Nâng cao năng lực cạnh tranh của tổng công ty dệt may Hà Nội - Pdf 23


Lời mở đầu
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng tất yếu của các quốc gia trên thế
giới, đó là quy luật tất yếu. Ngày 11/1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành
viên của WTO, đó không chỉ là tin vui đối với nền kinh tế mà của tất cả các ngành
nghề nói riêng. Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn vươn mình đứng dậy như
Thánh Gióng, nhưng đồng thời cũng đối mặt với những khó khăn thách thức không
nhỏ - sự cạnh tranh khốc liệt trên thương trường, đặc thù của mọi nền kinh tế. Là
một tế bào của nền kinh tế Việt Nam, qua những giai đoạn phát triển thăng trầm,
ngành dệt may cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Năm 2007 chứng kiến sự bứt phá
mạnh mẽ của ngành dệt may trên thị trường thế giới cũng như khẳng định vị trí của
mình trong nền kinh tế Việt Nam.
Là một sinh viên chuyên ngành kinh tế quốc tế, trước những thay đổi về chất
và lượng của nền kinh tế Việt Nam khi gia nhập WTO, lại may mắn được rèn luyện
và tìm hiểu trong môi trường năng động của ngành dệt may, trong một công ty có bề
dày truyền thống và kinh nghiệm như tổng công ty dệt may Hà Nội, em đã mạnh
dạn chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của tổng công ty dệt may Hà
Nội” để tìm tòi và phát triển. Bài viết của em được trình bày theo ba chương như
sau
Chương 1: Khái quát chung về ngành dệt may và năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia tổ chức thương mại thế giới WTO
Chương 2 : Thực trạng năng lực cạnh tranh của tổng công ty dệt may Hà Nội.
Chương 3 : Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh của tổng công ty dệt may Hà Nội, chú ý ngành dệt.
Trong suốt quá trình tìm tòi nghiên cứu em đã nhận được sự giúp đỡ chỉ bảo
tận tình của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Như Bình và các thầy cô giáo trong khoa
kinh tế và kinh doanh quốc tế. Tuy nhiên bài viết của em không thể tránh khỏi
những hạn chế, thiếu sót do năng lực có hạn của bản thân. Em mong nhận được sự

1


nghệ thuật, nhưng trong suốt 5 ngàn năm, con người vẫn chỉ dùng các nguyên liệu
tự nhiên, lấy từ cây cỏ như các sợi bông, sợi đay, sợi gai dầu, sợi lanh, hay từ thực
vật như da, sợi len, tơ tằm, v.v. Vì thế sản xuất bị giới hạn, vải vóc vẫn là sản phẩm
quí, những y phục gấm vóc dành cho giai cấp quí tộc, thượng lưu, đại đa số dân
chúng chỉ mặc vải thô, quanh quẩn với một vài màu mè kiểu cọ. Mãi đến giữa thế

