pháp này không được thực tế trong kinh doanh ngân
hàng. Thông thường dựa vào mức độ chủ động trong công tác quản trị, các NHTM
thường áp dụng:
• Thể hiện tính chủ động bằng cách phòng ngừa và hạn chế thiệt hại của
RRTG: qui định hạn mức giao dịch, mức dừng lỗ, đa dạng hóa các loại ngoại
tệ giao dịch, tự bảo hiểm bằng thị trường các sản phẩm phái sinh…
• Phòng ngừa bị động bằng cách tăng khả năng chịu đựng của ngân hàng: tăng
vốn điều lệ, tăng tỷ lệ lợi nhuận giữ lại, trích lập dự phòng đầy đủ…
1.3.3.4 Giám sát
Bao gồm hoạt động giám sát để đảm bảo các hoạt động của qui trình
QTRRTG được diễn ra một cách chặt chẽ. Việc giám sát cũng nhằm mục đích phát
hiện ra các sai sót để kịp thời điều chỉnh. Kết quả giám sát được báo cáo định kỳ
bằng các văn bản tổng hợp ví dụ như đánh giá lãi/lỗ, hay các trích dẫn phân tích,
đánh giá tổng hợp từ các phần mềm quản trị, kế toán liên quan. Từ công tác giám
sát có thể giúp phản hồi những thông tin bổ ích, các ngân hàng có thể đánh giá được
mô hình đã phù hợp hay chưa. Và điều quan trọng là mô hình đó có giúp ngân hàng
tiết kiệm được chi phí so với việc tránh những thiệt hại do RRTG gây ra không.
thái ngoại tệ dương hoặc tổng trạng thái ngoại tệ âm chia cho vốn tự có của
tổ chức tín dụng.
• Trạng thái nguyên tệ của ngoại tệ được tính trên cơ sở số dư các tài khoản có
liên quan và được qui đổi sang VND theo tỷ giá qui đổi trạng thái.
xxiii
• Tổng trạng thái ngoại tệ dương là tổng trạng thái nguyên tệ các ngoại tệ có
trạng thái dương; Tổng trạng thái ngoại tệ âm là tổng trạng thái nguyên tệ các
ngoại tệ có trạng thái âm.
Việc quản lý hạn mức KDNH tại NHTM có thể căn cứ vào một số tiêu chí
sau:
a) Hạn mức chung cho cả phòng kinh doanh, trên cơ sở đó phân bổ hạn mức
cho từng dealer. Việc phân bổ phải đảm bảo nguyên tắc dựa trên kinh nghiệm
và năng lực kinh doanh. Những nhà kinh doanh chuyên nghiệp là những
người có kinh nghiệm và đã gặt hái được nhiều thành công sẽ được giao hạn
mức cao hơn rất nhiều so với những người mới tham gia. Hạn mức này cũng
được phân ra 2 loại: hạn mức ban ngày và hạn mức mở qua đêm. Hạn mức
ban ngày thường lớn hơn nhiều so với hạn mức mở qua đêm.
b) Hạn mức theo các loại đồng tiền kinh doanh: ngoài việc qui định tổng hạn
mức, đối với nhửng tổ chức và cá nhân kinh doanh liên quan đến nhiều đồng
tiền thì việc qui định hạn mức kinh doanh đối với mỗi loại đồng tiền là cần
thiết. Những đồng tiền được giao dịch rộng rãi chủ yếu sẽ có hạn mức cao
hơn các loại đồng tiền ít được giao dịch.
c) Hạn mức cho các loại giao dịch cụ thể:
Trạng thái giao ngay:
Tại bất cứ thời điểm nào mà nhà kinh doanh duy trì trạng thái ngoại hối mở
trong giao ngay đều phải chịu RRTG. Đặc điểm của tỷ giá giao ngay đó là chịu tác
động của các yếu tố ngắn hạn (can thiệp của ngân hàng trung ương, những biến cố
bất ngờ, các tin đồn hoặc các giao dịch doanh số lớn…). Tỷ giá biến động càng
mạnh thì rủi ro càng lớn. Do đó để quản lý lãi/lỗ tiềm năng, người ta sử dụng kỹ
thuật định giá vào cuối mỗi ngày được xác định dựa vào tỷ giá đóng cửa.
giao ngay lúc này là 20.8600 VND/USD, ngân hàng lỗ 60.000.000 VND do phải
thực hiện hợp đồng trong khi ngân hàng có thể giữ USD để bán trên thị trường giao
ngay nếu ngân hàng không thực hiện việc bán kỳ hạn này. Và việc lời lỗ nếu qui về
ngày ký kết thì ngân hàng đã lỗ một khoảng 100,000 VND.
xxv