Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
VŨ NGỌC KHUÊ
QUẢN LÝ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
TRONG GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN – 2011
THÁI NGUYÊN – 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám
hiệu, khoa Tâm lý - Giáo dục, khoa Quản lý giáo dục trường Đại học sư phạm
Thái nguyên và các thầy cô đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn tác giả trong
quá trình học tập và nghiên cứu.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các đồng chí cán bộ quản
lý, các thầy cô giáo và các em học sinh, sinh viên trường CĐXD Công trình
Đô thị đã tận tình cung cấp thông tin và tham gia ý kiến giúp đỡ tác giả trong
quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới
PGS-Tiến sỹ Đặng Thành Hưng, người thầy trực tiếp hướng dẫn khoa học đã
tận tình giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành bản luận văn khoa học này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian và phạm vi nghiên cứu
có hạn và bản thân còn những hạn chế nhất định trong quản lý và quản lý hoạt
động học tập, nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót. Kính mong nhận được
các ý kiến phê bình, đóng góp của Hội đồng chấm luận văn, các thầy cô giáo
và đồng nghiệp để nội dung nghiên cứu của đề tài hoàn thiện hơn.
Thái Nguyên, tháng năm 2011
Tác giả Vũ Ngọc Khuê
SV
Sinh viên
GVCN
Giáo viên chủ nhiệm
GV
Giáo viên
CBCNV
Cán bộ công nhân viên
QL
Quản lí
QLNT
Quản lí nhà trường
QLHT
Quản lí học tập
HT
Học tập
ND
Nội dung
THPT
Trung học phổ thông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang đứng trƣớc nhiều vận hội và thách thức mới khi trở
thành thành viên của Tổ chức Thƣơng mại thế giới WTO. Điều đó đòi hỏi cấp
bách về đổi mới trong tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị của chúng ta.
Giáo dục và đào tạo không nằm ngoài những đòi hỏi đó mà nó còn đƣợc đặt
lên một trong những ƣu tiên hàng đầu trong công cuộc đổi mới đất nƣớc. Hội
là: “Đƣa đất nƣớc ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Cải thiện rõ rệt, đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và
phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đƣa nƣớc ta cơ bản trở thành một
nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện đại vào năm 2020”. Mục tiêu phát triển giáo
dục nghề nghiệp trong Chiến lƣợc phát triển Giáo dục 2001-2010 đã chỉ rõ:
“Đặc biệt quan tâm nâng cao chất lƣợng dạy nghề gắn với nâng cao ý thức kỷ
luật lao động và tác phong lao động hiện đại. Gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng,
gắn việc làm trong các khu công nghiệp, khu chế xuất”, “Con ngƣời và nguồn
nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nƣớc trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, cần tạo sự chuyển biến cơ bản toàn diện về giáo dục, trong
đó ƣu tiên nâng cao chất lƣợng đào tạo nhân lực”.
Tại Nghị quyết số 37/2004/QH 11 khoá XI kỳ họp thứ 6 của Quốc hội
về giáo dục đào tạo cũng đã chỉ rõ: “Chất lƣợng giáo dục còn nhiều yếu kém,
bất cập, hiệu quả giáo dục còn thấp, chƣa đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn
nhân lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nƣớc, công tác quản lý giáo dục
còn nhiều hạn chế ’’
Trƣờng Cao đẳng xây dựng công trình đô thị trực thuộc Bộ xây dựng là
cơ sở đào tạo cán bộ có trình độ cao đẳng và các bậc học thấp hơn theo cơ cấu
khung của hệ thống giáo dục quốc dân thuộc lĩnh vực Xây dựng công trình đô
thị. 35 năm qua, Trƣờng đã đóng góp đáng kể nguồn nhân lực đã qua đào tạo
cho Ngành Xây dựng, đáp ứng phần nào nhu cầu lao động trong nƣớc và quốc
tế đặc biệt là lực lƣợng lao động trong lĩnh vực xây dựng công trình đô thị,
bƣớc đầu khẳng định uy tín và vị thế của Nhà trƣờng trong hệ thống giáo dục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
quốc dân. Những năm qua, Nhà trƣờng luôn quan tâm đến chất lƣợng đào tạo,
quan tâm đến công tác quản lý học tập của sinh viên, coi việc nâng cao chất
lƣợng đào tạo là nhiệm vụ thƣờng xuyên của cả bộ máy và coi việc quản lý học
tập của sinh viên là một trong những nội dung của công tác giáo dục trong nhà
trƣờng, nó quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của Nhà trƣờng.
