nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của NHTMCP Kiên Long chi nhánh Cần Thơ - Pdf 23

ĐỀ TÀI
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
CỦA NHTMCP KIÊN LONG CHI NHÁNH CẦN THƠCần Thơ, tháng 07 năm 2011
MỤC LỤC
3.1. KHÁI QUÁT V DOANH NGHI P NH VÀ V AỀ Ệ Ỏ Ừ 15
3.1.1. Khái ni m v doanh nghi p nh và v aệ ề ệ ỏ ừ 15
4.2.1. Ki n ngh v i Nhà n cế ị ớ ướ 39
4.2.3. Ki n ngh v i NHNNế ị ớ 40
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI
Nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, khí hậu ôn hoà, thành phố Cần
Thơ có đầy đủ điều kiện để phát triển về mọi mặt kinh tế xã hội. Sau 7 năm trực
thuộc Trung ương, bộ mặt Thành phố đã có nhiều thay đổi lớn. Theo chủ trương
công nghiệp hoá hiện đại hoá của Chính phủ, trên địa bàn thành phố Cần Thơ ngày
càng có nhiều doanh nghiệp kinh doanh sản xuất với nhiều lĩnh vực phong phú, đa
dạng. Đáng kể nhất là loại hình các DNN&V ngày càng phát triển nhanh và mạnh về
chất lượng lẫn số lượng. Hoạt động của các doanh nghiệp này đóng góp một phần
rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội thành phố Cần Thơ nói riêng và cả
nước nói chung. Bên cạnh đó, còn thúc đẩy, hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh
nghiệp lớn trên địa bàn.
Thời điểm trước đây, không chỉ riêng ở thành phố Cần Thơ mà gần như
trên cả nước, ngoại trừ các doanh nghiệp lớn, các DNN&V không được quan tâm
nhiều, nên còn gặp nhiều khó khăn về vấn đề tài chính, sự phát triển của các doanh
nghiệp này có phần nào bị trì trệ.
Tuy nhiên, giờ đây khi các ngân hàng đã nhận thức được tiềm năng phát
triển cho vay đối với các doanh nghiệp này thì hoạt động của các doanh nghiệp cũng

Phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối là kết quả của phép trừ giữa trị số
của kỳ phân tích với kỳ trước của các chỉ tiêu kinh tế.
01
yyy
−=∆
Trong đó:
y
o
: Chỉ tiêu năm trước
y
1
: Chỉ tiêu năm sau
∆y : Là phần chệnh lệch tăng, giảm của các chỉ tiêu kinh tế.
Phương pháp này sử dụng để so sánh số liệu năm tính với số liệu năm trước
của các chỉ tiêu xem có biến động không và tìm ra nguyên nhân biến động của các
chỉ tiêu kinh tế, từ đó đề ra biện pháp khắc phục.
b. Phương pháp so sánh bằng số tương đối
Phương pháp so sánh bằng số tương đối được thể hiện qua công thức sau:

100
0
01
Χ

=∆
y
yy
y

Trong đó:

