MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU.......................................................................................................................................3
Từ lâu USD, EUR, JPY, GBP được thế giới công nhận là những đồng tiền mạnh và được sử dụng
trong hầu hết các giao dịch thương mại, đầu tư quốc tế và chiếm một tỷ trọng lớn trong giỏ dự trữ
ngoại tệ của các quốc gia. Cũng chính vì vậy mà biến động tỷ giá giữa các đồng tiền này sẽ ảnh
hưởng lớn đến thị trường tiền tệ thế giới và đến mọi đối tượng có hoạt động liên quan đến chúng.
Các doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu quan tâm biến động giữa các đồng tiền này để lựa
chọn đồng tiền thanh toán; các nhà kinh doanh ngoại hối theo dõi biến động tỷ giá để lựa chiến
lược đầu tư, về phía chính phủ sẽ là cơ cấu lại giỏ dự trữ ngoại hối theo sự thay đổi sức mạnh các
đồng tiền này. Mặt khác, diễn biến tỷ giá giữa các đồng tiền chủ chốt bộc lộ những vấn đề của nền
từng quốc gia và thể hiện sự thay đổi tương quan sức mạnh kinh tế giữa các nền kinh tế hàng đầu
thế giới. Đặc biệt cuộc khủng tài chính thế giới bắt đầu từ Mỹ cuối năm 2007 đã làm tăng thêm
tính biến động tỷ giá giữa bốn đồng tiền này. Vậy, đâu là nguyên nhân của diễn biến này, xu hướng
biến động ra sao và nó có ảnh hưởng gì đến Việt Nam trong thời gian tới? ......................................3
Nhằm làm rõ những vấn đề trên, nhóm I lớp Anh 5- TCQTb-K46 đã thực hiện nghiên cứu đề tài:
“Mối quan hệ giữa các đồng tiền chủ chốt giai đoạn 2005 đến nay”. ................................................3
Bài nghiên cứu gồm 4 phần: ................................................................................................................3
Phần I: Giới thiệu về các đồng tiền chủ chốt trên thế giới...................................................................3
Phần II: Tỷ giá JPY/USD......................................................................................................................3
Phần III: Tỷ giá GBP/USD....................................................................................................................3
Phần IV: Tỷ giá EUR/USD...................................................................................................................3
Nhóm xin chân thành cảm ơn T.S Mai Thu Hiền đã giúp đỡ chúng em hoàn thành bài tiểu luận và
rất mong nhận được sự góp ý của cô để bài nghiên cứu thêm hoàn thiện...........................................3
Nhóm 1- A5-TCQTB-K46....................................................................................................................4
BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT.................................................................................................................4
DANH MỤC BẢNG BIỂU...................................................................................................................5
Phần I. GIỚI THIỆU VỀ CÁC ĐỒNG TIỀN CHỦ CHỐT TRÊN THẾ GIỚI..................................5
1. Đồng đô la Mỹ (USD)...................................................................................................................6
2. Đông Yên Nhật (JPY)...................................................................................................................7
3. Đồng Bảng Anh (GBP).................................................................................................................8
4. Đồng Euro (EUR)..........................................................................................................................8
Từ lâu USD, EUR, JPY, GBP được thế giới công nhận là những đồng tiền mạnh và
được sử dụng trong hầu hết các giao dịch thương mại, đầu tư quốc tế và chiếm một tỷ trọng
lớn trong giỏ dự trữ ngoại tệ của các quốc gia. Cũng chính vì vậy mà biến động tỷ giá giữa
các đồng tiền này sẽ ảnh hưởng lớn đến thị trường tiền tệ thế giới và đến mọi đối tượng có
hoạt động liên quan đến chúng. Các doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu quan tâm
biến động giữa các đồng tiền này để lựa chọn đồng tiền thanh toán; các nhà kinh doanh
ngoại hối theo dõi biến động tỷ giá để lựa chiến lược đầu tư, về phía chính phủ sẽ là cơ cấu
lại giỏ dự trữ ngoại hối theo sự thay đổi sức mạnh các đồng tiền này. Mặt khác, diễn biến tỷ
giá giữa các đồng tiền chủ chốt bộc lộ những vấn đề của nền từng quốc gia và thể hiện sự
thay đổi tương quan sức mạnh kinh tế giữa các nền kinh tế hàng đầu thế giới. Đặc biệt
cuộc khủng tài chính thế giới bắt đầu từ Mỹ cuối năm 2007 đã làm tăng thêm tính biến
động tỷ giá giữa bốn đồng tiền này. Vậy, đâu là nguyên nhân của diễn biến này, xu hướng
biến động ra sao và nó có ảnh hưởng gì đến Việt Nam trong thời gian tới?
