TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010305
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ
TRONG VIỆC HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN ODA TẠI VIỆT NAM
SOLUTIONS TO THE IMPROVEMENT OF EFECTS IN MOBILIZATION
AND EXPENDITURE OF THE ODA CAPITAL IN VIET NAM
Nguyễn Ngọc Vũ
Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Đối với Việt Nam, để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư phát triển trong điều kiện nguồn vốn
tích luỹ từ nội bộ của nền kinh tế còn thấp thì nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm đầu tư trực
tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp mà trong đó quan trọng nhất là hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là
rất quan trọng, góp phần đ
áng kể vào sự tăng trưởng kinh tế cao của nước ta trong những năm
qua. Chính vì vậy, Đảng ta đã đánh giá “nguồn vốn trong nước có tính chất quyết định, nguồn vốn
nước ngoài có vai trò quan trọng”. Tuy nhiên, thực trạng huy động, quản lý và sử dụng nguồn vốn
ODA ở nước ta còn nhiều tồn tại, bất cập, hiệu quả chưa cao. Vì vậy, mục đích của bài viết này là
phân tích, đánh giá thực tr
ạng công tác thu hút và sử dụng vốn ODA ở nước ta trong thời gian
qua; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn
này trong thời gian đến; góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế bền vững của Việt Nam.
ABSTRACT
At present, while accumulated capital of the Vietnamese economy is still low, the issue
of mobilizing foreign investment capital including Foreign Direct Investment (FDI) and indirect
investment is very important. Of many indirect inflows of foreign investment, the Official
Development Assistance (ODA) is a crucial fund that meets current high demands of capital for
national development. ODA has been contributing significantly to the solid growth of our
triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư.
- Gọi là Chính thức, vì thường là cho Nhà nước vay.
Như vậy, vốn ODA là nguồn vốn của các nước phát triển hay của các tổ chức
quốc tế cho chính phủ các nước đang phát triển vay nhằm mục tiêu phát triển kinh tế và
góp phần xóa đói giảm nghèo ở nước được nhận đầu tư.
Từ năm 1993, khi Việt Nam bắt đầu bình thường hóa quan hệ với các tổ chức tài
chính quốc tế, nhiều Chính phủ và tổ chức đã nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam.
Những nỗ lực từ cả 2 phía các nhà tài trợ và Chính phủ Việt Nam đã đạt những kết quả
quan trọng. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ với hơn 50 nhà tài trợ song phương
và đa phương cùng khoảng 600 tổ chức phi Chính phủ với hơn 1500 chương trình dự
án. Hiện nay, ngân hàng thế giới là cơ quan viện trợ đa phương lớn nhất, Nhật Bản là
quốc gia viện trợ song phương lớn nhất cho Việt Nam. Xét về viện trợ không hoàn lại
thì Pháp là lớn nhất và Đan Mạch là thứ nhì.
Tình hình cam kết ODA và thực hiện ODA của nước ta từ năm 1993 đến nay
được cho ở bảng sau:
Bảng 1. Tình hình cam kết, ký kết, giải ngân ODA từ năm 2000-2009 (Đvt: tỷ USD)
Nguồn: Báo cáo chuyên đề cao học môn Tài chính quốc tế năm 8/2009 của Nguyễn Tích Hiền,
Huỳnh Bá Tưởng và các tác giả trong nhóm
NĂM 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
2009
CAM
KẾT
2,40 2,40 2,50 2,83 3,44 3,44 3,75 4,50 5,43
8,1
KÝ KẾT 1,77 1,77 2,42 1,81 1,76 2,57 2,52 2,82 3,80
7,0
GIẢI
NGÂN
1,5 1,53 1,42 1,65 1,85 1,82 2,2 1,85 2,18
2003
2004
2005
2006
2007
2008
CAM KẾT
KÝ KẾT
Qua bảng trên cho thấy tổng lượng vốn ODA cam kết trong 17 năm qua đạt
