Trang 1
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2008
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN NGỌC HÙNG
TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2008
Trang 3
MỤC LỤC
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
Lời mở đầu
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO VÀ KIỂM TOÁN
NỘI BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM.................1
1.1. Khái niệm và phân loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM....1
1.1.1. Khái niệm rủi ro............................................................................1
1.1.2. Phân loại rủi ro .............................................................................1
1.2. Kiểm toán nội bộ.......................................................................................4
1.2.1 Khái niệm kiểm toán nội bộ..........................................................4
1.2.2. Mục tiêu, nguyên tắc và phạm vi kiểm toán nội bộ......................7
1.2.3. Nội dung hoạt động của Kiểm toán nội bộ...................................8
1.2.4. Phương pháp thực hiện kiểm toán nội bộ.....................................9
1.3. Vai trò của kiểm toán nội bộ đối với việc quản lý rủi ro trong NHTM...10
2.4. Thực trạng về rủi ro lãi suất tại Ngân hàng TMCP Phương Nam...........44
2.4.1.Diễn biến lãi suất từ năm 2005 đến tháng 06/2008.......................44
2.4.2.Ảnh hưởng của việc biến động lãi suất và nguyên nhân phát sinh
rủi ro..............................................................................................48
2.4.3.Những biện pháp Ngân hàng Phương Nam đã thực hiện để quản lý
rủi ro lãi suất thông qua hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ ......51
Trang 5
2.5. Thực trạng rủi ro từ những tỷ lệ an toàn đảm bảo trong hoạt động của
Ngân hàng Phương Nam..........................................................................51
2.5.1.Điểm qua một số tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của Ngân
hàng Phương Nam.........................................................................51
2.5.2.Những điểm phù hợp, chưa phù hợp với chuẩn mực của Việt Nam
và thông lệ quốc tế.........................................................................52
2.6. Những rủi ro khác....................................................................................54
2.7. Đánh giá chung về vấn đề nhận diện rủi ro từ công tác kiểm toán nội bộ
tại ngân hàng TMCP Phương Nam.......................................................54
2.7.1.Ưu điểm của kiểm toán nội bộ trong việc nhận diện và quản lý rủi
ro tại ngân hàng Phương Nam.......................................................56
2.7.2.Nhược điểm của công tác kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng TMCP
Phương Nam..................................................................................57
Tóm lược chương 2..........................................................................................62
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO TỪ GÓC ĐỘ
KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG TMCP PHƯƠNG NAM .....63
3.1. Giải pháp đối với Ngân hàng TMCP Phương Nam.................................63
3.1.1. Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng
Phương Nam..................................................................................63
3.1.2. Các giải pháp hỗ trợ khác .............................................................72
3.2. Giải pháp đối với Ngân hàng Nhà nước..................................................82
3.2.1. Giải pháp về công tác kiểm toán nội bộ tại NHTM......................82
3.2.2. Các giải pháp hỗ trợ công tác kiểm toán nội bộ tại các NHTM....84
Trang 9
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, nhất là sau khi gia nhập vào tổ chức thương
mại thế giới (WTO) thì mức độ hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế quốc
tế ngày càng sâu và rộng, trong đó, tài chính ngân hàng là một trong những
lĩnh vực có nhiều thay đổi nhất. Sự hội nhập ấy mang đến cho ngành ngân
hàng Việt Nam những cơ hội mới trong việc học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm
quản lý cũng như tận dụng công nghệ tiên tiến, phát triển nhiều sản phẩm dịch
vụ từ những quốc gia phát triển. Bên cạnh đó, việc thiếu kinh nghiệm thực tế,
lúng túng trong cách điều hành và kiểm soát các hoạt động ngân hàng trong
điều kiện mới đã tạo nên những rủi ro ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của
các ngân hàng thương mại Việt Nam. Do đó, song song với mục tiêu tăng
trưởng và phát triển, quản lý tốt các rủi ro để đảm bảo tạo ra một môi trường
kinh doanh ổn định đang là áp lực lớn của tất cả các ngân hàng thương mại
nói chung tại Việt Nam.