Nhằm làm rõ những vấn đề trên, nhóm I lớp Anh 5- TCQTb-K46 đã thực hiện
nghiên cứu đề tài: “Mối quan hệ giữa các đồng tiền chủ chốt giai đoạn 2005 đến nay”.
Bài nghiên cứu gồm 4 phần:
Phần I: Giới thiệu về các đồng tiền chủ chốt trên thế giới
Phần II: Tỷ giá JPY/USD
Phần III: Tỷ giá GBP/USD
Phần IV: Tỷ giá EUR/USD
Nhóm xin chân thành cảm ơn T.S Mai Thu Hiền đã giúp đỡ chúng em hoàn thành
bài tiểu luận và rất mong nhận được sự góp ý của cô để bài nghiên cứu thêm hoàn thiện.
3
Nhóm 1- A5-TCQTB-K46
BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Kí hiệu Ý nghĩa
∆E Sự thay đổi tỷ giá
∏
e
Lạm phát kỳ vọng
SDR Quyền rút vốn đặc biệt
TB Cán cân thương mại
USD Đồng dolar Mỹ
Y Tổng sản phẩm công nghiệp
П Lạm phát
4
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Phần I. GIỚI THIỆU VỀ CÁC ĐỒNG TIỀN CHỦ CHỐT TRÊN THẾ GIỚI
Các đồng tiền được coi là chủ chốt là do chúng chiếm tỷ trọng lớn trong các giao
dịch quốc tế và sự biến động của chúng sẽ gây ra những ảnh hưởng lớn đến thị trường tiền
tệ thế giới. Hiện nay các đồng tiền chủ chốt trên thế giới được công nhận bao gồm USD,
EUR, JPY, GBP. Bằng chứng là, năm 1996 tổng vốn đầu tư của tư nhân trên thị trường
quốc tế, phần đầu tư bằng USD chiếm 40%, bằng tiền của EU chiếm 37%, bằng Yên Nhật
chiếm 12%. Theo các tài liệu của Ngân hàng thanh toán quốc tế, phần vay bằng Đôla Mỹ
của các ngân hàng trên thị trường quốc tế chiếm 30% và bằng Yên Nhật 13%, còn phần tiền
gửi bằng ngoại tệ tương ứng là 43%, 34% và 8%. Tính đến thời điểm năm 2008, gần 50%
giá trị xuất nhập khẩu của thế giới thanh toán qua đồng USD và USD chiếm 40% khối
lượng buôn bán ngoại tệ, các đồng tiền Châu Âu chiếm 35% và đồng Yên Nhật là 10%
1
.
SDR được định nghĩa theo các điều kiện của một rổ tiền tệ, bao gồm các loại tiền tệ chính
được sử dụng trong thương mại và tài chính quốc tế. Tỷ lệ mỗi loại tiền tệ tạo ra một SDR
được chọn theo tầm quan trọng tương đối của nó trong thương mại và tài chính quốc tế.
Việc xác định loại tiền tệ trong rổ SDR và tỷ lệ của nó do Ban lãnh đạo của IMF thực hiện
sau mỗi 5 năm.
Bảng 1: Tỷ lệ của các loại tiền tệ trong giai đoạn từ 2000 tới 2010
2
1
GS, TS Võ Thanh Thu, Giáo trình Quan hệ tài chính quốc tế, NXB Thống Kê 2008, trang 385
2
Đặc biệt nếu USD yếu, khả năng phục hồi kinh tế của châu Âu sẽ gặp rất nhiều khó
khăn. Vì vậy, ngân hàng trung ương các nước đều thống nhất là tìm cách phục hồi dần giá
trị của USD.
2. Đông Yên Nhật (JPY)
Đồng Yên được ngân hàng Nhật Bản phát hành năm 1895 có thể đổi lấy bạc trong
giai đoạn 1897-1917, có thể đổi lấy vàng trong giai đoạn 1929- 1933. Ngày nay đồng Yên
Nhật không thể trực tiếp quy đổi ra vàng nhưng đồng Yên ngày càng lên giá (lên giá gần 4
lần so với cách đây 20 năm). Cùng với sự phát triển của kinh tế Nhật, vị trí đồng Yên ngày
càng có vai trò lớn trong hệ thống tiền tệ thế giới, đặc biệt các nước trong khu vực Châu Á
Thái Bình Dương.
Năm 1997-1998 nên kinh tế Nhật Bản bị suy thoái nặng nề, chỉ riêng 6 tháng đầu
năm 1998 đồng Yên Nhật bị mất giá 15% so với đồng đô la Mỹ. Sự mất giá của đồng Yên
Nhật đe dọa kinh tế đối ngoại của nhiều nước trong đó có Việt Nam.
Ba năm gần đây 2006-2008, kinh tế Nhật Bản đã bước ra khỏi trì trệ kéo dài và tăng
trưởng ở mức 2-3% và trở thành nền kinh tế lớn thứ hai sau Hoa Kỳ. Đồng Yên Nhật lên
7
giá mạnh so với đồng đô la Mỹ đã tác động nhất định đến hoạt động xuất nhập khẩu của
Nhật Bản.
3. Đồng Bảng Anh (GBP)
Cuối thế kỷ thứ 19 đầu thế kỷ 20 cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Anh,
đồng Bảng Anh là đồng tiền mạnh được đảm bảo bằng vàng và được tự do chuyển đổi.
Nhưng ngày nay sau nhiều năm liên tục nền kinh tế Anh bị suy thoái thì uy tín và vai trò
của đồng Bảng Anh trên thị trường tiền tệ thế giới bị giảm sút, đặc biệt từ khi đồng Bảng
Anh rút ra khỏi hệ thống tiền tệ Châu Âu (EMS). Từ năm 2000 đến 2008 đồng Bảng Anh
lên giá mạnh so với đồng đô la Mỹ , thời điểm cao nhất vào tháng 11/2007 tỷ giá
USD/GBP là 2.0907, và đến nay GBP mất giá so với USD.
4. Đồng Euro (EUR)
Thập niên 70 cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng nổ, hệ thống bản vị lấy
vàng làm gốc bảo đảm giá trị tiền tệ bị xóa bỏ, 2 nước Đức và Pháp đề xuất thành lập ‘hệ
thống tiền tệ Châu Âu ‘ lập ra tiền tệ thanh toán chung của 9 nước thành viên EEC lúc bấy
mạnh trên thế giới, làm cho hoạt động tài chính và thương mại thế giới ít lệ thuộc hơn vào
đồng đô la Mỹ.
