quản lý làng xã huyện phổ yên (thái nguyên) qua hương ước cải lương thời cận đại - Pdf 23


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

pp
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM VŨ THỊ THU HƢƠNG
QUẢN LÝ LÀNG XÃ HUYỆN PHỔ YÊN
(THÁI NGUYÊN) QUA HƢƠNG ƢỚC CẢI LƢƠNG
THỜI CẬN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Thái Nguyên, 2012 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các cứ liệu
nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chƣa
từng đƣợc công bố trong bất kì công trình nào.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2012
Tác giả luận văn Vũ Thị Thu Hương

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ii
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Mục lục ii
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN PHỔ YÊN VÀ HƢƠNG ƢỚC

2.2.2 Quản lý hành chính 64
2.2.2.1 Quản lý bộ máy cấp xã, thôn 64
2.2.2.2 Quản lý hộ khẩu, hộ tịch ở làng xã 73
Chƣơng 3. QUẢN LÝ VĂN HÓA, XÃ HỘI LÀNG XÃ HUYỆN PHỔ
YÊN QUA HƢƠNG ƢỚC CẢI LƢƠNG THỜI CẬN ĐẠI 79
3.1 Quản lý văn hóa 79
3.1.1 Việc giáo dục 79
3.2.2 Việc giữ vệ sinh, bảo vệ môi trƣờng 80
3.1.3 Việc cƣới xin, ma chay 81
3.1.4 Việc khao vọng, hƣơng ẩm và vị thứ đình trung 86
3.1.5 Việc tế tự 88
3.2 Quản lý xã hội 94
3.2.1 Việc canh phòng, giữ gìn an ninh trật tự 94
3.2.2 Việc cấp cứu 100
3.2.3 Việc giữ trật tự chốn công cộng 102
3.2.4 Việc bài trừ đồi phong –bại tục 103
3.2.5 Việc kiểm soát ngƣời lạ đến làng 106
3.2.6 Việc kiện cáo 107
3.3. Một số nhận xét 108
3.3.1 Từ góc độ quản lý Nhà nƣớc 108
3.3.2 Từ góc độ tự quản làng xã 112
KẾT LUẬN 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
PHỤ LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
Đảng và Nhà nƣớc về vấn đề này, phong trào “tái lập hƣơng ƣớc” đƣợc đẩy
mạnh trên cả nƣớc nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển nông thôn mới
do Đảng và Nhà nƣớc đề ra.
Cũng nhƣ nhiều địa phƣơng trên cả nƣớc, Thái Nguyên nói chung và
huyện Phổ Yên nói riêng đã tích cực hƣởng ứng, thực hiện phong trào xây
dựng làng văn hóa. Với vị trí giao lƣu thuận lợi (phía Bắc giáp thành phố Thái
Nguyên, phía Nam giáp thành phố Hà Nội), cho nên so với nhiều huyện trong
tỉnh, Phổ Yên là nơi có nền kinh tế phát triển, trở thành một trong những
trung tâm công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên. Trong tình hình tốc độ đô thị
hóa diễn ra nhanh chóng, việc bảo lƣu các giá trị truyền thống là điều rất cần
thiết. Song trên thực tế, kết quả trong phong trào xây dựng làng văn hóa ở
Thái Nguyên nói chung và Phổ Yên nói riêng còn khá khiêm tốn. Một trong
những nguyên nhân của thực trạng này là những hạn chế, bất cập trong việc
soạn thảo, ban hành hƣơng ƣớc mới. Các bản “Quy ƣớc làng văn hóa” đƣợc
biên soạn chủ yếu dựa trên những văn bản hƣớng dẫn của Chính phủ, khá xa
vời, cứng nhắc, nặng tính áp đặt đối với làng quê. Do đó, việc nghiên cứu, tìm
hiểu về “Quản lý làng xã huyện Phổ Yên (Thái Nguyên) qua hương ước cải
lương thời cận đại” sẽ góp phần khắc phục hạn chế và bổ sung cho hƣơng
ƣớc mới, để hƣơng ƣớc mới sẽ thực sự đi vào cuộc sống, góp phần cùng với
pháp luật điều chỉnh mối quan hệ làng xã. Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu về
“Quản lý làng xã huyện Phổ Yên (Thái Nguyên) qua hương ước cải lương
thời cận đại”, chúng ta sẽ rút ra đƣợc những bài học quý báu về vấn đề quản
lý hành chính và quản lý về mọi mặt trong đời sống sinh hoạt làng xã của Nhà
nƣớc trung ƣơng ở cấp địa phƣơng. Qua những bài học kinh nghiệm (với cả
những thành công và hạn chế) sẽ giúp chúng ta soi rọi vào quá trình cải cách
hành chính, cải cách tƣ pháp…ở cấp làng xã hiện nay, để có thể kế thừa và
phát huy di sản về quản lý làng xã của cha ông trong lịch sử.

đề “Văn hóa quản lý làng xã” do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh
cùng với Đại học Nanzan (Nhật Bản), Viện Việt Nam học và khoa học phát Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
triển thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức. Tại buổi tọa đàm, nhiều nhà
khoa học đã nêu kiến nghị: Cần coi quản lý làng xã là một nội dung của cải
cách hành chính công tại Việt Nam. Quản lý nông thôn, quản lý làng xã nói
riêng và đổi mới quản lý xã hội nói chung là một trong những nhiệm vụ trọng
tâm nhằm đáp ứng thực tiễn của công cuộc cải cách hành chính, phát triển đất
nƣớc trong tình hình kinh tế hiện nay.
Do nội dung hết sức phong phú, hƣơng ƣớc đã đƣợc các học giả nghiên
cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Tiếp cận hƣơng ƣớc trong mối quan hệ với cơ
cấu tổ chức làng xã, trên bình diện là một công cụ tự quản cũng đã có rất
nhiều tác giả với nhiều công trình khoa học nhƣ:
Tác giả Lê Hồng Phong với tác phẩm “Xã thôn Việt Nam” (NXB Văn –
Sử -Địa, 1959). Trong tác phẩm này, bên cạnh việc trình bày về những nghiên
cứu dân tộc học ở các xã thôn miền Bắc, miền Trung, miền Nam dƣới chế độ
phong kiến, tác giả đã tập trung nghiên cứu nội dung về chế độ công điền,
công thổ, chế độ sở hữu ruộng đất, bộ máy quản lý thôn xã đƣợc khảo sát
trong thời kỳ Pháp thuộc.
Năm 1994, hai tác giả Phan Đại Doãn và Nguyễn Quang Ngọc đã cho
xuất bản cuốn “Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch
sử” (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994). Trong tác phẩm này, các tác giả
đã dành hơn 30 trang phác thảo về kinh nghiệm quản lý làng xã qua các thời
kỳ lịch sử (trong đó có thời kỳ cận đại qua các hƣơng ƣớc cải lƣơng). Đồng
thời tác phẩm cũng gợi mở cho chúng ta một số điểm trong việc liên hệ chính
sách quản lý làng xã các thời kỳ trƣớc với giai đoạn hiện nay để rút ra một số

viết có cơ sở để hiểu rõ hơn về sự hình thành làng xã trong lịch sử, đồng thời
cung cấp thêm nhiều tƣ liệu liên quan đến chính sách quản lý làng xã cũng
nhƣ mối quan hệ giữa Nhà nƣớc và làng xã nói chung qua các thời kỳ lịch sử.
Ngoài ra còn rất nhiều các công trình nghiên cứu khác của nhiều tác giả
đã đƣợc tập hợp thành sách hoặc đăng rải rác trên các báo, tạp chí nghiên cứu
(Nghiên cứu lịch sử, Dân tộc học, Nhà nƣớc và Pháp luật…) mà ở đây do Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
điều kiện không cho phép nên ngƣời viết không thể nêu ra đầy đủ (xin đƣợc
trình bày ở phần Tài liệu tham khảo).
Có thể nói, các tác phẩm trên đây là những nguồn tài liệu hết sức quan
trọng, góp phần định hình hƣớng tìm hiểu cho đề tài. Đồng thời, cũng qua
việc nghiên cứu, tham khảo các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu
đi trƣớc, ngƣời viết nhận thấy cho đến nay vẫn chƣa có công trình nào nghiên
cứu chuyên biệt, cụ thể về “Quản lý làng xã huyện Phổ Yên (Thái Nguyên)
qua hương ước cải lương thời cận đại”. Vì vậy, đây chính là cơ sở, là yêu cầu
khá cao tạo động lực để ngƣời viết đi vào nghiên cứu đề tài của mình.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài:
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là các biện pháp quản lý làng xã của
cha ông ta đƣợc phản ánh trong hƣơng ƣớc của các làng xã thuộc huyện Phổ
Yên (Thái Nguyên) thời kỳ cận đại.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Huyện Phổ Yên (Thái Nguyên).
Về thời gian: Thời kỳ cận đại (tập trung nghiên cứu thời kỳ từ 1921
đến trƣớc 1945).
3.3. Nhiệm vụ của đề tài

văn hóa và xây dựng làng văn hóa.
- Tư liệu điền dã .
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở vận dụng phƣơng pháp lịch sử kết
hợp với phƣơng pháp logic là chủ yếu. Ngoài ra có sử dụng phƣơng pháp
phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, đánh giá để có thể hiểu vấn đề một
cách sâu sắc và toàn diện hơn.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn trình bày một cách hệ thống những biện pháp chủ yếu của cha
ông ta trong quản lý làng xã đƣợc thể hiện qua các bản hƣơng ƣớc cải lƣơng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
của huyện Phổ Yên thời kỳ cận đại. Qua đó giúp cho những ngƣời trực tiếp
soạn thảo quy ƣớc làng văn hóa ở huyện Phổ Yên có cái nhìn đúng đắn và đầy
đủ hơn về hƣơng ƣớc cải lƣơng, biết chắt lọc, kế thừa những tinh hoa trong
quản lý làng xã của ông cha để vận dụng vào công cuộc đổi mới nông thôn ở
quê hƣơng hiện nay.
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về hƣơng
ƣớc cải lƣơng của huyện Phổ Yên thời kỳ trƣớc Cách mạng tháng Tám cho
nên nó có giá trị về mặt tƣ liệu, góp phần vào việc biên soạn lịch sử và địa chí
huyện Phổ Yên. Đồng thời, luận văn còn có một ý nghĩa thiết thực nữa là
cung cấp nguồn tài liệu bổ ích cho công tác giảng dạy lịch sử địa phƣơng.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng
Chƣơng 1: Khái quát về huyện Phổ Yên và hƣơng ƣớc cải lƣơng huyện
Phổ Yên

tích đất nông nghiệp 124,99 km2, bằng 48,69% tổng diện tích tự nhiên; diện
tích đất lâm nghiệp 73,68 km2, bằng 28,7% tổng diện tích tự nhiên; diện tích
đất nuôi trồng thuỷ sản là 3,26 km2, diện tích đất phi nông nghiệp là
51,67km2, diện tích đất ông cha sử dụng là 3,09 km2 ).
Căn cứ vào các chỉ tiêu về loại đất, tầng dầy và độ dốc của đất, toàn
huyện có 120,045 km2 đất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp và 50,39 km2
đất thích hợp cho sản xuất lâm nghiệp. Trên 50% diện tích đất nông nghiệp ở
Phổ Yên là đất bạc màu, đất vàng nhạt trên đá cát, độ phì kém [18, tr. 956]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
Khí hậu
Khí hậu Thái Nguyên nói chung và Phổ Yên nói riêng mang những đặc
điểm chung của khí hậu miền Bắc, đƣợc hình thành dƣới sự tác động kết hợp
của những nhân tố về nhiệt đới và gió mùa trong khu vực Đông Nam Á. Khí
hậu đƣợc chia làm 4 mùa rõ rệt, mùa đông thì khô và lạnh, mùa hè thì nắng và
mƣa nhiều. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,7 độ C, cao nhất là 39,6 độ C
vào các tháng 6, 7, 8. Nhiệt độ thấp nhất là 13,2 độ C vào các tháng 12, 1
năm sau, có gió từ biển Đông thổi vào đem đến cho địa phƣơng một lƣợng
mƣa phong phú. Lƣợng mƣa trung bình hàng năm là 2.000mm đến 2.500mm,
độ ẩm không khí bình quân từ 79% đến 98,3% [18, tr. 953].
Điều kiện tự nhiên trong vùng là môi trƣờng thuận lợi cho sản xuất nông
nghiệp với các loại cây trồng đa dạng (kể cả cây ngắn ngày và cây dài ngày),
cây nhiệt đới, cận nhiệt đới. Tuy nhiên, do ảnh hƣởng vùng là trung du và
miền núi, sự phân hoá mùa cũng gây khó khăn cho hoạt động sản xuất nhƣ
mùa đông có sƣơng muối, mùa hè thiếu nƣớc đất khô…
Sông ngòi
Phổ Yên có 2 con sông chảy qua:

Công (từ xã Nam Tiến xuống thôn Phù Lôi, xã Thuận Thành) có 15 km đê ở 2
bên sông. Năm 1976, hồ Núi Cốc đƣợc xây dựng tạo ra nguồn dự trữ nƣớc và
điều hoà dòng chảy của sông.
Bên cạnh những khó khăn do lũ lụt, các con sông cũng mang lại phù sa
màu mỡ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp, một số nơi nhân
dân còn trồng nguyên vật liệu phục vụ nghề thủ công và tiểu thủ công nghiệp.
Đồng thời 2 con sông này cũng là đầu mối giao thông huyết mạch trong việc
giao lƣu buôn bán của huyện với các tỉnh khác. Điều này đã đƣợc ghi nhận
trong sử sách: “phƣờng Bến Đại Phùng thuộc tổng Tiểu Lễ, huyện Thiên
Phúc, phủ Bắc Hà, xứ Kinh Bắc, nơi ấy chính là bến sông Chã trên dòng Sông
Cầu, thuộc xã Đông Cao, Phổ Yên ngày nay. Bến Đại Phùng thuộc hạ lƣu con
sông Cầu, dòng sông mở rộng và độ dốc thấp, dân cƣ đông đúc và có nhu cầu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
trao đổi hàng hoá nhiều, thuyền bè qua lại khá tấp nập. Các ngày phiên chợ,
nhiều thuyền lớn chở gạo, mắm, gốm, sành sứ từ Phả Lại, Bắc Ninh lên bán.
Khi về họ chở các hàng hoá của vùng đất Thái Nguyên nhƣ cam, quýt Hà
Châu, đồ đan lát,… Chính đƣờng thuỷ khá thuận lợi đó mà sản phẩm địa
phƣơng ở vùng ven sông cũng đƣợc lƣu thông, trao đổi” [52, tr. 8]. Còn sông
Công thì có cảng Đa Phúc là cảng sông lớn nhất tỉnh Thái Nguyên. Trên địa
bàn xã Thành Công có hồ Suối Lạnh là hồ nhân tạo lớn nhất huyện Phổ Yên.
Đặc điểm nổi bật của huyện Phổ Yên là có Quốc lộ số 3 và đƣờng sắt
Hà Nội - Thái Nguyên chạy dọc từ nam lên bắc, mang lại cho huyện nhiều
thuận lợi về kinh tế - xã hội[18, tr. 954-955].
1.1.2 Lược sử hình thành huyện Phổ Yên
Theo các nguồn sử liệu xƣa, từ thời Hùng Vƣơng dựng nƣớc, khu
vực đất đai của huyện bây giờ thuộc bộ Vũ Đình (1 trong 15 bộ của nƣớc

Phúc Thuận, Thảo Đẳng, Kinh Bảng, Thống Hạ và trang Tân Yên.
Tổng Vạn Phái gồm 3 xã: Vạn Phái, Nông Vụ, Hạ Vụ
Tổng Nhã Luật gồm 3 xã, 1 phƣờng: xã Nhã Luật, Dƣơng Luật, Thanh
Lộc và phƣờng Đại Hữu (Thuỷ Cơ).
Tời đời vua Đồng Khánh nhà Nguyễn (1886 - 1888), các tổng Tiên Thù,
Tiểu Lễ (huyện Hiệp Hoà), Thƣợng Giã (huyện Thiên Phúc - phần đất cực
Nam và Đông Nam huyện Phổ Yên nay) thuộc về phủ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh.
Dƣới thời Pháp thuộc, từ tháng 10/1890 đến tháng 9/1892, huyện Phổ
Yên nằm trong phủ Phú Bình, thuộc tiểu Quân khu Thái Nguyên- Đạo quan
binh I Phả Lại. Từ tháng 10/1892, Phổ Yên là một huyện thuộc phủ Phú Bình,
tỉnh Thái Nguyên. Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thực dân
Pháp bỏ đơn vị hành chính cấp phủ. Phổ Yên là một huyện thuộc tỉnh Thái
Nguyên gồm 6 tổng, với 24 làng. Năm 1918, Phổ Yên là 1 phủ (trong số 2 phủ, 3
huyện, 3 châu của tỉnh Thái Nguyên) gồm 7 tổng, với 37 làng. Cụ thể:
Tổng Hoàng Đàm gồm 9 xã: Hoàng Đàm, Sơn Cốt, Lợi Xá, Cải Đơn
(Cải Đan), Đắc Hiền, Thung Hạc, Cốt Ngạnh, Thanh Thù, Đại Hữu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
Tổng Nghĩa Hương gồm 5 xã: Cầu Đông, Vân Dƣơng thƣợng, Vân
Dƣơng hạ, Cống Thƣợng, Yên Mễ (An Mễ).
Tổng Tiểu Lễ gồm 5 xã: Tiểu Lễ, Đông Cao, Vân Phú, Tảo Địch, Tử Thù.
Tổng Tiên Thù gồm 4 xã: Tiên Thù, Thù Lâm, Giã Thù, Xuân Trù.
Tổng Thượng Giã gồm 5 xã: Thƣợng Giã, Phù Lôi, Chiều Lai, Cầu
Sơn, Kim Tỉnh.
Tổng Vạn Phái gồm 3 xã: Vạn Phái, Nông Vụ, Hạ Vụ.
Tổng Thượng Vụ gồm 6 xã: Thƣợng Vụ, Đan Hà, Thƣợng Nhân, Hạ
Đạt, Tân Yên, Phố Cò [28, tr. 802-804]

tỉnh Thái Nguyên, huyện Phổ Yên có 18 đơn vị hành chính gồm 3 thị trấn (Ba
Hàng, Bắc Sơn, Bãi Bông), 15 xã (Thuận Thành, Trung Thành, Đông Cao,
Tân Hƣơng, Tiên Phong, Tân Phú, Đồng Tiến, Nam Tiến, Hồng Tiến, Đắc
Sơn, Vạn Phái, Thành Công, Minh Đức, Phúc Thuận, Phúc Tân) với 309 xóm
và 18 tổ dân phố [18, tr. 955-958].
1.1.3 Dân cư và truyền thống
Dân cư
Huyện Phổ Yên từ lâu vẫn là nơi làm ăn sinh sống của đồng bào nhiều
dân tộc. Dƣới thời Pháp thuộc, sau khi thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc
địa, cƣớp đất lập đồn điền, mộ lao động từ các tỉnh miền xuôi lên, năm 1932
dân số Phổ Yên là 14.183 ngƣời. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, dân
số Phổ Yên là 28.400 ngƣời. Sau hòa bình lập lại (tháng 7/1954), toàn huyện có
7.252 hộ với 34.234 nhân khẩu. Theo tổng điều tra dân số ngày 1/4/1989, dân
sô Phổ Yên là 118.596 ngƣời. Năm 2010, dân số toàn huyện là 138.817 ngƣời
(trong đó có 69.960 nữ; 12.587 ngƣời sống ở thành thị); ngƣời Kinh chiếm
92,42%, ngƣời Sán Dìu 6,25%, ngƣời Tày 0,59%, ngƣời Dao và ngƣời Nùng
đều chiếm 0,29%, ngƣời Mƣờng 0,06%, còn lại 0,1% là ngƣời các dân tộc
khác. Trừ ngƣời Dao sống chủ yếu ở các xã chân dãy núi Tam Đảo, còn các
dân tộc khác sống xen kẽ với nhau.
Mật độ dân số trung bình toàn huyện tăng từ 514 ngƣời /km
2
(năm 2002)
lên 536 ngƣời/km
2
(năm 2010). Thị trấn Ba Hàng có mật độ dân số cao nhất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16

quê dựng thay thế ngôi miếu nhỏ thờ thần linh của dân làng vùng Sơn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
Cốt. Đền đƣợc nhân dân Sơn Cốt và nhân dân vùng Lục Giáp thờ cúng,
ghi nhận và tƣởng nhớ công lao của vị anh hùng dân tộc Dƣơng Tự Minh,
tƣớng quân Lƣu Nhân Chú và Tiến sĩ Đỗ Cận.
Từ năm 1740 đến năm 1750, nhân dân Phổ Yên tham gia nghĩa
quân do Nguyễn Danh Phƣơng chỉ huy, đắp thành, xây lũy, dựng căn cứ ở
núi Độc Tôn (cách huyện Phổ Yên 66 dặm về phía Nam) chống lại triều
đình nhà Lê (Lê Hiển Tông). Trong cuộc khởi nghĩa của Nông Văn Vân
(ở Bảo Lạc – Cao Bằng) chống lại triều đình nhà Nguyễn (1833-1835),
Phổ Yên vừa là địa bàn hoạt động của nghĩa quân, vừa là lá chắn phía
nam bảo vệ căn cứ của cuộc khởi nghĩa.
Dƣới thời Pháp thuộc, Phổ Yên là đầu mối giao thông, là địa bàn chuyển
tiếp giữa miền ngƣợc và miền xuôi, nên ngoài việc tổ chức bộ máy cai trị chặt
chẽ từ huyện, tổng xuống đến các thôn, xã nhƣ các huyện, phủ khác trong
tỉnh, thực dân Pháp còn đặt thêm ở Phổ Yên các đồn binh ở Trinh Nữ, Sơn
Cốt, Phố Cò, Phúc Thuận để đàn áp nhân dân ta.
Trong cuộc khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Giang) do Hoàng Hoa Thám lãnh
đạo, nhiều gia đình ở làng Phù Lôi (tổng Thƣợng Giã) đã trở thành cơ sở tiếp
tế, trạm liên lạc bí mật cho nghĩa quân. Nhiều gia đình ở khu vực rừng Nghè,
xóm Đồi (tổng Hoàng Đàm) là cơ sở bí mật của nghĩa quân Yên Thế đi, về,
nắm tình hình, thu gom lƣơng thực, tiếp tế cho nghĩa quân. Trên địa bàn
huyện Phổ Yên đã diễn ra nhiều trận chiến đấu quyết liệt giữa nghĩa quân Yên
Thế và quân Pháp. Thực dân Pháp đã phải thừa nhận:“Toàn bộ địa bàn Nam
Thái Nguyên đều quy thuộc Đề Thám và có thái độ chống đối rõ rệt nhà cầm
quyền Pháp và nhà cầm quyền bản xứ”. Đêm 30, rạng 31/8/1917 nổ ra cuộc

Phú Bình – Thái Nguyên) và xã Hoàng Vân (huyện Hiệp Hòa – Bắc Giang)
đƣợc Trung ƣơng xây dựng thành An toàn khu II (nơi ở và làm việc của cơ
quan và các đồng chí lãnh đạo Trung ƣơng Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ). Nhân
dân và lực lƣợng tự vệ tổng Tiên Thù đã hết lòng giúp đỡ, chở che và bảo vệ
tuyệt đối an toàn cho các cơ quan và các đồng chí lãnh đạo Trung ƣơng và Xứ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
ủy, làm thất bại các đợt tấn công và khủng bố của địch vào An toàn khu II
(tháng 3/1943 và tháng 9, tháng 10/1944).
Trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám năm 1945, cuối tháng
3/1945, nhân dân Phổ Yên đã phá các kho thóc của Nhật ở các đồn điền Chã,
Thác Nhái, Sơn Cốt chia cho dân nghèo cứu đói và làm chủ hầu hết các xã
vùng nông thôn trong huyện.
Các ngày 19, 20/8/1945, nhân dân Phổ Yên đã nổi dậy bao vây huyện
lỵ, buộc Tri huyện Đồng Mạnh Tƣ, Cai Dƣơng và Đội Sát phải đầu hàng, trao
lại cho ta toàn bộ vũ khí, ấn tín, giấy tờ, tài liệu.
Ngày 21/8/1945, tại Đền Giá (thuộc xã Tân Tiến, nay là xã Đông Cao),
Ủy ban dân tộc giải phóng lâm thời huyện Phổ Yên đƣợc thành lập, gồm 9
ngƣời do đồng chí Trần Mạnh Hùng làm Chủ tịch. Tiếp theo, Ban Cán sự
Đảng huyện Phổ Yên gồm các đồng chí Nguyễn Thị Thuận, Nguyễn Thị
Lịch, Quang Huy do đồng chí Nguyễn Thị Thuận làm Trƣởng ban và các tổ
chức Cứu quốc của Thanh niên, Phụ nữ, Nông dân đƣợc thành lập và Huyện
bộ Việt Minh ra đời. Tháng 10/1945, Đảng bộ Phổ Yên đƣợc thành lập,
Huyện ủy lâm thời gồm các đồng chí Nguyễn Bá Cƣơng, Trần Mạnh Hùng,
Trịnh Văn Thƣ. Đầu năm 1946, nhân dân Phổ Yên đã cơ bản tiêu diệt đƣợc
“giặc đói”, cuối năm 1946, tiêu diệt đƣợc 36% “giặc dốt”, giữ vững đƣợc an
ninh chính trị và trật tự xã hội trên địa bàn.

khói” chống máy bay Mỹ ném bom Lade, bảo vệ cầu Đa Phúc đạt hiệu quả cao.
Trong 10 năm trực tiếp kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc (1965-1975),
quân và dân huyện Phổ Yên đã động viên đƣợc 4.997 con em ƣu tú của mình
vào bộ đội đánh Mỹ, có 1.124 ngƣời đã anh dũng hy sinh, đƣợc công nhận là
liệt sỹ. Với khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một
ngƣời”, trung bình mỗi năm, nhân dân Phổ Yên đã đóng góp cho tiền tuyến
12.000 tấn lƣơng thực, 350 tấn thịt lợn và thịt trâu bò. Năm 1975, Phổ Yên ủng
hộ 2 tỉnh Khánh Hòa, Kon Tum kết nghĩa 53 con trâu và 126 tấn thóc.
Trong chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc (tháng 2/1979), huyện Phổ
Yên tuyển quân vƣợt chỉ tiêu 2%, huy động 3 tiểu đoàn dân quân du kích, tự

Trích đoạn Quản lý bộ máy cấp xã, thôn Quản lý hộ khẩu, hộ tịc hở làng xã Việc giáo dục Việc canh phòng, giữ gìn an ninh trật tự Việc bài trừ đồi phong –bại tục
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status