Trường CĐXD công trình đô thị.
4.3. Đề xuất các biện pháp quản lý học tập của sinh viên trong giờ lên lớp ở
Trường CĐXD công trình đô thị.
4.4. Đánh giá các biện pháp quản lí học tập bằng phương pháp chuyên gia.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu các biện pháp quản lý học tập trong giờ lên lớp kết hợp đƣợc các
nhiệm vụ quản lý thuộc các cấp trong Trƣờng, đặc biệt là tác động đến hoạt
động của giảng viên và sinh viên trong dạy học trên lớp thì việc quản lý học
tập sẽ có tác dụng nâng cao kết quả học tập của sinh viên và chất lƣợng đào
tạo của trƣờng.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phƣơng pháp tổng quan lịch sử-logic.
- Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp tƣ liệu khoa học.
- Phƣơng pháp so sánh để tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế.
- Phƣơng pháp khái quát hóa để xác định hệ thống khái niệm.
6.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phƣơng pháp điều tra để đánh giá thực trạng quản lý học tập ở Trƣờng
cao đẳng xây dựng công trình đô thị.
- Phƣơng pháp tổng kết kinh nghiệm quản lí.
- Phƣơng pháp phân tích hồ sơ quản lí.
- Phƣơng pháp quan sát học tập và quản lí học tập.
6.3. Các phương pháp khác
- Phƣơng pháp chuyên gia (lấy ý kiến về kết quả nghiên cứu)
- Phƣơng pháp xử lí số liệu và đánh giá bằng toán thống kê.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
- Nghiên cứu lí thuyết bao quát một số vấn đề lí luận của quản lí đào
tạo thuộc hệ cao đẳng.
gần tới xa, từ đơn giản đến phức tạp nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích
cực suy nghĩ, phải luyện tập, phải hình thành nề nếp thói quen trong học tập”
[12, tr 15]. Trong các học thuyết về quản lý ở phƣơng Đông cổ đại Khổng Tử,
Mạnh Tử và một số ngƣời khác chủ trƣơng dùng “Đức trị” để cai trị dân Hoặc
Hàn phi Tử và một số ngƣời khác lại chủ trƣơng dùng “Pháp trị” để trị dân.
Ở Phƣơng Tây, nhà triết học Xôcrat cho rằng:“Những người nào biết
cách sử dụng con người thì sẽ điều khiển được công việc, hoặc cá nhân hay
tập thể một cách sáng suốt. Những người không biết làm như vậy sẽ mắc sai
lầm trong công việc”. Tƣ tƣởng quản lý con ngƣời và những yêu cầu về
ngƣời đứng đầu cai trị dân đƣợc thể hiện trong quan điểm của Platon (427 –
347 TCN). Theo ông muốn trị nƣớc thì phải biết đoàn kết dân lại, phải vì dân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Ngƣời đứng đầu phải hiểu biết, thành thật, tự chủ, biết điều độ ít tham vọng về
vật chất, đặc biệt phải đƣợc đào tạo kỹ lƣỡng.
Từ cuối thế kỷ XIV, khi chủ nghĩa tƣ bản xuất hiện vấn đề về dạy học và
quản lý dạy học đã đƣợc nhiều nhà giáo dục quan tâm nổi bật nhất là Cômenxki
( 1592 -1670 ) - ông tổ của nền giáo dục cận đại, theo ông nghề thầy giáo là nghề
rất vinh dự “Dưới ánh mặt trời không có nghề nghiệp nào cao quí hơn” [12, tr
70]. Ông đã đặt cơ sở lý luận cho một nền dân chủ giáo dục tiến bộ sau này và
cho đến nay hệ thống lý luận đó vẫn còn giá trị tích cực, tiến bộ đối với sự
nghiệp giáo dục đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ trong xã hội văn minh hiện đại.