Phần II: TỶ GIÁ JPY/USD
2.1. Diễn biến tỷ giá JPY/USD giai đoạn 2005 đến nay và những nguyên nhân
Biểu đồ 2. 1: Tỷ giá JPY/USD từ năm 2005 đến nay
3
GS, TS Võ Thanh Thu, Giáo trình Quan hệ tài chính quốc tế, NXB Thống Kê 2008, trang 385
9
Căn cứ vào biểu đồ trên có thể phân diễn biến tỷ giá thành các giai đoạn như sau:
Năm 2005 - 6/2007: tỷ giá có xu hướng chính là tăng
Từ tháng 7/2007 - 3/2008: xu hướng chính là tỷ giá giảm mạnh
Tháng 7 – 8/2007: tỷ giá giảm mạnh
Tháng 9 – 10/2007: tỷ giá tăng nhẹ
Tháng 10/2007 - 3/2008: tỷ giá giảm mạnh
Tháng 4/2008 đến nay: tỷ giá giao động nhưng chủ đạo vẫn giảm dần
+ Tháng 3 đến tháng 8/2008: tỷ giá tăng mạnh
+ Tháng 9 đến tháng 12/2008: tỷ giá giảm mạnh
+ Năm 2009 – 2010: tỷ giá lên vào đầu năm và giảm dần đến cuối năm
• Giai đoạn từ năm 2005 đến tháng 6/2007
Từ cuối năm 2004, đồng Đôla trở nên yếu hơn so với tất cả các ngoại tệ khác trong
rổ tiền tệ chính, trong đó có đồng Yên Nhật. Sang năm 2005, cùng với sự mạnh lên tương
đối của nền kinh tế Mỹ và chênh lệch lãi suất ngắn hạn với đồng EUR và JPY, đồng USD
đã tăng giá trở lại. Đầu tháng 1/2005, tỷ giá JPY/USD đạt mức thấp nhất là 101,67 nhưng
ngay sau đó đồng Yên lại giảm giá so với đồng Đôla. Tỷ giá JPY/USD liên tục tăng. Ngày
21/7, đồng Nhân dân tệ CNY được định giá lại so với đồng USD. Từ năm 1997 đến ngày
21/7/2005, đồng CNY luôn được neo cố định với USD tại mức tỷ giá 8,28 CNY/USD.
Theo nhận xét của Hiệp hội các doanh nghiệp của Mỹ (NAM), CNY đã bị giảm đi đến 40%
giá trị thực tế của nó, điều này đã tạo môi trường kinh doanh không công bằng, thiếu tính
cạnh tranh đối với các doanh nghiệp Mỹ. Trung Quốc trở thành “miếng nam châm” hút một
lượng lớn ngoại tệ trên thế giới. Trước tình hình này, Mỹ và các đối tác thương mại lớn
chính sách tiền tệ nới lỏng hơn để thúc đẩy tăng trưởng..Tính đến ngày 10/5, giá USD đã
giảm 7,67% so với đồng euro, 9,12% so với đồng bảng Anh và 5,45% so với đồng yên.
Biểu đồ 2. 2: Mối quan hệ giữa tỷ giá JPY/USD và chênh lệch lãi suất giữa 2 quốc gia
11
(Nguồn: Reuters Ecowin)
Từ đầu năm 2007, đồng đồng Yên Nhật liên tục giảm giá so với USD với những đợt
giảm vào tháng 2 và tháng 6. Tháng 6/2007, tỷ giá JPY/USD là 124.14, cao nhất trong vòng
5 năm liên tiếp. JPY tiếp tục đà giảm giá trên thị trường do chịu áp lực bởi sắc xanh của thị
trường chứng khoán thế giới và sự gia tăng nhu cầu vay vốn ở các ngân hàng Nhật để đầu
tư vào những tài sản có tỷ suất sinh lợi cao (do chi phí vay vốn giảm). Vốn mang danh là
đồng tiền “carry trade” (được vay do có lãi suất thấp để đầu tư vào các tài sản có tỷ suất
sinh lợi cao hơn) nên khi các nhà đầu cơ dự đoán chính xác Ngân hàng Trung ương Nhật
Bản có ý định giữ nguyên lãi suất cơ bản đồng JPY (0,25%/năm), làn sóng vay đồng JPY
trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết, từ đó gây ra áp lực khiến đồng tiền này giảm giá liên tục
trên thị trường.
• Giai đoạn từ tháng 7/2007 đến tháng 3/2008
Trong 2 tháng 7 và 8 năm 2007, đồng Yên Nhật liên tục tăng với tốc độ nhanh so
với USD, cụ thể 2/7/2007 tỷ giá JPY/USD đạt: 123.3959 đến ngày 13/8/2007 tỷ giá rơi
xuống mức kỉ lục là 113.9991. Đây là mức giá cao nhất của đồng Yên so với USD kể từ
tháng 4/2007, tuy nhiên so với cùng kì năm 2006 Yên hiện vẫn đang giảm giá.
12
Nguyên nhân chính tác động đến tỷ giá JPY/USD trong thời gian này là do khủng
hoàng của nền kinh tế Mỹ ảnh hưởng đến tâm lý của các nhà đầu tư vào đồng Yên Nhật.