Xuất phát từ mục tiêu đó, cần phải có một công cụ hữu hiệu để các ngân
hàng thương mại có thể quản lý và kiểm soát các loại rủi ro hiện có, đồng thời
ngăn chặn việc phát sinh những rủi ro mới. Thực hiện công tác kiểm toán nội
bộ hiệu quả là giải pháp tối ưu mang tính chiến lược và cấp thiết trong điều
kiện hiện nay. Tuy nhiên, thực tế hoạt động kiểm toán nội bộ tại ngân hàng
mới được đề cập và áp dụng trong vài năm gần đây và quá trình thực hiện còn
nhiều lúng túng, thiếu kinh nghiệm về cả lý luận lẫn thực tiễn. Do đó, kiểm
toán nội bộ tại hầu hết các ngân hàng thương mại đều chưa được quan tâm
đúng mức để phát huy tác dụng trong việc quản lý rủi ro.
Trang 10
Chính vì yêu cầu đó từ thực tế, cần có một nghiên cứu về vấn đề quản lý
rủi ro từ góc độ kiểm toán nội bộ nhằm góp phần quan trọng trong việc đảm
bảo an toàn hoạt động của ngân hàng thương mại. Trong phạm vi của đề tài,
việc nghiên cứu này được thực tiện tại Ngân hàng thương mại cổ phần
trạng không chắc chắn nào có thể ước đoán được xác suất xảy ra mới được
xem là rủi ro. Những tình trạng không chắc chắn nào chưa từng xảy ra và
không thể ước đoán được xác suất xảy ra được xem là sự bất trắc chứ không
phải rủi ro.
Rủi ro vừa mang tính tích cực vừa mang tính tiêu cực: rủi ro có thể
mang đến cho con người những tổn thất, mất mát, nguy hiểm; nhưng cũng có
thể mang đến cơ hội, thời cơ. Nếu tích cực nghiên cứu, nhận dạng, đo lường
rủi ro, chúng ta có thể tìm ra được những biện pháp phòng ngừa, hạn chế
những tiêu cực và phát huy được những cơ hội tích cực mang lại từ rủi ro.
* Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng:
Đó là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến những
tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến
hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một
nghiệp vụ tài chính nhất định.
1.3.2. Phân loại rủi ro:
1.3.2.1. Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của
ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không còn khả năng chi
Trang 12
trả hoặc trả nợ không đúng hạn. Lưu ý rằng trong hoạt động ngân hàng, thực
hiện nghiệp vụ cho vay thì đó mới chỉ là một giao dịch chưa hoàn thành. Giao
dịch tín dụng chỉ được xem là hoàn thành khi nào ngân hàng thu hồi về được
khoản cho vay cả gốc và lãi. Tuy nhiên khi thực hiện giao dịch tín dụng ngân
hàng không biết chắc được giao dịch đó có hoàn thành hay không. Do đó rủi
ro tín dụng thể hiện ở khả năng hay xác suất hoàn thành giao dịch tín dụng đó.
Như vậy, rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà
trong đó ngân hàng là chủ nợ, mà khách nợ lại không thực hiện hoặc không
đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Nó diễn ra trong quá trình
cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài
chính, bão lãnh, bao thanh toán của ngân hàng. Đây còn được gọi là rủi ro mất
khoản đi vay hoặc cho vay theo lãi suất thả nổi. Nếu ngân hàng đi vay theo lãi
suất thả nổi, khi lãi suất thị trường tăng khiến chi phí của ngân hàng tăng theo
và ngược lại. Rủi ro lãi suất đặc biệt quan trọng khi ngân hàng huy động vốn
thông qua phát hành trái phiếu hoặc đầu tư tài chính khá lớn và theo lãi suất
thị trường.
1.3.2.5. Rủi ro tác nghiệp (rủi ro hoạt động) :
Rủi ro tác nghiệp xảy ra do nguyên nhân thiếu hoặc có nhưng không
hiệu quả của các quy trình nội bộ, con người hoặc hệ thống, hoặc xảy ra do
các sự kiện bên ngoài, gây tổn thất cho ngân hàng. Mỗi ngân hàng tùy thuộc
Trang 14
vào mục tiêu quản lý rủi ro của mình mà có thể xây dựng định nghĩa riêng về
rủi ro tác nghiệp trong ngân hàng mình.
1.3.2.6. Rủi ro thị trường :
Đây là loại rủi ro tổn thất tài sản, xảy ra khi có sự thay đổi của các điều
kiện thị trường hay những biến động của thị trường làm ảnh hưởng đến lãi
suất, tỷ giá ngoại hối, giá chứng khoán mà ngân hàng đang đầu tư...
1.4. Kiểm toán nội bộ
1.4.1. Khái niệm:
a) Kiểm toán: là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông
tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa thông
tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập. Quá trình kiểm toán phải được
thực hiện bởi các kiểm toán viên có đủ năng lực và độc lập.
b) Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ:
(1)
là tập hợp các cơ chế, chính sách,
quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng được thiết
lập trên cơ sở phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và được tổ chức
thực hiện nhằm đảm bảo phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các rủi ro
và đạt được các mục tiêu mà tổ chức tín dụng đã đặt ra.
c) Kiểm toán nội bộ:
Đối tượng của loại hình này rất đa dạng, có thể bao gồm:
+ Kiểm tra việc huy động, phân phối, sử dụng một cách tiết kiệm
và có hiệu quả các nguồn lực (nhân lực, vật tư, hàng hoá, tài sản, tiền
vốn…) của đơn vị.
+ Kiểm tra tính hiệu quả của hoạt động sản xuất, kinh doanh;
phân phối và sử dụng thu nhập; kết quả bảo toàn và phát triển vốn.
+ Kiểm tra và đánh giá tính hiệu quả hoạt động của các bộ phận
chức năng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh của đơn vị.
Do tính đa dạng của kiểm toán hoạt động, nên người ta không thể đưa
ra chuẩn mực chung để đánh giá, mà chuẩn mực sẽ được xác định tuỳ theo
từng đối tượng cụ thể của cuộc kiểm toán và theo nhận thức của kiểm toán
viên. Vì vậy, nếu các chuẩn mực kiểm toán không được xác định một cách rõ
Trang 16
ràng và chặt chẽ, việc kiểm tra và đưa ra ý kiến có thể phụ thuộc vào chủ
quan của kiểm toán viên.
d
2
/ Kiểm toán tuân thủ: là việc kiểm tra nhằm đánh giá mức độ chấp hành
một quy định nào đó ví dụ như văn bản pháp luật, văn bản hay quy định của đơn
vị được kiểm toán.
Đối tượng của loại này có thể bao gồm:
+ Kiểm tra tính tuân thủ luật pháp, chính sách, chế độ tài chính kế toán,
chế độ quản lý nhà nước và tình hình chấp hành các chính sách, nghị
quyết, quyết định hay quy chế của Hội đồng quản trị, Ban giám đốc.
+ Kiểm tra tính tuân thủ các quy định về nguyên tắc, quy trình nghiệp
vụ, thủ tục quản lý của toàn bộ cũng như của từng khâu công việc
của từng bộ phận trong hệ thống Kiểm soát nội bộ.
+ Kiểm tra sự chấp hành các nguyên tắc, các chính sách, các chuẩn
mực kế toán từ khâu lập chứng từ, vận dụng hệ thống tài khoản, ghi
sổ kế toán, tổng hợp thông tin và trình bày báo cáo tài chính, báo cáo
độc lập, khách quan.
- Các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán nội bộ:
+ Tính độc lập: bộ phận kiểm toán nội bộ độc lập với các đơn vị, các bộ
phận điều hành, tác nghiệp của tổ chức tín dụng; hoạt động kiểm toán nội
bộ độc lập với các hoạt động điều hành, tác nghiệp của tổ chức tín dụng.
+ Tính khách quan: bộ phận kiểm toán nội bộ, kiểm toán viên nội bộ
phải đảm bảo tính khách quan, trung thực, công bằng, không định kiến
khi thực hiện nhiệm vụ kiểm toán nội bộ.
+ Tính chuyên nghiệp: kiểm toán viên nội bộ phải là người có kiến
thức, trình độ và kỹ năng kiểm toán nội bộ cần thiết, không kiêm nhiệm
các cương vị, các công việc chuyên môn khác của tổ chức tín dụng.
(3)
Điều 3,4,10 của quyết định 37/2006/QĐ – NHNN ngày 01/08/2006
Trang 18
- Phạm vi kiểm toán nội bộ:
+ Kiểm toán tất cả các hoạt động, các quy trình nghiệp vụ và các đơn
vị, bộ phận của tổ chức tín dụng.
+ Kiểm toán đặc biệt và tư vấn theo yêu cầu của Hội đồng quản trị,
Ban Kiểm soát.
1.2.6. Nội dung hoạt động của Kiểm toán nội bộ
(4)
Nội dung chính của hoạt động kiểm toán nội bộ là kiểm tra, đánh giá
tính đầy đủ, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ. Tùy
theo quy mô, mức độ rủi ro cũng như yêu cầu cụ thể của từng tổ chức tín
dụng, kiểm toán nội bộ có thể rà soát, đánh giá những nội dung sau:
- Mức độ đầy đủ, tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm tra, kiểm soát
nội bộ.
- Việc áp dụng, tính hiệu lực, hiệu quả của các quy trình nhận dạng, phương
pháp đo lường và quản lý rủi ro, phương pháp đánh giá vốn.
− Kết quả đánh giá rủi ro sẽ là căn cứ để Trưởng Kiểm toán nội bộ làm việc
với Ban Kiểm soát, Tổng giám đốc và Hội đồng quản trị trong quá trình
lập kế hoạch kiểm toán nội bộ hàng năm. Các rủi ro sẽ được xếp hạng theo
thứ tự từ cao đến thấp, trong đó những hoạt động được coi là có rủi ro cao
sẽ được ưu tiên tập trung nhiều nguồn lực, thời gian hơn để kiểm toán,
được kiểm toán trước và được kiểm toán thường xuyên hơn các hoạt động
có rủi ro thấp hơn.
− Kế hoạch kiểm toán nội bộ phải được xây dựng dựa trên kết quả đánh giá
rủi ro và phải được cập nhật, thay đổi, điều chỉnh phù hợp với các diễn
biến, thay đổi trong hoạt động của tổ chức tín dụng và sự thay đổi của các
rủi ro đi kèm theo.
(5)
Điều 6 của quyết định 37/2006/QĐ – NHNN ngày 01/08/2006
Trang 20
1.3. Vai trò của kiểm toán nội bộ đối với việc quản lý rủi ro trong NHTM
1.3.1. Quản lý rủi ro:
Theo chính sách quản lý rủi ro của Ủy ban Basel thì “Quản lý rủi ro là
một quá trình liên tục cần được thực hiện ở mọi cấp độ của một tổ chức tài
chính và là yêu cầu bắt buộc để các tổ chức tài chính có thể đạt được các mục
tiêu đề ra và duy trì khả năng tồn tại và sự minh bạch về tài chính”.
Quan điểm khác cho rằng cần quản lý tất cả mọi loại rủi ro của ngân
hàng một cách toàn diện: “Quản lý rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách
khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa
và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro.
Quản lý rủi ro bao gồm các bước: nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, đo lường
rủi ro, kiểm soát, phòng ngừa rủi ro và tài trợ rủi ro”. Cụ thể các bước của
quản lý rủi ro:
- Nhận dạng rủi ro: là quá trình xác định liên tục và có hệ
thống các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, bao gồm các công việc:
theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ mọi hoạt
pháp này được chia thành 2 nhóm: tự khắc phục rủi ro và chuyển giao
rủi ro.
Ngoài ra, việc quản trị rủi ro cần dựa trên 9 nguyên tắc cơ bản sau: (1)
chấp nhận rủi ro, (2) điều hành rủi ro cho phép, (3) quản lý độc lập các rủi ro
riêng biệt, (4) sự phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và mức độ thu nhập,
(5) sự phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và khả năng tài chính, (6) hiệu
quả kinh tế, (7) hợp lý về thời gian, (8) phù hợp với chiến lược chung của
ngân hàng, (9) chuyển đẩy các loại rủi ro không cho phép.