Vào cuối thế kỷ XVII có những nhà nghiên cứu về quản lý tiêu biểu nhƣ
Rober Owen (1771- 1858), F.Tay Lo (1856 – 1915) ngƣời đƣợc coi là “Cha đẻ của
Thuyết quản lý khoa học ”. Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX xuất hiện hàng loạt
công trình với nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý: tính khoa học và nghệ
thuật của quản lý, những động cơ để thúc đẩy một tổ chức phát triển Trong lĩnh
vực giáo dục, khoa học giáo dục đã thực sự biến đổi về lƣợng và về chất.
Có rất nhiều công trình nghiên cứu nền tảng và ứng dụng ở nƣớc ngoài,
nhất là ở các nƣớc phát triển về quản lí giáo dục và quản lí trƣờng học. Những
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam đã có nhiều quan điểm về những vấn đề lí luận cơ bản của
quản lí giáo dục, quản lí trƣờng học và quản lí dạy học đƣợc phân tích và lí
giải trong các công trình của Hà Thế Ngữ, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Văn
Hộ, Phạm Minh Hạc, Đặng Thành Hƣng, Đặng Quốc Bảo, Trần Quốc Thành,
Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Gia Quý, Hà Sĩ Hồ, Nguyễn Văn Lê, Trần Kiểm,
Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức, Bùi Minh Hiền, Nguyễn Thị Mỹ Lộc,
Phan Văn Kha Trong đó ít nhiều đều đề cập vấn đề quản lí đào tạo,
quản lí dạy học và quản lí các hoạt động giáo dục khác trong nhà trƣờng.
Nhiều công trình nghiên cứu cụ thể trong khuôn khổ các đề tài, các tạp
chí khoa học, các luận án và luận văn thời gian qua đã dành sự quan tâm cho
rất nhiều vấn đề cụ thể của quản lí giáo dục ở các cấp và ngành học khác nhau,
từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học. Một số bài báo gần đây trực tiếp
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
bn v nhng vn bn cht ca qun lớ giỏo dc (ng Thnh Hng. Bn
cht ca qun lớ giỏo dc, Tp chớ Khoa hc giỏo dc s 60/9/2010; c im
qun lớ giỏo dc v qun lớ trng hc trong bi cnh hin i hoỏ v hi nhp
quc t. Tp chớ Qun lớ giỏo dc, s 17 thỏng 10/2010; V Th Sn. Mụi
trng hc tp trong lp, Tp chớ Giỏo dc, 2/2005).
phớa Nam, nghiờn cu v thc tin qun lý cỏc mt hot ng dy
hc cú cỏc lun vn thc s:
- Thc trng v cụng tỏc qun lý vic dy v hc trng Tiu hc ca
mt s phũng Giỏo dc v o to qun (huyn) ti thnh ph H Chớ Minh
(Hunh Th Kim Trang, 2008)
- Thc trng v gii phỏp nõng cao hiu qu qun lý ca HT cỏc
trng THPT Dõn lp tnh ng Nai (Nguyn Mnh Lõm, Trng THPT
Lng Th Vinh, 2009)
- Qun lý hot ng dy hc ca HT trng THPT thnh ph C Mau-
tnh C Mau thc trng v gii phỏp (on Th By, Trng THPT Nguyn
- Trng Mnh Tin (2007) " Bin phỏp qun lớ hot ng phong tro
ca sinh viờn trng CSP H Nam", HSP H Ni
- Nguyn c Long (2009), T chc v ch o thc hin hot ng
ngoi khúa ca hc sinh, sinh viờn trng cao ng ngh m thuc Tp on
cụng nghip than - khoỏng sn Vit Nam, i hc Thỏi Nguyờn
- Tụ Vn Khụi (2008), Quản lý dạy học thực hành nghề (hệ trung cấp)
ở tr-ờng Cao đẳng Công nghiệp Thái Nguyên, i hc Thỏi Nguyờn
Cỏc nghiờn cu trờn l nhng ngun t liu v s kin phong phỳ v lý
lun v thc tin qun lớ giỏo dc v qun lớ trng hc, cú ý ngha sõu sc
trong vic gi m nhng ý tng v hng nghiờn cu mi. Tuy nhiờn vn
qun lớ hc tp trờn lp dự cng c quan tõm song dng nh ch c xem
nh nhim v ca nh giỏo trc tip ng lp, ớt khi c t ra nh mt vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
đề của quản lí trƣờng học. Trên thực tế không chỉ giáo viên trên lớp quản lí học
tập, mà có cả một hệ thống quản lí trong trƣờng.
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ QUAN ĐIỂM VỀ QUẢN LÍ TRƢỜNG HỌC
1.2.1. Quản lí và quản lí giáo dục
1.2.1.1. Khái niệm và bản chất của quản lí
Quản lí là một hiện tƣợng có tính lịch sử, là chức năng xuất hiện từ lâu
trong xã hội loài ngƣời, chức năng này ngày càng phát triển theo quá trình
phát triển không ngừng của xã hội. Bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ
sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, hoạt động của một doanh nghiệp, một
đơn vị hành chính sự nghiệp…, đến một tập thể thu nhỏ nhƣ tổ sản xuất, tổ
chuyên môn, bao giờ cũng có hai phân hệ: Ngƣời quản lý và đối tƣợng quản
lí. Sự cần thiết của quản lý đã đƣợc K.Mark viết “Tất cả mọi lao động trực
tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tƣơng đối lớn, thì ít nhiều
cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực
hiện những chức năng chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản
xuất khác với sự vận động của cơ quan độc lập của nó. Một ngƣời độc tấu vĩ
Hoặc cũng có cách giải thích khác:“Quản lý là một hoạt động thiết yếu,
nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục đích của
nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trƣờng mà
trong đó con ngƣời có thể đạt đƣợc các mục đích của nhóm với thời gian, tiền
bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tƣ cách thực hành thì quản lý
là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức quản lý là khoa học” [15, 33].
Nhiều nguồn tài liệu định nghĩa khái niệm quản lí đơn giản nhƣ sau: “Quản lý
là một quá trình tác động gây ảnh hƣởng của chủ thể quản lý đến khách thể
quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung” [22, 176] và ý tƣởng này đƣợc biểu
đạt nhƣ trên Hình 1.1.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Hình 1.1. Sơ đồ hệ thống quản lí
Nhƣ vậy nói chung quản lí là một quá trình tác động có mục đích hoặc
một hoạt động có tổ chức, có định hƣớng, có chủ thể và đối tƣợng v.v Đó là
ý tƣởng căn bản của những định nghĩa quản lí phổ biến hiện nay, nhƣng rõ
ràng chƣa phải là khái niệm khoa học. Bất cứ hoạt động nào của con ngƣời dù
lớn dù nhỏ đều nhƣ vậy, từ nấu ăn, cày cuốc, rèn hay đúc v.v…đều có mục
bánh xe ôtô đƣợc lắp vào hoặc là cái chạy trên bánh xe ôtô…
Do vậy chúng tôi hiểu khái niệm quản lí theo nghĩa một dạng lao động
xã hội. Có lẽ không nên bàn về từ ngữ và giải thích nghĩa của từ ngữ, mà cần
chỉ ra bản chất quản lí, ở hình thức khái niệm (Concept of Management). Khi
đó mới tránh đƣợc tình trạng mơ hồ và khái niệm mới cụ thể đƣợc. Khái niệm
phải phản ánh bản chất sự vật chứ không chỉ nói về những hiện tƣợng có tính
chất minh họa. Chúng tôi sử dụng khái niệm quản lí theo nghĩa sau:
“Quản lí là một dạng lao động đặc biệt nhằm gây ảnh hưởng, điều
khiển, phối hợp lao động của người khác hoặc của nhiều người khác trong
cùng tổ chức hoặc cùng công việc nhằm thay đổi hành vi và ý thức của họ, định
hướng và tăng hiệu quả lao động của họ, để đạt mục tiêu của tổ chức hoặc lợi
ích của công việc cùng sự thỏa mãn của những người tham gia”[16, 6-9].
Theo cách hiểu này, bản chất của quản lí là gây ảnh hưởng chứ không
trực tiếp sản xuất hay tạo ra sản phẩm, có mục tiêu và lợi ích là cái chung chứ
không nhằm mục tiêu và lợi ích của riêng cá nhân nào, có tính hệ thống chứ
không phải quá trình hay hành động đơn lẻ. Đó là sự vật có thực thể, cấu trúc
và chức năng phức tạp, năng động, vận hành dựa trên những nguồn lực tinh
thần (lí luận, tƣ tƣởng khoa học-công nghệ, chính trị, văn hóa, qui tắc đạo
đức, v.v…) và vật chất rõ ràng (tiền vốn, hạ tầng kĩ thuật và thông tin, sức
ngƣời, công cụ chính sách, bộ máy, cơ chế, thủ tục…).
1.2.1.2. Các chức năng quản lí chung
Chức năng quản lý là một thể thống nhất, những hoạt động của chủ thể
nảy sinh từ sự phân công chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý nhằm thực
hiện mục tiêu. Chức năng quản lý nhằm xác định mối quan hệ giữa các cấp,
các bộ phận, các khâu, trong hệ thống quản lý. Mỗi hệ thống quản lý lại có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
nhiều bộ phận, nhiều khâu, nhiều cấp khác nhau và nó gắn với một chức năng
nhất định. Có 4 chức năng cơ bản, có quan hệ mật thiết bổ xung hỗ trợ cho
nhau, đó là: chức năng lập kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng lãnh đạo
từ đó có biện pháp phù hợp điều chỉnh kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo.
Quan hệ giữa các chức năng quản lí đƣợc thể hiện trên Hình 1.2. Hình 1.2. Các chức năng quản lí
1.2.1.3. Bản chất của quản lí giáo dục
Thực tế khái niệm “Quản lý giáo dục”, đƣợc hiểu theo nghĩa rộng và
nghĩa hẹp trên cơ sở xem xét phạm vi hoạt động của từ “giáo dục”. Quản lý
giáo dục đƣợc hiểu theo nghĩa rộng nhất khi “Giáo dục” đƣợc coi là một hiện
thực xã hội. Còn khi “Giáo dục” đƣợc diễn ra trong ngành giáo dục (Từ Bộ
giáo dục - Đào tạo đến cơ sở trƣờng học) hay các trung tâm kỹ thuật tổng hợp
- hƣớng nghiệp thì “Quản lý giáo dục” đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp là quản lý
một hệ thống giáo dục, quản lý nhà trƣờng,… Đã có nhiều quan điểm khác
nhau về bản chất của quản lí giáo dục, ví dụ:
“Quản lý giáo dục thực chất là tác động một cách khoa học đến nhà
trƣờng, làm cho nó tổ chức đƣợc tối ƣu quá trình dạy học, giáo dục theo
đƣờng lối và nguyên tắc giáo dục của Đảng, quán triệt đƣợc những tính chất THÔNG TIN
LẬP KẾ HOẠCH
KIỂM TRA
CHỈ ĐẠO
TỔ CHỨC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
giáo dục để đạt được mục tiêu giáo dục và mục tiêu phát triển giáo dục, dựa
trên thể chế giáo dục và các nguồn lực giáo dục.[16, 6-9].
Do giáo dục là hiện tƣợng luôn có định chế xã hội – chính trị nên cần
phải nhấn mạnh yếu tố thể chế, tức là luật, chính sách, cơ chế, chuẩn và
những qui định hành chính khác đƣợc áp dụng cho giáo dục. Nếu chỉ bàn về
quản lí chung chung thì yếu tố thể chế chƣa rõ ràng. Quản lí giáo dục gắn liền
với thể chế cho nên xét tổng thể thì nó luôn là quản lí nhà nƣớc, trừ những
yếu tố đơn lẻ và cục bộ tại lớp, tại gia đình, và những gì liên quan đến học
độc lập, học tập phi chính qui cũng nhƣ những hiện tƣợng giáo dục tự phát.
Quản lí giáo dục thƣờng đƣợc thực hiện ở 3 cấp: cấp trung ƣơng, cấp
địa phƣơng và cấp cơ sở. Cấp trung ƣơng và cấp chính quyền địa phƣơng
tỉnh, thành phố đƣợc gọi chung là cấp cao. Cấp ngành ở tỉnh, thành phố và
cấp chính quyền quận. huyện gọi là cấp trung, và cấp trƣờng là cấp cơ sở.