1.6. BỐ CỤC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: Giới thiệu.
Chương 2: Giới thiệu khái quát về NHTMCP Kiên Long.
Chương 3: Thực trạng về chất lượng cho vay ngắn hạn đối với SME tại
NHTMCP Kiên Long Chi nhánh Cần thơ.
Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn đối với
DNN&V tại NHTMCP Kiên Long Chi nhánh Cần thơ.
3
Chương 5: Kết luận.
CHƯƠNG 2
GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KIÊN LONG
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG KIÊN LONG
CẦN THƠ
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
2.1.1.1. Vài nét về KienLong Bank
NHTMCP Kiên Long (KienLong Bank) được thành lập và đi vào hoạt động
từ tháng 10 năm 1995 tại Kiên Giang (giấy phép hoạt động 0056/NN-GP ngày
18/9/1995 ngân hàng Nhà nước cấp, giấy phép thành lập 1115/GP-UB ngày
02/10/1995 UBND tỉnh Kiên Giang cấp), Hội sở chính của Ngân hàng đặt tại số 44,
đường Phạm Hồng Thái, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Sau 15 năm hình
thành và phát triển, KienLong Bank trở thành một NHTMCP phát triển mạnh, bền
vững và tạo được nhiều niềm tin cho khách hàng từ một Ngân hàng hoạt động cho
vay tín dụng tại các vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long với số vốn điều lệ
1,2 tỉ đồng vào năm 1995, đến cuối năm 2010 KienLong Bank đã có vốn điều lệ là
3.000 tỉ đồng. Điều đó đã nói lên sự phát triển ổn định và bền vững của KienLong
Bank.
Hiện nay, KienLong Bank đã có mạng lưới hoạt động rộng khắp tại các
vùng trọng điểm trong cả nước với 19 Chi nhánh và 63 phòng giao dịch. Phấn đấu
đến cuối năm 2011 sẽ có 139 Chi nhánh và phòng giao dịch trong cả nước.

đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh hoạt động kinh tế của Thành Phố Cần Thơ và các mục
tiêu, chương trình phát triển kinh tế của Thành phố nói riêng và cả nước nói chung.
KienLong Bank Cần Thơ đang từng bước khẳng định là một trung gian tài chính cấp
cao với các hoạt động chủ yếu:
− Huy động vốn ngắn hạn, trung và dài hạn của các tổ chức thuộc các
thành phần kinh tế và dân cư dưới các hình thức tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết
kiệm có kỳ hạn, không kỳ hạn và phát hành các giấy tờ có giá trị như trái phiếu, kỳ
phiếu…
− Tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư và phát triển của các tổ chức, cá nhân
trong và ngoài nước khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép.
− Cung ứng vốn cho các thành phần kinh tế và dân cư dưới nhiều hình
thức cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
− Cầm cố các thương phiếu, trái phiếu và các loại giấy tờ có giá.
− Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng.
− Dịch vụ chuyển tiền nhanh trong và ngoài nước .
− Thực hiện các dịch vụ, tiện ích Ngân hàng khác theo quy định của Ngân
hàng Nhà nước.
5
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và quản lý của KienLong Bank Chi nhánh Cần Thơ
Căn cứ vào cơ cấu tổ chức hoạt động của Chi nhánh, Sở giao dịch và các
đơn vị trực thuộc Sở giao dịch và các Chi nhánh cấp 1 gồm: Phòng Kinh doanh,
Phòng thẩm định tài sản, Phòng Kế toán, Phòng Hành chánh quản trị và Phòng giao
dịch trực thuộc Chi nhánh.
Tổng số nhân viên của KienLong Bank Cần Thơ là 158 người, trong đó bao
gồm 1 Giám đốc CN, 2 Phó Giám đốc CN, 1 Trưởng phòng nghiệp vụ kinh doanh
CN, 1 Trưởng Phòng kế toán – ngân quỹ, Trưởng phòng và các trưởng bộ phận ở
PGD, cùng các nhân viên ở các bộ phận.

(Nguồn: Phòng Hành Chánh Kienlong Bank Cần Thơ)
6

Tập trung nâng cao chất lượng tín dụng, có chính sách thích hợp nhằm ngăn
chặn rủi ro tín dụng. Tăng cường năng lực tài chính thông qua thực hiện cơ chế lãi
suất cực dương và thực hiện chỉ huy lãi suất tập trung tại Hội sở chính.
Áp dụng lãi suất huy động và cho vay tại các vùng có cạnh tranh cao.
2.2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG KIÊN LONG CẦN THƠ
2.2.1. Tình hình huy động vốn của NHTMCP Kiên Long Chi nhánh Cần
Thơ
Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng
đang tạm thời quản lí và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả. Vốn huy động còn được
gọi là tài sản nợ ngân hàng.
Trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng, nguồn vốn luôn giữ vai trò quan
trọng, nếu thiếu vốn Ngân hàng không thể giải ngân nhanh chóng để đáp ứng kịp
thời nhu cầu vay vốn của khách hàng. Điều đó làm cho mục tiêu tăng trưởng dư nợ
cũng như nâng cao kết quả hoạt động tín dụng tại Ngân hàng không đạt được hiệu
quả. Cho nên, nguồn vốn huy động giữ vai trò khá quan trọng trong tổng nguồn vốn.
Khả năng huy động vốn của Ngân hàng cao sẽ góp phần làm tăng lợi nhuận của
Ngân hàng và ngược lại khả năng huy động vốn của Ngân hàng thấp sẽ ảnh hưởng
đáng kể đến kết quả kinh doanh của Ngân hàng vì lãi suất huy động vốn tại chỗ
thường thấp hơn lãi suất tái cấp vốn của Ngân hàng cấp trên.
7
Nguồn vốn huy động của Ngân hàng có xu hướng tăng dần qua các năm.
Năm 2009 tổng nguồn vốn huy động là 286,144.35 triệu đồng, năm trước là
160,368.40 triệu đồng tăng về số tuyệt đối là 125,775.95 triệu đồng tức là tăng số
tương đối là 78.43% so với năm 2008. Đến năm 2010 nguồn vốn huy động tiếp tục
tăng, số tiền huy động được là 387,976.57 triệu đồng tăng 35.59% so với năm 2009
với số tiền là 101.832,22 triệu đồng. Trong đó bao gồm:
Bảng 1: Tình hình huy động vốn qua 3 năm (2008 – 2010)
ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu 31/12/2008 31/12/2009 31/12/2010

Huy động vốn trung và dài hạn năm 2008 là 25,456.50 triệu đồng, sang
năm 2009 ngân hàng huy động được 41,434.22 triệu đồng tăng 15.977.72 triệu đồng
tương đương 62,76% so với năm 2008. Năm 2010 vốn huy động là 64,490.15 triệu
đồng, tăng 55,64% tức là tăng 23,055.93 triệu đồng so với năm 2009.
8
Nguyên nhân vốn huy động của ngân hàng tăng qua 3 năm là do:
Chuyên viên quan hệ khách hàng tích cực tiếp cận những hộ gia đình có
nguồn thu nhập bất thường như: tiền trúng số, tiền chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, các hộ gia đình có thu nhập ngoại hối từ người thân ở nước ngoài, tiền bồi
thường… gửi tiền vào Ngân hàng. Tiền gửi của dân cư tăng nhanh là do nhận thức
của người dân về các dịch vụ Ngân hàng đang ngày càng cải thiện, ngoài ra còn do
Ngân hàng mở rộng mạng lưới huy động thông qua các quỹ tiết kiệm cũng như các
điểm giao dịch. Trong năm, chi nhánh đã áp dụng đa dạng các hình thức gửi tiền,
triển khai kịp thời các hình thức tiết kiệm dự thưởng kèm theo quà khuyến mại, chủ
động quảng cáo đẩy mạnh công tác tiếp thị.
Nguồn huy động đối với khách hàng là các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp
trên địa bàn thành phố Cần Thơ chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thu hút
nguồn vốn huy động ngắn hạn từ các doanh nghiệp chủ yếu gửi và xoay vốn trong
thời gian ngắn để kịp thời phục vụ sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu tài chính
cho mỗi doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Chi nhánh còn thực hiện việc trả lương cho cán
bộ công nhân viên của các doanh nghiệp bằng việc chuyển tiền lương của họ vào tài
khoản ATM của từng người do đó đã huy động được lượng lớn tiền nhàn rỗi trong
dân cư.
 Tóm lại, huy động vốn của ngân hàng đối với các cá nhân, các tổ chức
kinh tế qua 3 năm đều tăng. Điều đó cho thấy, trong 3 năm qua Ngân hàng đã có
nhiều hình thức huy động vốn tích cực và đã chiếm được lòng tin của khách hàng
gửi tiền vào Ngân hàng. Hơn nữa, cũng cho chúng ta thấy được Ngân hàng đã tận
dụng tốt các cơ hội để huy động vốn triệt để, tạo nguồn vốn ổn định đầu tư vào các
chương trình kinh tế ở địa phương và đem lại lợi nhuận cao cho Ngân hàng. Tuy
nhiên, chi nhánh cần phải nổ lực vì nhiều mặt còn hạn chế về khả năng giao tiếp

quân
59,175.00 171,026.00 374,011.00 111,851.00 189.02 202,985.00 118.69
Nợ quá
hạn
0.00 4,698.00 7,047.00 4,698.00 - 2,349.00 50.00
(Nguồn: Phòng tín dụng NHTMCP Kiên Long chi nhánh Cần Thơ 2008-2010)
Doanh số cho vay
Doanh số cho vay tại ngân hàng trong một khoảng thời gian xác định là số
tiền mà ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng trong một khoảng thời gian đó,
thường được tính theo tháng, quý, năm. Các khoản vay có chất lượng khi vốn vay
được khách hàng sử dụng hiệu quả, đúng mục đích, tạo ra số tiền lớn, thông qua đó
ngân hàng thu hồi được gốc và lãi, còn doanh nghiệp có thể trả được nợ, bù đắp chi
phí và thu được lợi nhuận. Điều đó có nghĩa là Ngân hàng vừa tạo ra hiệu quả kinh
tế vừa tạo ra hiệu quả xã hội.
Nhìn chung, doanh số cho vay tại NHTMCP Kiên Long chi nhánh Cần Thơ
qua 3 năm 2008, 2009, 2010 đều tăng. Năm 2009 doanh số cho vay là 437,429.00
triệu đồng tăng 181.20% so với năm trước tức là tăng 281,873.00 triệu đồng. Năm
2010 doanh số cho vay là 656,143.50 triệu đồng tăng 50,00% tức là tăng về số tuyệt
đối là 218,714.50 triệu đồng so với năm 2009. Nguyên nhân doanh số cho vay tăng
dần về số tuyệt đối là do nhu cầu vay vốn của người dân, các doanh nghiệp trên địa
bàn qua 3 năm tăng. Điều đó thể hiện sự phát triển kinh tế ở thành phố Cần Thơ
10
ngày càng nhanh, xứng đáng là trung tâm kinh tế trọng điểm của ĐBSCL. Đây là tín
hiệu tốt cho sự tiếp tục gia tăng doanh số cho vay của Ngân hàng trong những năm
tới.
Doanh số thu nợ
Doanh số thu nợ là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà ngân
hàng thu hồi được khi đáo hạn vào một thời điểm nhất định.
Nhìn chung, từ năm 2008 – 2010 doanh số thu nợ của Ngân hàng biến động
theo chiều hướng khả quan. Cụ thể, năm 2009 doanh số thu nợ đạt 275,041.00 triệu

11
thành phố ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Điều này giúp
Ngân hàng định hướng chiến lược kinh doanh trong thời gian tới tốt hơn.
Nợ quá hạn
Nợ quá hạn là số tiền mà khách hàng chưa hoàn trả cho ngân hàng cả gốc
và lãi khi đáo hạn hợp đồng tín dụng mà không làm đơn xin gia hạn hoặc điều chỉnh
kì hạn nợ với nguyên nhân hợp lí. Nếu nợ quá hạn chiếm tỉ lệ cao trong tổng nợ,
điều này chứa đựng rủi ro tín dụng cho ngân hàng, thu nhập sẽ bị giảm.
Năm 2009 nợ quá hạn là 4,698.00 triệu đồng, trong khi năm 2008 không có
nợ quá hạn, năm 2010 nợ quá hạn là 7,047.00 triệu đồng tăng 2,349.00 triệu đồng
tương đương 50,00% so với năm 2009. Nguyên nhân lạm phát và khủng hoảng kinh
tế thế giới trong thời kì này làm ảnh hưởng đến đời sống người dân nên khả năng
hoàn trả nợ của người vay vốn bị giảm sút.
2.2.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần
Kiên Long Chi Nhánh Cần Thơ trong 3 năm (2008 – 2010)
Bảng 3: Kết quả hoạt động kinh doanh trong 3 năm (2008 – 2010)
ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu 2008 2009 2010 Chênh lệch Chênh lệch
2009/2008 2010/2009
Số tiền % Số tiền %
I. Tổng thu nhập 16,712.47 34,062.38 63,685.82 17,349.91 103.81 29,623.44 86.97
II. Tổng chi phí 15,059.87 30,815.43 46,121.09 15,755.56 104.62 15,305.66 49.67
III. Lợi nhuận 1,652.60 3,246.95 17,564.73 1,594.35 96.48 14,317.78 440.96
(Nguồn: Báo cáo kết quả HĐKD của NHTMCP Kiên Long chi nhánh Cần Thơ
2008-2010)
12
Hình 2: Biểu đồ thể hiện kết quả hoạt động kinh doanh qua 3 năm
(2008 – 2010) của KienLong Bank Cần Thơ
Dựa vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh qua 3 năm (2008 – 2010) tại
NHTMCP Kiên Long Chi nhánh Cần Thơ, ta thấy tổng thu nhập, chi phí, lợi nhuận

hợp lí.
→ Qua phân tích kết quả hoạt động kinh doanh 3 năm (2008 – 2010) của
NHTMCP Kiên Long Chi nhánh Cần Thơ, ta thấy kết quả đạt được là rất khả quan,
lãi thu được tăng và ổn định qua các năm. Đây là thành tích rất tốt khi NHTMCP
Kiên Long Chi nhánh Cần Thơ chỉ mới bắt đầu hoạt động chưa tròn 4 năm, đó là
nhờ vào điều kiện kinh tế – xã hội thành phố Cần Thơ đang phát triển và sự lãnh đạo
tốt của Ban lãnh đạo đơn vị cùng sự nỗ lực không ngừng của cán bộ nhân viên trong
Ngân hàng. Tuy nhiên, Ngân hàng cần chú ý các khoản chi phí không cần thiết,
khuyến khích cán bộ nhân viên tiết kiệm chi phí có thể, nhằm tăng cao lợi nhuận
hơn nữa.
14
CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG
CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI SME
CỦA KIENLONG BANK CẦN THƠ
3.1. KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
3.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản có trụ sở giao dịch
ổn định, được đăng kí kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mục đích thực
hiện các hoạt động kinh doanh.
Thuật ngữ DNN&V ở các nước Phương Tây viết tắt là SME (Small and
Medium Enterprise). Trên thế giới, các tiêu thức được sử dụng thông thường nhất là
số lao động được sử dụng thường xuyên, tổng vốn đầu tư, giá trị của tài sản cố định,
… để xác định DNN&V. Nhưng trong thực tế thì không phải các tiêu thức này được
sử dụng hoàn toàn giống nhau ở các nước. Tuy nhiên, để tiện cho việc so sánh thì
tiêu thức được sử dụng phổ biến là số lao động thường xuyên tham gia sản xuất bởi
nó không chịu sự khác biệt giữa các quốc gia. Ngoài ra, tiêu thức về tổng vốn đầu tư
cũng thường được sử dụng. Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước mà độ lớn
của các tiêu thức này khác nhau.
Nước ta cũng sử dụng hai tiêu thức phổ biến là số lao động thường xuyên

trong quá trình hoạt động.
Thứ ba, khả năng quản lý hạn chế do trình độ của các nhà quản lý doanh
nghiệp thường không cao và ít kinh nghiệm thực tế do họ thường là những kĩ sư
hoặc cử nhân kinh tế mới ra trường. Họ còn thiếu kiến thức về quản trị doanh nghiệp
và luật pháp. Người quản lý doanh nghiệp đôi khi còn tham gia vào sản xuất nên
mức độ chuyên môn hoá trong công việc không cao. Việc tách bạch giữa các bộ
phận không rõ ràng do vậy hiệu quả quản lý doanh nghiệp thấp. Đa số ông chủ các
DNN&V thường chưa qua một khoá đào tạo chính qui nào.
Thứ tư, trang thiết bị và công nghệ lạc hậu do không đủ năng lực tài chính
và nhân lực. Do vậy, giá thành sản phẩm thường cao, chất lượng và năng suất lao
động thấp dẫn đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp thường không cao.
Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng do qui mô nhỏ nên các DNN&V khá linh hoạt
trong việc thay đổi công nghệ và thường có những sáng kiến đổi mới công nghệ phù
hợp với qui mô của mình để tạo ra sản phẩm có thể cạnh tranh trên thị trường.
Thứ năm, trình độ tay nghề của người lao động thường thấp do các chủ
DNN&V không đủ khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thu hút
lao động có kĩ thuật. Lao động của DNN&V chủ yếu là do tự đào tạo nên thường
không có kinh nghiệm và sự sáng tạo trong sản xuất thấp nên năng suất lao động
không cao.
Thứ sáu, xu hướng đầu tư của các DNN&V là tập trung vào các ngành cần
ít vốn, thu hồi vốn nhanh như: thương nghiệp, dịch vụ, du lịch…
Ngoài ra DNN&V còn có một số đặc điểm sau: trình độ văn hoá kinh doanh
còn chưa cao, còn tồn tại hiện tượng làm ăn chộp giật, trốn lậu thuế, vi phạm pháp
luật. Bên cạnh đó, các DNN&V thường sử dụng diện tích đất riêng để sản xuất do
vậy rất khó khăn trong việc mở rộng qui mô sản xuất. Mặt khác, khả năng tiếp cận
16
thị trường không cao do các DNN&V thường mới thành lập thiếu kinh nghiệm trong
việc tiếp cận thị trường hơn nữa họ chưa có khả năng trong xây dựng chính sách
Marketing phù hợp. Thị trường của các DNN&V chủ yếu là người dân địa phương.
Xuất phát từ những đặc điểm trên chúng ta có thể đưa ra một số ưu thế cũng