Cụ thể: Theo báo cáo của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, kinh tế Mỹ đang phục hồi kém khả
quan, chỉ tăng 2%, thấp hơn so với 2.8% dự đoán đầu năm 2007 và so với tốc độ tăng 3.3%
năm 2006. Hơn nữa, nợ khó đòi của nhiều ngân hàng Mỹ trong việc cho vay cầm cố để
kinh doanh bất động sản đang có dấu hiệu tăng, thị trường bất động sản Mỹ ở mức trì trệ.
Theo Hiệp hội kinh doanh bất động sản Mỹ, lượng nhà mới bán ra ở Mỹ tháng 7 giảm so
với tháng trước và ở mức thấp hơn so với mức dự đoán của thị trường. Thị trường nhà ở đã
kéo theo thị trường chứng khoán bị ảnh hưởng nghiêm trọng, biểu hiện bởi sự sụt giảm của
Trên thực tế các ngân hàng này đã chuyển sang mua EUR thay thế, nhằm đa dạng hóa
nguồn dự trữ ngoại tệ của mình. Với các nguyên nhân trên, nhu cầu đồng USD trên thị
trường tài chính quốc tế tiếp tục giảm sút mạnh trong dài hạn, đồng thời giá trị của đồng
USD so với các đồng tiền mạnh khác cũng giảm theo. Vì vậy, sự tăng trưởng đầu tư trở lại
vào đồng Yên Nhật của các công ty tài chính và nhà đầu tư trên thế giới là tất yếu.
• Giai đoạn nửa sau năm 2008 đến nay
Sau một giai đoạn tỷ giá USD/JPY liên tục trượt dốc, chạm mức thấp nhất trong hơn
một thập kỷ 99.21 JPY/USD, tỷ giá giữa Yên Nhật và Đô la Mỹ trải qua một giai đoạn tăng
từ giữa tháng 3 đến giữa tháng 8 năm 2008.
Bảng 2. 1: Một số chỉ tiêu kinh tế của Mỹ công bố trong quý 2 năm 2008
Chỉ tiêu kinh tế Thực tế Dự báo Kỳ trước
15
Tỷ lệ thất nghiệp 4.8% 5.0% 4.9%
Cán cân thương mại (tỷ
USD)
-58.2 -59.5 -57.9
PPI 1.1% 0.6% 0.3%
GDP 0.9% 0.9% 0.6%
(Nguồn: cmsfx.com)
Xem xét một số chỉ tiêu kinh tế được công bố trong khoảng thời gian tỷ giá
JPY/USD tăng có thể thấy sự lạc quan vào nền kinh tế Mỹ là một yếu tố góp phần làm
đồng Đô la lên giá. Ngoài ra trong thời kỳ này, nền kinh tế các nước khác bắt đầu xấu đi
trước tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Các nước châu Âu gặp phải khó
khăn như lạm phát, giá dầu cao, sản xuất công nghiệp giảm, thị trường nhà đất châu Âu
cũng đáng báo động, tình trạng thất nghiệp gia tăng… Điều này khiến cho đồng Đô la trở
nên hấp dẫn hơn, có uy tín cao hơn đối với các nhà đầu tư, dẫn đến cầu về USD tăng làm tỷ
giá tăng. Ngày 15/08/2008, tỷ giá JPY/USD đạt mức 110.56.