Những cấp quản lí này có lẽ không đồng nhất với ý tƣởng quản lí vĩ mô và
quản lí vi mô. Ở cấp quản lí nào cũng có cả quản lí vĩ mô lẫn quản lí vi mô.
Đối tƣợng của quản lí giáo dục vĩ mô là những yếu tố ảnh hƣởng đến toàn
cục, đến toàn bộ hệ thống giáo dục. Đối tƣợng của quản lí giáo dục vi mô
là những yếu tố chỉ ảnh hƣởng cục bộ, đơn lẻ. Nội dung sách giáo khoa tuy
là sự vật nhỏ bé nhƣng là đối tƣợng quản lí vĩ mô và việc quản lí nó đƣợc
thực hiện ở mọi cấp. Nhƣng việc bổ nhiệm, tuyển dụng các hiệu trƣởng
trƣờng mầm non, tiểu học… ở quận, huyện nào đó tuy là việc to tát nhƣng
đó chỉ là đối tƣợng của quản lí vi mô, và chỉ đƣợc thực hiện cục bộ tại địa
phƣơng đó [16, 6-9].
1.2.2. Quản lí trường học
1.2.2.1. Bản chất của quản lí trường học
Khái niệm quản lí trƣờng học cũng có thể đƣợc giải thích bằng nhiều
cách, ví dụ:
- “Quản lý nhà trƣờng là thực hiện đƣờng lối giáo dục của Đảng trong
phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đƣa nhà trƣờng vận hành theo nguyên lý
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
tại cấp trƣờng vừa có tính chủ động, độc lập tƣơng đối tùy theo cơ chế phân
cấp cụ thể, song chính nó vẫn chịu sự chi phối và tác động quản lí của các cấp
trên trƣờng. Cả bộ máy quản lí cấp trƣờng hoàn toàn do các cấp trên trƣờng
bổ nhiệm hoặc bãi miễn.
Vì vậy có thể định nghĩa khái niệm quản lí trƣờng học nhƣ sau: quản lí
trƣờng học là quản lí giáo dục tại cấp cơ sở trong đó chủ thể quản lí là các
cấp chinh quyền và chuyên môn trên trường, các nhà quản lí trong trường do
hiệu trưởng đứng đầu, đối tượng quản lí chính là nhà trường như một tổ chức
chuyên môn-nghiệp vụ, nguồn lực quản lí là con người, cơ sở vật chất-kĩ
thuật, tài chính, đầu tư khoa học-công nghệ và thông tin bên trong trường và
được huy động từ bên ngoài trường dựa vào luật, chính sách, cơ chế và chuẩn
hiện có[16, tr9].
1.2.2.2. Nội dung và nhiệm vụ của quản lí trường học
Quản lí giáo dục và quản lí trƣờng học về bản chất là một. Quản lí giáo
dục thực chất chỉ có giá trị khi đến đƣợc trƣờng học, cho dù nói về cấp quản lí
nào. Quá trình giáo dục thực sự chỉ diễn ra ở trƣờng, các hoạt động giáo dục
theo chƣơng trình giáo dục chỉ diễn ra ở trƣờng, chứ không phải ở bộ, tỉnh,
huyện… Quản lí giáo dục là quản lí hệ thống các trƣờng học nằm trong phạm
vi quyền hạn của cấp quản lí nhất định. Đồng thời quản lí trƣờng học chính là
quản lí giáo dục diễn ra tại cấp cơ sở. Cho nên nội dung quản lí giáo dục nói
chung và nội dung quản lí trƣờng học đều nhƣ nhau, chỉ khác nhau về qui mô
mà thôi, bao gồm:
1. Quản lí tài chính giáo dục.
2. Quản lí cơ sở vật chất, hạ tầng kĩ thuật (tài sản vật chất).
3. Quản lí nhân sự (cán bộ, công chức, nhân viên, giáo viên, học sinh -
tài nguyên con ngƣời).
4. Quản lí chuyên môn (chƣơng trình, hoạt động giảng dạy, hoạt động
học tập, phát triển nguồn nhân lực giảng dạy và quản lí, các hoạt động nghiên
sắm thiết bị phục vụ các hoạt động giáo dục và dạy học.