3

kỷ 18, với cuộc cách mạng kỹ nghệ bên Anh và sự ra đời của các máy dệt cơ khí
hoá, chạy bằng hơi nước, ngành dệt mới thật sự ra khỏi sản xuất thủ công để trở
thành một kỹ nghệ.
Tuy nhiên, con người vẫn còn lệ thuộc vào thiên nhiên, và nhiều nhà khoa
học ở Âu Châu tìm tòi cách làm ra một loại sợi nhân tạo có thể sản xuất hàng loạt,
với giá rẻ. Phải đợi đến năm 1884, một người Pháp, bá tước Hilaire Bernigaud de
Chardonnet mới phát minh một cách chế tạo tơ nhân tạo, sau 6 năm nghiên cứu.
Ông Chardonnet được coi như cha đẻ của kỹ nghệ sợi hoá học là chữ gọi chung cho
các sợi nhân tạo và sợi tổng hợp. Mục đích của ông khi tìm cách làm tơ nhân tạo là
để bình dân hoá vải vóc, để bất cứ ai cũng có thể có được những bộ quần áo lụa là
cho tới lúc ấy chỉ dành cho một thiểu số. Ông đã thành công hơn dự kiến vì kỹ nghệ
phát sinh từ các sáng chế của ông đã dẫn đến cả một cuộc cách mạng trong may
mặc, biến thời trang thành một hiện tượng quần chúng trong mọi nước. Ngành dệt
may từ đó cũng phát triển ngày càng nhanh, cùng với đà tiến triển của kinh tế và
thương mại. Từ 1889 đến 1939, phải sau 50 năm sản lượng sợi hoá học trên thế giới
mới đạt mức 1 triệu tấn một năm, nhưng chỉ 12 năm sau đã tăng gấp đôi, và cứ thế
tăng vọt.
Năm 1900, trên thế giới có 1,6 tỷ người, tiêu thụ 3,8 triệu tấn sợi, hầu như
toàn bộ là các sợi tự nhiên - bông (81%) và len (19%)-, số sợi hoá học dưới 1000
tấn. Năm 1975, thế giới tiêu thụ 26 triệu tấn sợi, trong đó 50% bông, 6% len và 44%
sợi hoá học. Như thế, chỉ trong 3 phần tư thế kỷ, số lượng tiêu thụ đã nhân lên 4,3
lần cho sợi bông, 2,2 lần cho sợi len, và 11 000 lần cho sợi hoá học. Mức tăng

sự phát triển này là đến này vẫn còn tồn tại nhiều làng nghề truyền thống trên nhiều
vùng đất nước như: lụa Vạn Phúc, khăn Phùng Xá, dệt làng Mẹo, thổ cẩm Mai
Châu… Tuy vậy phải đến cuối thế kỷ XIX ngành dệt may mới manh nha hình thành
và phát triển trong hình hài một ngành công nghiệp
Ngành dệt may Việt Nam có thể chia làm 2 giai đoạn
Giai đoạn từ thời Pháp thuộc đến năm 1975: viên gạch đầu tiên đầu tiên
đặt nền móng cho sự phát triển của ngành dệt may Việt Nam là sự ra đợi của một
vài xí nghiệp có quy mô sản xuất công nghiệp như công ty bông vải Bắc kỳ tiền
thân của công ty dệt Nam Định ngày nay, xí nghiệp tơ tằm Delignon ở Nam Trung

5

bộ do người Pháp đầu tư và một vài cơ sở dệt kim tư nhân rất nhỏ bé tập trung ở các
thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Sài Gòn - Chợ Lớn.. Tuy nhiên
ngành dệt may Việt Nam lúc bấy giờ, dù phát triển rộng khắp ở các đô thị, thị trấn,
vùng quê, nhưng hầu như vẫn sản xuất theo phương thức thủ công, ngành công
nghiệp may sẵn chưa có vị trí đáng kể nào.
Đến năm 1954, hoà bình lập lại ở miền Bắc, chính phủ có chủ trương phát
triển phát triển ngành dệt may trở thành một trong những ngành công nghiệp mũi
nhọn nên đã sớm ban hành nhiều chính sách nhằm chấn hưng ngành công nghiệp
non trẻ này. Đó là phục hồi các nhà may do Pháp để lại và khuyến khích các nhà
máy sản xuất trở lại, thành lập các công ty gia công dệt may để khuyến khích, phát
huy và thu mua các sản phẩm dệt may ở các làng nghề thủ công tham gia vào giải
quyết vải tiêu dùng trong nhân dân và xuất khẩu. Đồng thời mở hàng loạt các xí
nghiệp dệt công nghiệp mới của nhà nước với trang thiết bị nhập từ Trung Quốc và
các nước Đông Âu như dệt Nam Định, tơ Nam Định, len Hải Phòng, dệ 8/3, dệt kim
Đông Xuân… và các xí nghiệp địa phương như dệt kim Thăng Long, dệt khăn Minh
Khai… cùng hàng loạt các xí nghiệp may mới ra đời thu hút rất nhiều lao động như
May 10, May Thăng Long, May Chiến Thắng… nhiều xí nghiệp công tư hợ danh,
hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp dệt, may ở các thành phố, thị xã, thị trấn