khoảng 57,5 tỷ USD, đặc biệt năm 2010 là 8,1 tỷ USD, mức cam kết cao nhất từ trước
đến nay. Như vậy, tốc độ tăng trưởng thu hút vốn ODA của nước ta tăng khá nhanh và
ổn định trong suốt giai đoạn từ 1993- 2009 với mức tăng trưởng bình quân 10%/năm,
đặc biệt trong 3 năm trở lại đây vốn ODA cam kết tăng khá mạnh. Tỷ lệ vốn ký kết
trên vốn cam kết cũng đạt khá cao, trung bình cả giai đoạn từ 1993 đến 2009 là trên
86%. Điều đó thể hiện sự ủng hộ chính trị và lòng tin của các nhà tài trợ đối với công
cuộc đổi mới của Việt Nam. Mặt khác, nó cũng thể hiện nhu cầu về nguồn vốn của
Việt Nam là rất lớn để đầu tư cho hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ cho việc phát triển
và xoá đói giảm nghèo. Trong tổng ODA cam kết thì 20% là viện trợ không hoàn lại
và 80% là vốn cho vay với thời hạn dài (thường lên đến 30- 40 năm), lãi suất cho vay
khá thấp so với lãi suất vay thương mại (thời gian đầu thường khoảng trên 1%/năm),
thời gian ân hạn khá dài (khoảng 10 năm). Các khoản nợ nước ngoài nói chung và
nguồn vay nợ ODA nói riêng hiện tại đảm bảo trong giới hạn an toàn cho phép; có lãi
suất, thời hạn và đồng tiền vay hợp lý. Nguồn ODA chiếm khoảng 10% vốn đầu tư
toàn xã hội; đây là nguồn tài chính quan trọng bổ sung cho ngân sách nhà nước, đảm
bảo cho đầu tư phát triển, tăng trưởng kinh tế, đầu tư cơ sở hạ tầng, giải quyết các vấn
đề về an sinh xã hội, đặc biệt là vấn đề xóa đói giảm nghèo, tăng cường và củng cố thể
chế pháp lý, pháp triển quan hệ đối tác chặt chẽ với nước ngoài. Tuy nhiên, khả năng
thu hút ODA của chúng ta tăng trưởng ở mức khá nhưng việc thực hiện vốn cam kết
hay nói cách khác là quá trình sử dụng ODA của Việt Nam chưa đạt được hiệu quả
4. Vùng Tây Nguyên 4,43
5. Vùng Đông Nam Bộ 15,62
6. Vùng đồng bằng sông Cửu Long 9,36
7. Liên Vùng 36,01
Từ bảng trên cho thấy nguồn vốn ODA phân bổ không đồng đều giữa các vùng
lãnh thổ. Thật vậy, vốn ODA đầu tư vào các vùng Tây Nguyên, vùng Trung du miền núi
phía Bắc và Bắc trung bộ và Duyên hải Miền trung là rất thấp, trong khi các vùng này
thật sự cần vốn để phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, góp phần phát triển kinh tế
xoá đói giảm nghèo.
Từ số liệu phân tích ở trên, chúng ta có thể đánh giá thành tựu của 17 năm huy
động và sử dụng ODA tại Việt Nam như sau:
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010309
- ODA là nguồn vốn thường lớn, tập trung nên cho phép giải quyết nhanh và dứt
điểm nhu cầu của các nước nhận đầu tư trong việc xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng;
qua đó tạo môi trường thuận lợi trong việc thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài
khác như FDI hay các nguồn vốn tài trợ khác của các công ty, tổ chức kinh tế quốc tế
khác để phát triển kinh tế. Chúng ta có thể thấy được vai trò của vốn đầu tư thể hiện qua
một số công trình quan trọng như cầu Mỹ Thuận, Hầm đèo Hải Vân...
- Nguồn vốn ODA có vai trò quan trọng trong việc xoá đói giảm nghèo, phát
triển xã hội, tăng cường bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, tăng cường thể chế
thông qua các chương trình, dự án hỗ trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành
chính và xây dựng chính sách quản lý kinh tế theo lịch trình phù hợp với chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước và lộ trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,
tăng cường năng lực con người và góp phần đẩy mạnh quan hệ đối tác với các nước trên
thế giới.
Bên cạnh những kết quả đạt được, thì các nước khi thu hút nguồn vốn ODA
cũng gặp không ít những khó khăn, bất lợi như: