Lời mở đầu
Với bất kỳ doanh nghiệp nào, vốn là một trong các yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh. Đối với ngân hàng thương mại (NHTM) – tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà
hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng và cho vay từ số tiền huy động
được, đồng thời làm các dịch vụ Ngân hàng thì vai trò của nguồn vốn càng trở nên đặc biệt quan trọng.
Qui mô, cơ cấu và các đặc tính của nguồn vốn quyết định hầu hết các hoạt động của một NHTM bao
gồm qui mô, cơ cấu, thời hạn tài sản và khả năng cung ứng dịch vụ, từ đó quyết định khả năng sinh lời
và sự an toàn của mỗi Ngân hàng.
Trong khi chưa khai thác được số lượng lớn tiền nhàn rỗi trong các tổ chức kinh tế và dân cư,
nhiều ngân hàng hiện vẫn phụ thuộc vào nguồn vốn vay, kể cả vay các Ngân hàng nước ngoài để đáp
ứng cho nhu cầu đầu tư. Việc thu hút nguồn vốn với chi phí cao, sự ổn định thấp và không phù hợp với
sử dụng vốn về qui mô, kết cấu làm hạn chế khả năng sinh lời, đồng thời đặt ngân hàng trước nguy cơ
rủi ro lãi suất, rủi ro thanh toán và hơn thế có thể dẫn đến sự mất ổn định trong toàn bộ hệ thống tài
chính như nhiều quốc gia từng lâm vào. Do vậy yêu cầu tăng cường huy động vốn có mức chi phí hợp
lý và ổn định cao được đặt ra hềt sức cấp thiết đối với Ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung,
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín (Sacombank) nói riêng.
Sacombank là ngân hàng TMCP đầu tiên của TP.HCM khai trương chi nhánh tại Hà Nội, phát
hành kỳ phiếu có mục đích, thực hiện dịch vụ chuyển tiền nhanh từ Hà Nội đi TP.HCM và ngược lại,
là ngân hàng đầu tiên phát hành cổ phiếu đại chúng với mệnh giá 200.000 đồng/cổ phiếu để tăng vốn
điều lệ lên 71 tỷ đồng với gần 9.000 cổ đông tham gia góp vốn. Sacombank đã sớm nhận được sự hỗ
trợ về kinh nghiệm quản lý, công nghệ ngân hàng, quản lý rủi ro, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
từ các cổ đông chiến lược nước ngoài. Sacombank đã mở rộng qui mô và nâng cao chất lượng hoạt
động kinh doanh nhưng thực tiễn đang đặt ra những thách thức mới ở phía trước. Do ảnh hưởng của
tình hình kinh tế xã hội, cạnh tranh càng tăng cao bởi có thêm hoạt động của các tổ chức tài chính phi
ngân hàng về huy động vốn như Bảo hiểm, Quỹ hỗ trợ phát triển, Bưu điện huy động tiền gửi tiết
kiệm, … Mặt khác việc kiểm soát chặt chẽ trần lãi suất cho vay đã làm cho việc huy động vốn của
Sacombank cần áp dụng những giải pháp thích ứng.
Xuất phát từ đòi hỏi cấp thiết đó, với đề tài:
“Tình hình huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần”, Ngân hàng thương mại cổ phần
Sài Gòn thương tín đã được lựa chọn và triển khai nghiên cứu.
Để hoàn thành bài tiểu luận này chúng em có sử dụng một số tài liệu và đặc biệt được sự
2/20
2. Quá trình tăng vốn điều lệ của Sacombank
STT Ngày Vốn điều lệ GP chấp hành của NHNN
1 31/03/2006
1.899.472.990.000 401/NHNN-HCM02
2 31/12/2006
2.089.412.810.000 1457/NHNN-HCM02
3 16/04/2007
4.448.814.170.000 544/NHNN-HCM02
4 20/08/2008
5.115.830.840.000 1019/NHNN-HCM
5 23/11/2009
6.700.353.000.000 1657/NHNN-HCM02
6 16/11/2010
9.179.230.130.000 3987/NHNN-TTGSNH
Nguồn: Sacombank
3. Sản phẩm dịch vụ chính
• Huy động vốn (nhận tiền gửi của khách hàng) bằng VNĐ, ngoại tệ và vàng.
• Sử dụng vốn (cung cấp tính dụng, đầu từ, hùn vốn liên doanh).
• Các dịch vụ trung gian (thực hiện thanh toán trong và ngoài nước, thực hiện
dịch vụ ngân quỹ, chuyển tiền kiều hối và chuyển tiền nhanh, bảo hiểm nhân
thọ qua ngân hàng).
• Kinh doanh ngoại tệ và vàng.
• Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng, thể ghi nợ.
II Danh sách các công ty mẹ và công ty con của tổ chức phát hành thêm
1. Công ty trực thuộc của Sacombank (Sacombank sở hữu 100% vốn
điều lệ)
• Công ty TNHH MTV Quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng Sài Gòn
Thương Tín (Sacombank-SBA).
• Công ty TNHH MTV Kiều hối Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank-
4.306.275 7,4% 6.005.720 6.96% 20.296.319 16,08%
TCKT & dân cư 53.282.919 90,9% 78.497.393 90,92% 103.804.431 82,25%
Uỷ thác
1.014.462 1,7% 1.831.709 2,12% 2.102.704 1,67%
Cộng
58.603.656 100% 86.334.882 100% 126.203.454 100%
Nhìn chung, theo đà phục hồi của nền kinh tế và sự ổn định của hệ thống tài chính
ngân hàng, tốc độ tăng trưởng huy động vốn của Sacombank ở mức khá cao. Năm
2009, tổng vốn huy động đạt 86.335 tỷ đồng, tăng 27.731 tỷ đồng, tương ứng tăng
47,32% so với năm 2008. Năm 2010, tổng nguồn vốn tăng 39.868 tỷ đồng, tương ứng
tăng 46,18 % so với năm 2009.
Trong đó:
Vay từ TCDN, NHNN và Chính phủ
Trước những khó khăn trong việc huy động từ TGKH trong năm 2010 và tác động
việc điều chỉnh chính sách đảm bảo các tỷ lệ an toàn theo Thông tư 13 thì nhu cầu vốn
từ thị trường cấp 2 trở nên cần thiết hơn so với các năm trước đối với tất cả các ngân
hàng, không loại trừ Sacombank. Tỷ trọng nguồn vốn từ thị trường cấp 2 trên tổng
nguồn vốn huy động thời điểm cuối năm 2010 tăng 10% so với năm 2009.
5/20
Vốn ủy thác
Các khoản vốn Sacombank nhận từ các tổ chức quốc tế và tổ chức khác đến năm
2010 đạt 2.102 tỷ đồng, chủ yếu là các tổ chức quốc tế như IFC, FMO, ADB,
Proparco… Khoản vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ (khoảng 1,8%) trong tổng vốn huy động
của Sacombank và tăng giảm không đáng kể qua các năm.
Vốn từ các TCKT và dân cư
Đây là nguồn vốn huy động chủ yếu của ngân hàng. Năm 2009 Sacombank đã huy
động từ khu vực này 78.497 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng gần 91% trong tổng vốn huy động,
tăng tương ứng 47,32% so với năm 2008. Năm 2010 chiếm tỷ trọng khoảng 82% trong
tổng vốn huy động, tăng 25.307 tỷ đồng so với năm 2009. Số liệu qua các thời điểm cho
thấy Sacombank luôn duy trì được tỷ trọng nguồn tiền gửi khách hàng ở mức cao.
đó thì các khoản tiền gửi thanh toán này cũng được tăng lên khá mạnh vào năm 2010,
cụ thể với 117.780 triệu đồng.
Nhìn chung qua cơn biến động kinh tế, các tổ chức cũng đã phục hồi lại với thời
điểm 2008. Mặc khác, do Ngân hàng mở rộng mạng lưới thanh toán, chuyển tiền điện
tử, đáp ứng nhanh, kịp thời cho việc chi trả tiền hàng, thuận tiện cho việc thanh toán
không dùng tiền mặt nên đã thu hút rất nhiều doanh nghiệp mở tài khoản thanh toán.
Điều này cho thấy khả năng huy động vốn từ các tổ chức này ngày càng khả quan hơn,
6/20
uy tín của Ngân hàng ngày càng được nâng lên, nhiều tổ chức kinh tế tín nhiệm gửi tiền
vào.
b. Tiền gửi có kỳ hạn
Tiền gửi có kỳ hạn qua mỗi năm đều tăng, nhưng tăng đột biến là vào năm 2010 với
tỷ trọng chiếm 81,14 % trên tổng tiền gửi, tiền vay từ các tổ chức tính dụng khác. Mặc
dù, hai năm trước loại tiền gửi này chỉ huy động vốn với tỷ trọng nhỏ. Sở dĩ có được kết
quả như vậy là nhờ vào sự chỉ đạo linh hoạt của ban lãnh đạo trong công tác huy động
vốn. Công tác tiếp thị các doanh nghiệp, công ty mới thành lập thông qua danh sách
doanh nghiệp, công ty do sở Kế hoạch đầu tư cung cấp kết hợp với tiếp thị khách hàng
hiện hữu thực hiện thanh toán thông qua tài khoản mở tại Sacombank được triển khai
tốt góp phần thúc đẩy việc tăng tiền gửi có kỳ hạn trong năm 2008 - 2010.
c. Tiền vay các tổ chức tín dụng khác
Năm 2008 – 2009, do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế và chưa ổn định, các
ngân hàng tại TP HCM đều hạn chế vay vốn các tổ chức tín dụng khác vì lãi suất tiền
vay cũng quá cao. Năm 2009, loại tiền vay này đã giảm hơn một nữa với năm 2008,
nhưng tỷ trọng huy động vẫn chiếm ưu thế.
Năm 2010, nền kinh tế dần phục hồi và khoản vay từ các tổ chức tính dụng khác của
Sacombank cũng tăng hơn 50% so với năm 2009. Dù có khoản tăng mạnh, nhưng tỷ
trọng của tiền vay này không còn chiếm vị thế lớn trong tổng tiền gửi, vay từ các tổ
chức tín dụng khác như hai năm trước.
2. Tiền gửi từ cá nhân
2008 2009 2010
đồng, tăng hơn 12,32 lần so với 2009. Vì do nhu cầu muốn đảm bảo an toàn về tài sản,
đồng thời có thể thực hiện các khoản thanh toán trong tiêu dùng của cá nhân và hạn chế
chi phí tổ chức thanh toán, bảo quản tiền và vận chuyển tiền.
Tiền gửi có kì hạn tăng 5.852.869 triệu đồng, tăng gấp 2,27 lần so với 2009. Vì do
tiền để dành của cá nhân và tiền tạm thời chưa sử dụng tăng nên họ muốn gửi vào ngân
hàng để có lợi tức.
Tiền ký quỹ tăng 211.782 triệu đồng, tăng 1,39 lần so với 2009. Đây là nguồn vốn chiếm
dụng các loại tiền gửi nghĩa vụ của khách hàng trong quá trình tổ chức thanh toán
không dùng tiền mặt như: tiền gửi ký quỹ chủ yếu dùng để bảo chi séc, mở thư tín dụng,
bảo lãnh ngân hàng… Tuy chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn huy động từ dân cư
nhưng trong tương lai đây là nguồn huy động tiềm năng. Đây là một kênh huy động vốn
với chi phí rẻ vì ngân hàng không trả hoặc trả rất ít (từ 0,1% - 0,25%) cho số vốn chiếm
dụng. Trong tương lai các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt được sử dụng phổ
biến hơn do nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của một nền kinh tế đang phát triển như Việt
Nam dần thay thế cho các giao dịch bằng tiền mặt như hiện nay.
Tiền gửi vốn chuyên dùng tăng 68.025 triệu đồng, tăng gấp hơn 30 lần.
3. Chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu:
2008 2009 2010
Số tiền Tỷ trọng
(%)
Số tiền Tỷ trọng
(%)
Số tiền Tỷ trọng
(%)
Ngắn hạn
5.808.07
7
75,833 16.184.65
9
1. Cá nhân
i. Tiền gửi tiết kiệm
i. Tiết kiệm có kỳ hạn:
• Tiết kiệm Phù Đổng
Đây được xem như bài học vỡ lòng về ý thức tiết kiệm, kiểm soát chi tiêu, và biết
lập kế hoạch tài chính dành cho trẻ từ 0 đến 15 tuổi (đứng tên trên thẻ tiết kiệm). Kỳ
hạn gửi tiền từ 1 đến 15 năm sẽ đảm bảo nguồn tích lũy tài chính đủ trang trải cho kế
hoạch học tập của trẻ trong tương lai. Vì thế, khách hàng có thể gửi tiền nhiều lần
trong kỳ và rút vốn một lần khi tất toán tài khoản. Lãi suất gửi là lãi suất kỳ hạn 6
tháng của sản phẩm tiết kiệm truyền thống.
• Tiết kiệm Phát Lộc, Tiết kiệm Tháng năng động
Sản phẩm đã thu hút được nhiều khách hàng tham gia với mức lãi suất cạnh tranh
theo thị trường và linh hoạt trong việc lựa chọn kỳ lãnh lãi, rút vốn phù hợp nhất với
nhu cầu mỗi khách hàng. Tiết kiệm Phù Đổng có kỳ rút vốn, lãnh lãi từ 1,2,3 tuần hay
1,2,3,6,9,12 tháng. Hoặc như khách hàng rút vốn trước kì hạn vẫn được hưởng lãi suất
không kì hạn từ ngày gửi;
10/20
Tiết kiệm Tháng năng động là giải pháp tối ưu dành cho khách hàng sử dụng vốn
theo tuần. Mặc dù, kỳ hạn gửi chỉ 1 tháng nhưng khi rút trước thời hạn, phần thời gian
thực gửi tròn tuần sẽ hưởng lãi suất kỳ hạn một tuần tương ứng, phần thời gian không
tròn tuần hưởng theo lãi suất không kỳ hạn tại thời điểm rút vốn;
Cả hai sản phẩm này đều hướng tới khoản vốn nhàn rỗi khá lớn từ khách hàng. Mức
gửi tối thiểu của Tiết kiệm Phù Đổng là 10 triệu VNĐ hay 500USD, Tiết kiệm Tháng
năng động là 20 triệu VNĐ hay 1000USD.
• Tiết kiệm Đại Các
Sản phẩm tích lũy hưu trí dành cho khách hàng ở tuổi trên 50 nhằm giúp cho số tiền
tích lũy của khách hàng ngày càng tăng và cả người thân sẽ có một cuộc sống nhàn hạ
mà vẫn đảm bão nguồn tài chính trong thời gian nghỉ hưu. Ngoài lãi suất tiết kiệm
thông thường, khách hàng còn được hưởng thêm lãi suất thưởng cho kỳ tái tục. Nhưng
khi khách hàng rút vốn trước kỳ hạn sẽ không nhận được khoản lãi thưởng.
b. Tiền gửi thanh toán
Tiền gửi thanh toán giúp khách hàng giao dịch thanh toán, chuyển tiền một cách
an toàn, nhanh chóng và được hưởng theo lãi suất không kỳ hạn. Áp dụng cho nhiều
loại tiền gửi khác nhau như VND, USD, EUR, CAD… Với mỗi lần giao dịch khách
hàng phải trả các loại phí dịch vụ và kiểm đếm.
Sản phẩm được xem là nổi bật trong loại hình tiền gửi này của sacombank là:
• “Tài khoản Hoa Lợi”, tiện ích của sản phẩm này là được miễn phí thường niên
năm đầu tiên và giảm 50% phí năm thứ 2 khi sử dụng thẻ UnionPay và được
giảm phí từ 20->25% khi sử dụng dịch vụ InternetBanking. Mặc dù có nhiều
ưu đãi nhưng sản phẩm này chỉ áp dụng cho cá nhân giao dịch tại Sacombank
Chi nhánh Hoa việt và các PGD trực thuộc chi nhánh.
• “Tiền gửi thanh toán Âu Cơ”: đặc trưng của sản phẩm này là đối tượng tham
gia chỉ có phụ nữ (mở tài khoản tại chi nhánh 8/3 TPHCM và Hà Nội) và đội
hình nhân viên cũng chỉ là phụ nữ, đi kèm là một số hình thức khuyến mãi và
các tiện ích khác.
2. Doanh nghiệp:
a. Tiền gửi thanh toán
• Tiền gửi thanh toán: Sản phẩm mang đến tiện ích trông việc nhận, chuyển
khoản nhanh chóng và chi phí thấp nhất cùng mạng lưới rộng khắp.
Sacombank sẽ đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của quý khách hàng.
• Tiền gửi góp vốn mua cổ phần dành cho Nhà đầu tư nước ngoài: Đây là tài
khoản tiền gửi thanh toán chuyên dùng bằng VND mở tại Sacombank với
13/20
mục đích duy nhất là góp vốn mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam.
Tổ chức gửi tiền sẽ không được hưởng lãi suất.
• Tiền gửi ký quỹ: là tải khoản của Doanh nghiệp mở tại Sacombank để thực
hiện nghĩa vụ nào đó của doanh nghiệp với Sacombank hoặc các bên liên
quan. Bên gửi tiền nhận lãi suất tùy từng loại hình ký quỹ.
• Tiền gửi thanh toán giao dịch hàng hóa: là tài khoản thanh toán VND để phục
vụ việc giao dịch thanh toán hàng hóa trên sàn giao dịch như sàn chứng
thường rất thấp, thậm chí không rủi ro.
Một nhược điểm lớn của loại tiền gửi không kỳ hạn là mức độ rủi ro về thanh
khoản rất cao.
Ưu điểm của tiền gửi có kỳ hạn là tính ổn định khá cao, ngân hàng có thể sử dụng
vốn này để cho vay trung và dài hạn.
Nhưng nhược điểm là chi phí trả lãi cao hơn tiền gửi không kỳ hạn.
3. Chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu:
• Chứng chỉ tiền gửi
Chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn(kỳ hạn 1 đến 11 tháng). Sản phẩm áp dụng cho
cả hai đối tượng cá nhân và tổ chức với mức lãi suất cao cùng giá chiết khấu ưu
đãi nhất khi cần vốn đột xuất. Do đó, tính thanh khoản của chứng chỉ tiền gửi sẽ
cao và tạo điều kiện thu hút nguồn vốn thông qua hình thức huy động này.
• Chứng chỉ huy động vàng
Trong tình hình giá vàng biến động mạnh từ 2009 đến 2010, người dân
chuyển hướng đầu tư, tích trữ vàng cũng là lí do tài khoản chứng chỉ huy động
vàng của Sacombank tăng đáng kể. Nhưng khách hàng lại không nhận được
nhiều ưu đãi khi sử dụng sản phẩm, và nếu rút trước hạn sẽ hưởng lãi suất bằng 0.
Ưu thế sản phẩm chứng chỉ tiền gửi giúp ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn với
những mục đích xác định.
Nhược điểm là ngân hàng phải trả lãi ở mức cao hơn lãi suất tiền gửi khác.
IIIVị thế của Sacombank so với các NHTMCP
Đối với các ngân hàng thương mại huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng không
thể thiếu song hành với nghiệp vụ tín dụng trong ngân hàng thương mại. Đây là
nghiệp vụ tạo vốn cho hầu hết các ngân hàng hiện nay. Nguồn vốn huy động dồi
dào sẽ giúp ngân hàng càng tích cực thực hiện nhiều biện pháp để thu hút nguồn vốn
nhàn rỗi từ dân cư và các tổ
chức kinh tế nhằm tạo
nguồn vốn tín dụng để cho
vay đối với nền kinh tế.
2001 tăng lên 9.179 tỉ đồng năm 2010, tăng gấp 48 lần (trong khi toàn ngành chỉ tăng
15 lần)
• Hệ thống phân phối rộng
Tính đến cuối năm 2010, Sacombank là ngân hàng TMCP có mạng lưới rộng nhất:
phủ kín miền Tây, miền Đông Nam Bộ- Tây Nguyên và miền trung với hơn 380 điểm
tại 45/63 tỉnh, thành Việt Nam là lợi thế trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ.
- Trong năm 2010 đã phát triển thêm 56 PGD (trong đó có 1 PGD tại Campuchia).
Tính đến 2010, Sacombank có quan hệ đại lý với 10.339 đại lý của 305 ngân hàng tại
81 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
- Năm 2010 Sacombank đã lắp đặt thêm 124 máy ATM, nâng tổng số lên 657 máy.
Tổng số thẻ phát hành trong năm khoảng 280 ngàn thẻ tăng 94% so với năm 2009, nâng
tổng số lên 590 ngàn thẻ, tăng 42% so với cùng kì năm trước.
• Tỉ lệ nợ xấu thấp
Trong giai đoạn 2001-2010, mặc dù tốc độ tăng trưởng tín dụng của Sacombank
luôn ở mức cao và luôn cao hơn mức bình quân ngành. Nhưng với hệ thống kiểm soát
tín dụng hiệu quả (thành lập ủy ban quản lý tài sản nợ- có) Sacombank luôn duy trì tỷ lệ
nợ xấu dưới 1%, mức bình quân ngành là 2,5%, tạo mức độ an toàn vốn cao.
• Nguồn nhân lực trẻ và dồi dào
Sacombank đã có một chiến lược thu hút và đào tạo nguồn nhân lực cho mình. Với
mục tiêu định hướng cho cán bộ nhân viên phát triển sự nghiệp vững bền, Sacombank
đã xây dựng một môi trường làm việc thân thiện và chuyên nghiệp, trong đó mọi cán bộ
17/20
nhân viên được tạo điều kiện để tối đa hóa giá trị và năng lực. Theo báo cáo thường
niên năm 2009, trình độ đội ngũ nhân viên của Sacombank là: 1,9% trên đại học, 68,2%
đại học, 20,4% cao đẳng, 9,5% là trình độ khác.
2. Điểm yếu
• Qui mô vốn, khả năng quản lý còn khá khiêm tốn so với yêu cầu hội nhập
Hội nhập đang đặt ra những áp lực đòi hỏi ngân hàng Việt Nam phải đẩy mạnh cải
cách nhằm đạt tới những chuẩn mực, thông lệ quốc tế về hoạt động tiền tệ, ngân hàng.
Tuy nhiên vẫn có không ít điểm yếu như năng lực tài chính kém, mức độ rủi ro cao và
tăng qua các năm. Đối với mảng sản phẩm tiền gửi thì loại tiền gửi có kỳ hạn đang dần
trở thành thế mạnh của ngân hàng, tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn chiếm 81,14 % tổng vốn
huy động của tiền gửi, vay từ các tổ chức tín dụng khác năm 2010 và tỷ trọng cũng tăng
đều qua các năm trên tổng nguồn vốn từ tiền gửi của khách hàng.
II Giải pháp
Ngân hàng cần chú trọng quan tâm hơn đến công tác huy động vốn, chủ động khai
thác nguồn vốn tại chỗ, góp phần làm cho nguồn vốn hoạt động của ngân hàng thêm dồi
dào cho phép ngân hàng chủ động trong việc cho vay đối với các đơn vị kinh tế và dân
cư bằng một số giải pháp như:
- Giảm bớt các thủ tục hành chính để giúp khách hàng có cơ hội tiếp cận vốn ngân
hàng. Tìm biện pháp tiếp cận và thu hút nguồn vốn huy động của các công ty, các
doanh nghiệp nhà nước có nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi.
- Đa dạng hóa các sản phẩm huy động NHQT
Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả các sản phẩm huy động hiện có và phát triển sản
phẩm huy động mới, các sản phẩm tài chính ngân hàng hiện đại để dành thế chủ động
trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng. Cụ thể:
- Đa dạng hoá các hình thức huy động như: tiết kiệm hưu trí, tiết kiệm bằngvàng, tiết
kiệm gửi góp,
- Đa dạng hóa các hình thức tài trợ ngoại thương như bao thanh toán, chiết khấu bộ
chứng từ miễn truy đòi, hay bảo lãnh. Bên cạnh việc mua lại các khoản phải thu dưới
hình thức truy đòi, ngân hàng có thể thực hiện bao thanh toán miễn truy đòi kết hợp với
việc cung cấp thêm chức năng bảo hiểm rủi ro đối với bên mua có uy tín cao trên thị
trường, có tình hình tài chính tốt. Bên cạnh bảo lãnh nhận hàng, ngân hàng có thể cung
cấp cho các nhà nhập khẩu bảo lãnh thanh toán thuế nhập khẩu hay VAT.
- Đa dạng hóa kinh doanh ngoại hối, phát triển các nghiệp vụ ngoại tệ phái sinh như
Forward, Option, Swaps, Futures… để đáp ứng nhu cầu cho khách hàng.
Nâng cao trình độ tư vấn và kỹ năng bán hàng cho nhân viên
19/20
Củng cố và nâng cao chất lượng đội ngũ nhân sự nên có những cuộc kiểm tra kiến
thức nghiệp vụ định kỳ đối với các nhân viên, từ đó có những biện pháp thích hợp cho