rộng thị trường và vượt qua những rào cản của thị trường Mỹ. Theo dự báo của
phòng thương mại Việt- Mỹ doanh thu năm 2007 của Việt Nam vào thị trường Mỹ
chiếm đến 43% trong tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm này tại Mỹ. Phải nói đây
là một thắng lợi lớn về kinh tế trong giai đoạn phát triển của ngành dệt may VN,
quan trọng hơn là trong những năm qua ngành dệt may VN đã giải quyết được hàng
chục vạn lao động, góp phần cùng đất nước giải quyết tình trạng thất nghiệp, xoá
đói giảm nghèo, ổn định chính trị và phát triển kinh tế đất nước. Bên cạnh đó, ngành
tiếp tục thu hút nhiều làn sóng đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam, các doanh
nghiệp dệt may có vốn đầu tư nước ngoài ước tính chiếm khoảng 25% tổng số các
doanh nghiệp dệt may của cả nước. Dự kiến trong năm 2008, kim ngạch xuất khẩu
của hàng dệt may tiếp tục tăng cao, theo dự đoán khoảng 9,6 tỷ USD nếu biết giữ
vững các thị trường truyền thống như Mỹ- thị trường chiếm 55% tổng kim ngạch

7

xuất khẩu dệt may, EU- thị trường chiếm 18% tổng kim ngạch xuất khẩu và Nhật
Bản- chiếm 10%, đồng thời tìm kiếm thêm những thị trường mới.
Tuy đã đạt được những thành tựu đáng khen như vậy trong thời gian qua,
ngành dệt may Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Những kết quả trên một phần là do
ngành may, trong khi may phát triển mạnh và được coi là một trong năm nước có
năng lực cạnh tranh thì ngành dệt lại đang bị tụt hậu 20 năm so với thế giới. Đạt
được kim ngạch xuất khẩu lớn như vậy, nhưng hiệu quả xuất khẩu của ngành dệt
may còn thấp do chưa chủ động được nguồn nguyên liệu mà vẫn phải nhập khẩu từ
nước ngoài đến 80%, điều đó cho thấy phần nào năng lực cạnh tranh kém cỏi của
các doanh nghiệp dệt Việt Nam. Trong khi đó, ngành dệt Việt Nam vẫn chủ yếu là
phục vụ thị trường nội địa. Nhưng nếu tình hình này không sớm được cải thiện thì
các doanh nghiệp dệt có khả năng mất chỗ đứng ngay trong thị trường nội địa trong
tương lai gần. Bởi vì có thể so sánh trong khi một nhà máy dệt của Trung Quốc
trung bình có khoảng 6.000 máy dệt thì các doanh nghiệp dệt Việt Nam chỉ có
khoảng vài trăm máy, đa phần là cũ, lạc hậu. Theo ông Lê Quốc Ân, Chủ tịch Hiệp

nay các doanh nghiệp Việt Nam có thể xuất khẩu theo năng lực thị trường, doanh
nghiệp Việt Nam sẽ có điều kiện thâm nhập mạnh vào các thị trường nước ngoài.
Dòng đầu tư nước ngoài mới tiếp tục đổ vào Việt Nam, trong đó ngành dệt
may là một trong những ngành thu hút đầu tư mạnh, tiếp tục cải thiện cơ sở hạ tầng
phục vụ cho sản xuất tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế cũng như ngành dệt
may cơ hội phát triển hơn nữa. Đặc biệt sự phát triển của ngành may sẽ là động lực
tạo điều kiện phát triển theo và thu hút đầu tư vào ngành dệt và nhuộm. Trên cơ sở
đó tiếp tục thu hút một lực lượng lao động lớn góp phần giải quyết việc làm cho xã
hội.
Đồng thời với dòng đầu tư nước ngoài ngành dệt may Việt Nam cũng đón
nhận trình độ quản lý và công nghệ mới tạo điều kiện cải thiện những máy móc
thiết bị đã cũ, lạc hậu và tư duy cũng như công tác quản lý không còn phù hợp với
điều kiện thị trường.
Việc sản xuất kinh doanh cũng nhiều thuận lợi hơn do thuế nhập khẩu
nguyên, phụ liệu giảm và nguồn cung cấp cũng phong phú hơn, tạo điều kiện cho

9

việc giảm giá thành, tăng chất lượng sản phẩm nhằm nâng cao sực cạnh tranh của
hàng dệt may Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đồng thời khi là thành viên WTO, với một thị trường rộng lớn và môi trường
kinh doanh năng động và nhiều biến động hơn sẽ cho các doanh nghiệp Việt Nam
cọ sát với thực tế và thích ứng với quy tắc, thông lệ và luật kinh doanh quốc tế.
Những bài học từ các vụ kiện chống bán phá giá sẽ giúp cho các doanh nghiệp có
kinh nghiệm và thực tiễn để đối phó với những sự kiện tiếp theo.
1.1.3.2. Thách thức
Ngành Dệt-May sử dụng một số nguyên phụ liệu chủ yếu như bông xơ,... dựa
vào nguồn nhập khẩu là chính. Trong khi đó giá dầu trên thế giới bị biến động do
tình hình chính trị trong một số khu vực trên thế giới không ổn định; hơn nữa với
việc áp thuế nhập khẩu cho mặt hàng xơ polyester để bảo vệ và kích thích sản xuất

cản mới, đó là việc xây dựng cơ chế giám sát nhập khẩu và tự khởi động điều tra
chống bán phá giá hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào Hoa Kỳ. Điều này đã gây
ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường kinh doanh khi thị trường Mỹ chiếm đến trên
50% thị phần xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam. Nhiều nhà nhập khẩu lớn dè
dặt khi đặt hàng tại Việt Nam, thậm chí rút đơn hàng khỏi Việt Nam trong những
tháng đầu năm và trong quý III/2007. Nhiều công ty không dám đầu tư mở rộng sản
xuất do sợ rủi ro. Mặc dù Bộ Thương mại Mỹ đã công bố chính thức chưa tìm thấy
bất cứ dấu hiệu cho thấy ngành dệt may Việt Nam bán phá giá vào thị trường Mỹ,
nhưng bộ Thương Mại Mỹ thông báo vẫn tiếp tục thực hiện cơ chế giám sát cho đến
hết 2008.
Bên cạnh đó các doanh nghiệp cũng sẽ phải cạnh tranh với nhau để tìm kiếm
nguồn lao động phù hợp trong tình trạng biến động lao động như hiện nay. Doanh
nghiệp sẽ phải đối phó và giải quyết với tình trạng đình công của người lao dộng
như đã xảy ra trong năm 2007 vừa qua.
Ngoài ra, các mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là hàng gia
công, nguyên, phụ liệu nhập khẩu quá cao và nhiều, do đó giá trị thực xuất khẩu
chưa cao. Việc cạnh tranh và khẳng định vị thế về chỗ đứng và thương hiệu là một
trong những thách thức với Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp đã và đang chuyển
hướng sang kinh doanh xuất khẩu mặt hàng cao cấp. Đây cũng là một hướng đi

11

mới và hợp lý trong bối cảnh hiện nay. Tuy vậy, việc xây dựng một thương hiệu cho
hàng hoá Việt Nam vẫn còn là đòi hỏi lâu dài. Khi đã xây dựng và khẳng định được
thương hiệu của mình, chỗ đứng cho hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới sẽ
được công nhận. Đồng thời khâu thiết kế cũng là một trong những vấn đề cần được
quan tâm trong thời gian tới. Ngành dệt may Việt Nam muốn có có một vị thế mới
không thể không thực hiện tốt khâu thiết kế này. Trong khi các doanh nghiệp nước
ngoài, đặc biệt quan tâm đến vấn đề này thì các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa
có những đầu tư đúng mực và chưa giải quyết được vấn đề thiết kế sản phẩm. Chỉ

hoạt động. Khác với nền kinh tế tập trung, mọi hoạt động sản xuất và tiêu thụ đều
theo kế hoạch, được hoạch định từ trên xuống, từ cấp quốc gia đến các bộ ngành và
các doanh nghiệp cụ thể. Ngược lại, trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ một sản
phẩm nào đưa ra đều phải chịu một sức cạnh tranh nhất định, bởi vì ở đó có nhiều
doanh nghiệp cùng tham gia sản xuất một mặt hàng, việc sản xuất tiêu thụ phải tuân
theo các quy luật của kinh tế thị trường. Vì vậy các doanh nghiệp phải tìm mọi cách
để cạnh tranh với nhau để làm sao tiêu thụ được hết sản phẩm của mình đồng thời
thu được lợi nhuận cao nhất. Với cơ chết thị trường các doanh nghiệp phải chủ động
trong sản xuất kinh doanh từ khâu cung ứng nguyên liệu phụ kiện, tổ chức sản xuất
đến việc tiêu thuh sản phẩm nhằm tiết kiệm chi phí, giảm giá thành, nâng cao chất
lượng sản phẩm để khả năng cạnh tranh cao, đem lại hiệu quả kinh tế cho doanh
nghiệp mình. Do đó mức độ và tính chất cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày
một đa dạng và gay gắt hơn.
1.2.1.2. Vai trò của cạnh tranh
Đối với nền kinh tế quốc dân: cạnh tranh là một trong những điều kiện quan
trọng để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao tiến bộ khoa học kỹ thuật, hiện đại
hoá nền sản xuất xã hội, tiết kiệm thời gian và tăng năng suất lao động xã hội, cho
phép sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất và phục vụ ngày càng tốt nhu cầu đa
dạng và phong phú của người tiêu dùng. Cạnh tranh lành mạnh cho phép tự phát
duy trì những cân đối của nền kinh tế và là môi trường, động lực thúc đẩy sự phát
triển bình đẳng cùng có lợi của mọi thành phần kinh tế, không phân biệt các loại
hình doanh nghiệp, qua đó góp phần xoá bỏ dần những đặc quyền không nên có và
xoá bỏ những bất bình đẳng trong kinh doanh.

13

Đối với doanh nghiệp: cạnh tranh quyết định sự tồn tại, phát triển hay phá
sản của một doanh nghiệp, bởi cạnh tranh tác động trực tiếp tới quá trình sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm. Một doanh nghiệp được xem là có khả năng cạnh tranh khi nó
có thể đứng vững và thực hiện việc sản xuất kinh doanh có hiệu quả trong điều kiện

nay khi mà tiến bộ khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão thì việc đầu tư
thay đổi công nghệ là vấn đề các nhà kinh doanh phải thường xuyên quan
tâm.
 Văn hóa - xã hội: Đối với chiến lược trung và dài hạn có thể nói đây là loại
nhân tố thay đổi nhanh chóng theo hướng du nhập những lối sống mới. Đây
cũng là cơ hội cho các nhà sản xuất, đồng thời cũng đặt ra những khó khăn
cho doanh nghiệp trong việc nhìn nhận, đánh giá và xác định xu hướng tiêu
dùng mới, căn cứ theo độ tuổi, sở thích, địa vị công việc của người tiêu dùng
để nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như có những chiến lược cạnh tranh
hợp lý trong từng thời điểm.
 Môi trường tự nhiên: các nhà kinh doanh phải quan tâm đến các yếu tố về
tự nhiên, khí hậu, sinh thái, thời vụ để sản xuất các sản phẩm phù hợp với
người tiêu dùng
 Chính trị, luật pháp: các nhân tố chính trị, luật pháo có tác động trực tiếp
đến các doanh nghiệp theo các hướng khác nhau. Chúng có thể tạo ra cơ hội,
trở ngại, thậm chí cả rủi ro cho doanh nghiệp. Sự ổn định về chính trị, sự
nhất quán về quan điểm chính sách lớn luôn hấp dẫn các nhà đầu tư. Hệ
thống pháp luật được xây dựng và hoàn thiện là cơ sở để kinh doanh ổn định,
cũng là một điều kiện để doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh trên thị trường
1.2.2.2. Lý thuyết môi trường ngành ( Mô hình Porter )
 Đối thủ cạnh tranh hiện tại: là lực lượng thứ nhất trong mô hình 5 lực
lượng của mô hình Porter, là quy mô cạnh tranh trong số các doanh nghiệp
hiện tại của ngành. Nếu đối thủ cạnh tranh yếu, doanh nghiệp có cơ hội tăng
giá sản phẩm, thu về nhiều lợi nhuận. Ngược lại, nếu đối thủ cạnh tranh hiện
tại mạnh thì sự cạnh tranh về giá là đáng kể. Cạnh tranh trong một ngành sản
xuất thường bao gồm các nội dung chủ yếu như: cơ cấu cạnh tranh ngành,

15

thực trạng cầu của ngành và các hàng rào lối ra. Hàng rào lối ra là mối đe


 Nhà cung cấp: là lực lượng thứ ba trong lực lượng cạnh tranh. Các nhà
cung cấp có thể được coi là áp lực đe dọa khi họ có khả năng tăng giá bán
đầu vào hoặc giảm chất lượng sản phẩm, dịch vụ mà họ cung cấp, làm
giảm tính cạnh tranh của nhà sản xuất. Áp lực của các nhà cung cấp
thường thể hiện trong các tình huống: nhà cung cấp độc quyền, không có
sản phẩm thay thế, doanh nghiệp mua yếu tố sản phẩm không phải là
khách hàng quan trọng và ưu tiên của nhà cung cấp, vật tư của nhà cung
cấp là quan trọng với doanh nghiệp, các nhà cung cấp vật tư cũng có
chiến lược liên kết dọc. Sức mạnh của nhà cung cấp thể hiện ở: Mức độ
tập trung của các nhà cung cấp, tầm quan trọng của số lượng sản phẩm
đối với nhà cung cấp, sự khác biệt của các nhà cung cấp, ảnh hưởng của
các yếu tố đầu vào đối với chi phí hoặc sự khác biệt hóa sản phẩm, chi
phí chuyển đổi của các doanh nghiệp trong ngành, sự tồn tại của các nhà
cung cấp thay thế, nguy cơ tăng cường sự hợp nhất của các nhà cung cấp,
chi phí cung ứng so với tổng lợi tức của ngành
 Khách hàng: khách hàng có thể được coi như là một sự đe dọa cạnh
tranh, có quyền đòi hỏi doanh nghiệp giảm giá hoặc có nhu cầu chất
lượng cao và dịch vụ tốt. Tức là khách hàng có quyền nêu những nguyện
vọng cũng như mong muốn có lợi cho mình đến các doanh nghiệp, vì suy
cho cùng, các sản phẩm sản xuất ra nhằm phục vụ khách hàng và đây
cũng chính là lực lượng phản ánh năng lực cạnh tranh của mỗi doanh
nghiệp.Áp lực của khách hàng thường được thể hiện khi: khách hàng mua
số lượng lớn - họ có thể dùng ưu thế của mình để mặc cả giảm giá, ngành
cung cấp phụ thuộc vào khách hàng với tỷ trọng lớn, khách hàng có thể
vận dụng liên kết dọc có xu hướng khép kín sản xuất, khách hàng có đầy
đủ thông tin về thị trường của các nhà cung cấp thì áp lực mặc cả càng
lớn. Sức mạnh của khách hàng thể hiện ở: Vị thế mặc cả, số lượng người
mua, thông tin mà người mua có được, tính đặc trưng của nhãn hiệu hàng
hóa, tính nhạy cảm đối với giá, sự khác biệt hóa sản phẩm, mức độ tập

động tạo giá trị khác biệt.
 Các yếu tố thuộc về nội lực của doanh nghiệp

18

• Nguồn nhân lực: đây là yếu tố hết sức quan trọng đối với sự thành
công của doanh nghiệp. Con người cung cấp đầu vào để hoạch định
mục tiêu, lựa chọn, thực hiện và kiểm tra chiến lược của doanh
nghiệp. Cho dù các kế hoạch, mục tiêu có được xác lập đúng đắn đến
mức độ nào đi chăng nữa, cũng khó mang lại hiệu quả nếu như trong
tổ chức đó không có những con người làm việc có hiệu quả
• Máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất: đây là yếu tố hết sức cần
thiết với doanh nghiệp, đánh giá đúng thực trạng máy móc thiết bị và
công nghệ của doanh nghiệp, nhằm lựa chọn chiến lược đầu tư đúng
đắn, nâng cao trình độ công nghệ và sử dụng công nghệ thành thạo,
để doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh trong môi trường hiện đại của khu
vực và quốc tế
• Văn hóa: là yếu tố riêng của mỗi doanh nghiệp, thể hiện bản sắc
riêng, phong cách riêng của mỗi doanh nghiệp. Văn hóa là tâph hợp
cá giá trị, niềm tin, quy định, cá tính… Văn hóa thể hiện sự đoàn kết,
tập hợp sức mạnh của mọi người trong doanh nghiệp, cùng đồng tâm
thực hiện nhiệm vụ. Cần khơi dậy yếu tố văn hóa trong doanh nghiệp,
giúp cho mọi người hòa đồng, cùng cống hiến vì tương lai phát triển
của doanh nghiệp.
• Tiềm lực tài chính: là yếu tố phản ánh sức khỏe của doanh nghiệp về
vốn, sử dụng vốn có hiệu quả, về lập kế hoạch tài chính, giám sát hoạt
động, phản ánh quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Phát huy hiệu rủa hoạt động tài chính để doanh nghiệp phát
huy được năng lực nội tại của mình. Doanh nghiệp nào có tiềm lực tài
chính tốt, phát huy tốt tiềm lực đó tấy yếu sẽ thu được nguồn lợi

Ma trận
SWOT
Điểm mạnh (S) Điểm yếu (W)
Cơ hội (O) Là chiến lược sử dụng những điểm mạnh
bên trong của doanh nghiệp để tận dụng
Là chiến lược nhằm cải
thiện những điểm yếu bên

20

những cơ hội bên ngoài. Tất cả các nhà
quản trị đều mong muốn tổ chức của họ
ở vào vị trí mà những điểm mạnh bên
trong có thể được sử dụng để lợi dụng
những xu hướng và biến cố của môi
trường bên ngoài. Thông thường các tổ
chức sẽ theo đuổi các chiến lược WO,
ST hay WT để có thể ở vào vị trí mà họ
có thể áp dụng các chiến lược SO. Khi
doanh nghiệp có những điểm yếu lớn thì
nó sẽ cố gắng vượt qua, làm cho chúng
trở thành những điểm mạnh. Khi một tổ
chức phải đối đầu với những mối đe doạ
quan trọng thì nó sẽ tìm cách tránh
chúng để có thể tập trung vào những cơ
hội
trong bằng cách tận dụng
những cơ hội bên ngoài.
Đôi khi những cơ hội lớn
bên ngoài đang tồn tại,

• Liệt kê các điểm yếu bên trong tổ chức
• Liệt kê các cơ hội lớn bên ngoài tổ chức
• Liệt kê các đe doạ quan trọng bên ngoài tổ chức