Trang 22
Căn cứ vào 9 nguyên tắc trên, mỗi ngân hàng xây dựng cho mình một
chính sách quản trị rủi ro riêng biệt, phải xây dựng được một hệ thống phòng
chống từ xa, đưa ra được giải pháp nhằm điều tiết các tác động xấu đến tình
hình tài chính của ngân hàng.
1.3.2. Tầm quan trọng của quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng
Trong giai đoạn hiện nay, khi mà ngành tài chính - ngân hàng đang hội
nhập ngày càng sâu và rộng vào nền kinh tế quốc tế, yêu cầu đặt ra đối với
việc quản lý và kiểm soát những rủi ro phát sinh trong quá trình quản trị ngân
hàng là vô cùng cần thiết và cấp bách đối với tất cả các ngân hàng thương mại
tại Việt Nam nói chung và với Ngân hàng TMCP Phương Nam nói riêng.
Hậu quả của việc quản lý rủi ro yếu kém có thể gây tổn thất về tài sản
cho ngân hàng như: không thu hồi được vốn vay, tăng chi phí hoạt động, giảm
sút lợi nhuận; làm mất lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng; gây ra việc
rút tiền hàng loạt, ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng. Khi
một ngân hàng không đủ khả năng thanh khoản thì con đường dẫn đến phá
sản rất ngắn. Ngoài ra, nó còn kéo theo sự hoảng loạn của hàng loạt các ngân
hàng khác trong hệ thống tài chính - ngân hàng trong nước. Ở mức độ hội
nhập và toàn cầu hóa như hiện nay thì nền kinh tế của mỗi quốc gia đều phụ
thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Do đó, ngân hàng ở một nước xảy
ra rủi ro, nhất là rủi ro tín dụng, có thể ảnh hưởng đến hệ thống tài chính ngân
hàng cũng như toàn bộ nền kinh tế của nước đó và cả những nền kinh tế của
dõi thường xuyên mọi mặt hoạt động, mọi mắt xích trong quá trình giao dịch
Trang 24
nhằm đưa ra các báo cáo cảnh báo về những khiếm khuyết, thiếu sót hoặc sai
sót trong mọi chính sách kinh doanh, quy trình tác nghiệp trong ngân hàng.
Tuy việc tiếp cận những chuẩn mực của Basel II đòi hỏi kỹ thuật phức
tạp, trong khi hệ thống ngân hàng Việt Nam còn đang ở giai đoạn phát triển
ban đầu, nhưng Basel II cũng đã ảnh hưởng đến yêu cầu về quản lý rủi ro của
các ngân hàng thương mại Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện đã
ban hành nhiều quyết định để từng bước hướng tới những tiêu chuẩn đo lường
rủi ro, giám sát ngân hàng theo các chuẩn mực của Basel II. Nội dung của các
quyết định này yêu cầu các tổ chức tín dụng áp dụng các trọng số rủi ro của
tài sản, tiến dần đến những đánh giá mang các yếu tố định tính; khẩn trương
xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ; dự phòng được chia thành dự
phòng chung và dự phòng cụ thể. Bao gồm các quyết định:
- Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/04/2005 “Quy định về các tỷ lệ
đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD”
- Quyết định 03/2007/QĐ-NHNN ngày 19/01/07 - sửa đổi bổ sung một số
điều của quyết định 457
- Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 - “Quy định về phân
loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động ngân
hàng của TCTD”
- Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 - sửa đổi, bổ sung một
số điều của QĐ 493
Với xu thế hội nhập và tự do hóa hoạt động ngân hàng với nhiều loại
hình dịch vụ mới, áp dụng Basel II là yêu cầu cấp thiết và bắt buộc đối với
mọi ngân hàng thương mại, trên cơ sở đó sẽ tăng cường năng lực hoạt động
và giảm thiểu rủi ro của các ngân hàng. Hiện tại hệ thống ngân hàng thương
mại Việt Nam đang áp dụng theo phương pháp đánh giá rủi ro tín dụng dựa
trên Hiệp ước Basel I, và mới chỉ thực hiện được một phần Basel I. Hoạt động
Trang 25