Cùng với đó, giá dầu và vàng trong giai đoạn này có xu hướng giảm. Diễn biến xấu
của thị trường tài chính Mỹ ngày càng gia tăng trong quý III/2008, đồng thời sự suy giảm
kinh tế ngày càng lan rộng tại nhiều nước, hiện tượng tích trữ dầu nhằm mục đích đầu cơ
18
Quý
Chỉ tiêu
QI/200
9
QII/200
9
QIII/20
09
QIV/20
09
QI/201
0
QII/201
0
Mỹ
Tỷ lệ tăng GDP (%) -4.9 -0.7 1.6 5 3.7 1.6
Tỷ lệ thất nghiệp
(%)
8.6 9.5 9.8 10.0 9.7 9.5
Lạm phát (%) -0.4 -1.4 -1.3 2.7 2.3 1.1
Cán cân thương
mại (tỷ USD)
-28 -27.1 -35.2 -37.1 -40 -49.8
Nhật Bản
Tỷ lệ tăng GDP (%) -4.37 2.34 -0.09 0.85 1.22 0.37
Tỷ lệ thất nghiệp
(%)
4.8 5.3 5.3 5.2 5 5.3
Lạm phát (%) -0.3 -1.8 -2.2 -1.7 -1.1 -0.7
thu hẹp. Điều này làm cho hoạt động “carry trade” khó đem lại được lợi nhuận cho nhà đầu
tư. Như vậy, nguyên nhân quan trọng khiến cho đồng Yên Nhật lên giá trong giai đoạn này
cũng tương tự như giai đoạn trước, các nhà đầu tư trước đây vay JPY với lãi suất thấp để
mua tài sản, kinh doanh bằng ngoại tệ (chủ yếu là USD) hưởng lãi suất cao hơn. Khi chênh
lệch lãi suất không còn đáng kể, cơ hội kiếm lợi trở nên khó khăn khiến cho các nhà đầu tư
20
đồng loạt bán tài sản, mua JPY để hoàn trả khoản vay. Điều này dẫn đến cầu về Yên Nhật
càng tăng cao và làm đồng Yên Nhật tăng giá.
Sự can thiệp từ Trung Quốc cũng là một nguyên nhân khiến JPY tăng giá. Theo số
liệu từ Bộ Tài chính Nhật Bản, Trung Quốc đã tăng cường mua trái phiếu chính phủ Nhật
lên 6,2 tỷ USD trong 3 tháng đầu năm 2010, cao gấp đôi con số kỷ lục vào năm 2005. Nửa
đầu năm 2010, Trung Quốc liên tiếp tăng cường mua trái phiếu chính phủ Nhật. Trong
tháng 6, Trung Quốc tiếp tục mua 456,4 tỷ Yên (5,3 tỷ USD) trái phiếu chính phủ Nhật.
Tháng 5/2010, lượng trái phiếu Nhật mà Trung Quốc mua đạt 735,2 tỷ yên. Việc mua trái
phiếu của Trung Quốc càng làm nhu cầu về Yên Nhật trở nên nóng hơn.
Hơn nữa, đà tăng của Yên Nhật trong giai đoạn này được duy trì một phần do các
nhà chức trách Nhật Bản không có chính sách can thiệp vào tỷ giá. Bộ trưởng Tài chính
Nhật tuyên bố sự tăng giá của đồng Yên sẽ chịu sự chi phối của thị trường đồng thời Ngân
hàng Trung ương Nhật Bản cũng không có động thái từ gì sau lần cuối cùng dùng chính
sách bán Yên Nhật trên thị trường mở vào năm 2003.
Ngày 14/09/2010, đồng JPY tăng lên mức cao 15 năm sau, tức là tỷ giá JPY/USD
còn 83.022 chiến thắng của Thủ tướng Naoto Kan, tiếp tục đà giảm của tỷ giá JPY/USD.
• Nhận xét chung:
Cũng như các tỷ giá khác, tỷ giá JPY/USD cũng chịu tác động không nhỏ của những
diễn biến kinh tế, chính trị trong giai đoạn trước và sau khủng hoảng. Cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu đã làm cho đồng Đô la Mỹ trở nên yếu hơn so với tất cả các ngoại tệ mạnh
khác, trong đó có đồng Yên Nhật. Trước khủng hoảng, tỷ giá JPY/USD giữ ở mức khá cao.
Sau khủng hoảng, tỷ giá giảm nhanh chóng. Các biến số kinh tế như tăng trưởng GDP, tỷ lệ
thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát… của hai nước và của các nền kinh tế khác cũng có ảnh hưởng
đến sự lên hoặc xuống giá của Đôla Mỹ và Yên Nhật. Tuy nhiên, có thể nói yếu tố tác động
1
- E
0
)/ E
0
Gọi: П
1
: lạm phát tại Nhật
П
2
: lạm phát tại Mỹ
Theo PPP thì ta có:
1.(1+ П
1
) JPY = E
0
. (1+ П
2
) USD
Như vậy
E
1
= E
0
. (1+ П
2
)/ (1+ П
1
)
→ ∆E = (E
90.221 – 84.1964)/84.1964 =7.16%,
Tỷ giá cuối năm 2011 sẽ tăng : (88.879 – 84.1964)/84.1964 = 5.56%.
2.2.2. Dự báo bằng học thuyết ngang giá lãi suất (IRP)
Theo báo cáo của FED, tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cả năm 2010
của kinh tế Mỹ sẽ ở mức 3 - 3,5%, thấp hơn so với ngưỡng 3,2 - 3,7% cũng do cơ quan này
đưa ra hồi tháng 4. FED cũng dự báo tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ hiện đang ở mức 9,5%, trong
trường hợp khả quan nhất sẽ giảm xuống còn 9,2% vào cuối năm nay. Chính nguyên nhân
này mà FED sẽ có thể tiếp tục duy trì lãi suất cơ bản ở mức thấp kỷ lục 0,25% - 0 % để
thúc đẩy tăng trưởng sau khi nền kinh tế Mỹ.
Trong cuộc họp diễn ra 14/10/2009, ngân hàng trung ương Nhật Bản đưa ra chính
sách tiền tệ cụ thể về việc duy trì mức lãi suất cơ bản ở mức 0,1% từ năm 2008 đến nay
7
.
Tại thời điểm ban đầu, t=0: 1 JPY = E
0
USD
6
s=USDJPY=X+Interactive#chart1:symbol=usdjpy=x;range=5y;indicator=volume;charttype=line;crosshair=on;ohlcv
alues=0;logscale=on;source=undefined
7
/>23
Tại thời điểm t: 1 JPY = E
1
USD
Ta có sự thay đổi tỷ giá : ∆E = (E
1
- E
0
)/ E
= (R
2
- R
1
) /(1 + R
1
)
Trường hợp lãi suất FED duy trì là 0,25% và Nhật là 0.1%, thì sự biến động tỷ giá
là:
∆E = (0,0025 – 0,001) / (1+0,001) = 0,15%
Trường hợp FED giữ lãi suất là 0%, Nhật là 0.1% thì sự biến động tỷ giá là:
∆E = (0 - 0,001)/ (1+0,001) = -0,1%
Với tỷ giá đầu năm ngày 4/1/2010 là USD/JPY= 92.4129 thì tỷ giá vào cuối năm
(31/12/2010) sẽ có 2 trường hợp:
+ Với lãi suất 0,25% thì tỷ giá giảm về USD/JPY = 92.274
+ Với lãi suất 0% thì tỷ giá giảm về USD/JPY = 92.505
So sánh hai tỷ giá này với thời điểm hiện tại là ngày 24/9/2010, USD/JPY = 84.1964
thì tỷ giá sẽ tăng lần lượt là 9,59% và 9,87%.
2.2.3. Dự báo bằng phương pháp phân tích kỹ thuật
Đây là đồ thị của tỷ giá JPY/USD theo ngày, giai đoạn từ đầu năm 2010 đến nay. Nhìn
vào đồ thị, cùng với việc vẽ đường xu hướng thì từ giai đoạn tháng 5/2010 đến 14/9/2010,
tỷ giá JPY/USD có xu hướng giảm rõ rệt. Đồ thị tỷ giá nằm hoàn toàn trong kênh xu hướng
giảm giá.
24
Đặc biệt, trong phiên kết thúc phiên 14/9, tỷ giá JPY/USD giảm sâu về mức 83,08, đây
là mức thấp nhất trong hơn 15 năm qua, chạm mức đáy từ tháng 5/1995 (79,75 YEN/1
USD)
Tuy nhiên vào ngay phiên hôm sau 15/9, Nhật Bản đã can thiệp vào thị trường tiền
tệ lần đầu tiên trong 6 năm qua, bán yên ra mua đô la Mỹ vào để ngăn việc tăng giá của
đồng yên. Điều này đã giúp tỷ giá JPY/USD tăng điểm mạnh trở lại trong phiên với một