21

• Kết hợp điểm mạnh bên trong với cơ hội bên ngoài và ghi kết quả của chiến
lược SO vào ô thích hợp
• Kết hợp điểm yếu bên trong với cơ hội bên ngoài và ghi kết quả của chiến
lược WO vào ô thích hợp
• Kết hợp điểm mạnh bên trong với mối đe doạ bên ngoài và ghi kết quả của
• cược ST vào ô thích hợp
Từ những phân tích cụ thể về môi trường bên ngoài, môi trường bên trong để biết rõ
vị trí của doanh nghiệp nhằm phát huy điểm mạnh, kiểm soát và hạn chế rủi ro,
khắc phục những hạn chế, từ đó có những chiến lược cạnh tranh phù hợp.
1.2.3. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện trên nhiều lĩnh vực,
nhiều mặt trong cả quá trình sản xuất kinh doanh và giữa các lĩnh vực này đều có
mối quan hệ tác động hỗ trợ lẫn nhau, thúc đẩy nhau tạo thế cạnh tranh vững chắc
cho doanh nghiệp. Đó là:
• Thương hiệu sản phẩm: đây là vấn đề mỗi doanh nghiệp không những phải
coi trọng mà là yếu tố quyết định sống còn đến sự tồn tại của doanh nghiệp.
Sản phẩm được sản xuất trong doanh nghiệp đã có thương hiệu và uy tín trên
thị trường tất nhiên sẽ hấp dẫn người tiêu dùng, được người tiêu dùng chọn
lựa và do đó giúp cho doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao trong tiêu
thụ sản phẩm và mang lại hiệu quả kinh tế cao.
• Chất lượng sản phẩm: chất lượng sản phẩm chính là vũ khí cạnh tranh vô
cùng quan trọng, được coi là chiến lược hàng đầu của mọi doanh nghiệp và
là yêu cầu khách quan góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. Trong xu thế
hội nhập quốc tế việc nâng cao chất lượng sản phẩm ngày càng được các nhà

tin về hàng hoá, tác động vào người mua về phía mình để bán được nhanh và
nhiều hàng hoá hơn
Cuối cùng các lĩnh vực trên có tác động liên hoàn, hỗ trợ nhau phát triển thể
hiện rõ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

23

Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh
của Tổng Công ty dệt may Hà Nội
2.1. Tổng quan về tổng công ty dệt may Hà Nội
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển, cơ cấu tổ chức của công ty
2.1.1.1. Lịch sử hình thành
Ngày 7 tháng 4 năm 1978, việc ký kết hợp đồng xây dựng giữa Techno-
Import Việt Nam và hãng Unionmatex- cộng hoà liên bang Đức được tiến hành.
Chưa đầy một năm sau đó, tức là vào tháng 2 năm 1979, công trình xây dựng nhà
máy sợi Hà Nội đã được ký kết giữa hai tổ chức trên được khởi công. Cuối cùng
vào ngày 21 tháng 11 năm 1984 nhà máy dệt Hà Nội chính thức đi vào hoạt động.
Cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1991 nhà máy dệt Hà Nội được đổi tên thành xí
nghiệp liên hợp sợi dệt kim Hà Nội với tên giao dịch quốc tế là Hanosimex (theo
QĐ-138-CNN-TCLĐ), rồi đến ngày 19 tháng 6 năm 1995 xí nghiệp liên hợp sợi dệt

24

kim Hà Nội được đổi tên thành công ty dệt Hà Nội (theo 840-TCLĐ, bộ công
nghiệp nhẹ).
Chính thức vào ngày 28 tháng 2 năm 2000, cái tên công ty dệt may Hà Nội
chính thức ra đời. Từ đó đến nay là giai đoạn phát triển không ngừng của toàn công
ty trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với việc chuyển đổi mô hình doanh
nghiệp và hoạt động kinh doanh. Đặc bệt trong giai đoạn này công ty tập trung triển
khai thực hiện mô hình công ty mẹ- công ty con và thực hiện cổ phần hoá các công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status