Cần Thơ là trung tâm của đồng bằng sông Cửu Long. Trên toàn địa bàn
thành phố có khá nhiều doanh nghiệp lớn. Lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp
này rất đa dạng bao gồm cả công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Tuy nhiên, do hoạt
17
động của các doanh nghiệp lớn trên địa bàn nên cũng ảnh hưởng đến sự hình thành
của các doanh nghiệp SME. Thông thường, các doanh nghiệp SME là nhà cung cấp
cho các chi nhánh tập trung chủ yếu ở trong lĩnh vực cơ khí, thương mại dịch vụ, để
cung cấp nguyên liệu đầu vào cho một số doanh nghiệp lớn.
Số lượng các doanh nghiệp SME đang có xu hướng tăng trong 2 năm 2009
và 2010. Nhu cầu vốn của các doanh nghiệp này cũng ngày càng tăng và đang được
ngân hàng đặc biệt quan tâm. Vì nguồn vốn ngắn hạn đối với nền kinh tế xã hội là
rất quan trọng và chỉ có hạn nên cần thiết phải được sử dụng thật sự hiệu quả dành
cho những doanh nghiệp có uy tín và chất lượng.
NHTMCP Kiên Long định hướng là ngân hàng bán lẻ nên khách hàng mục
tiêu là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Do đó tỷ trọng cho vay đối
với doanh nghiệp lớn là không đáng kể. Bên cạnh đó, NHTMCP Kiên Long chi
nhánh Cần Thơ vừa thành lập chưa tròn 4 năm nên khó có thể cạnh tranh với các
NHTM lâu đời khác trên địa bàn. Tuy nhiên, trong tương lai khi đã khẳng định được
thương hiệu của mình Ngân hàng sẽ tập trung phát triển vào khách hàng là doanh
nghiệp lớn. Do đó, trong nội dung của phần này khi nói đến doanh nghiệp đồng
nghĩa là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
3.2. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN SME CỦA
KIENLONG BANK CẦN THƠ
3.2.1. Khái niệm và đặc điểm của vay ngắn hạn
Cho vay ngắn hạn là hình thức cấp tín dụng có thời hạn hợp đồng không
quá 1 năm nhằm đáp ứng nhu cầu vốn lưu động thường xuyên như: mua nguyên vật
liệu, trả lương công nhân, dự trữ hàng hoá…
Cho vay ngắn hạn là một hình thức sử dụng vốn phổ biến nhất của NHTM.
Các khoản cho vay này thường ít rủi ro hơn về khả năng thanh toán cũng như rủi ro
về lãi suất hơn so với cho vay trung và dài hạn. CVNH cũng mang những đặc trưng

của NHTMCP Kiên Long Chi nhánh Cần Thơ
Hoạt động tín dụng nói chung và tình hình cho vay nói riêng tại Ngân hàng
bao gồm nhiều yếu tố: doanh số cho vay, doanh số thu nợ, dư nợ,…Trong các yếu tố
trên, doanh số cho vay là yếu tố khởi đầu, ảnh hưởng trực tiếp đến các yếu tố khác.
Do đó, phân tích doanh số cho vay tại Ngân hàng là quan trọng trong phân tích tình
hình cho vay.
Doanh số cho vay tại Ngân hàng trong một khoảng thời gian xác định là số
tiền mà Ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng trong một khoảng thời gian đó,
thường được tính theo tháng, quý, năm.
19
Bảng 4: Doanh số cho vay ngắn hạn theo đối tượng qua 3 năm 2008 –
2010
ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu 2008 2009 2010 So sánh So sánh
2009/2008 2010/2009
Số tiền % Số tiền %
Cá nhân
hộ gia đình
42,093.45 115,481.26 171,056.61 73,387.81 174.34 55,575.35 48.12
Doanh
nghiệp
9,240.03 28,870.31 54,470.75 19,630.28 212.45 25,600.44 88.67
Tổng
51,333.4
8
144,351.5
7
225,527.36 93,018.09 181.20 81,175.79 56.23
(Nguồn: Phòng tín dụng NHTMCP Kiên Long chi nhánh Cần Thơ 2008-2010)
Hình 3: Biểu đồ thể hiện doanh số cho vay ngắn hạn qua 3 năm (2008 –

củng cố, mở rộng quan hệ với các đối tượng trên địa bàn. Kết quả đã có thêm một số
doanh nghiệp đặt vấn đề vay vốn với Ngân hàng. Đây là một tín hiệu khả quan mà
trong những năm tới Ngân hàng cần phải tiếp tục phát huy hơn nữa góp phần đa
dạng hóa các đối tượng đầu tư tại Ngân hàng.
Mặc dù doanh số cho vay với doanh nghiệp qua 3 năm đều tăng cả về số
tuyệt đối lẫn tỉ trọng nhưng vẫn còn khá thấp trong tổng doanh số cho vay. Năm
2008 tỉ trọng doanh số cho vay đối tượng này chiếm 18.00%, năm 2009 là 20.00%
đến năm 2010 tăng lên được 24.15%. Nguyên nhân doanh số cho vay đối tượng này
tăng nhưng chưa cao là do:
− NHTMCP Kiên Long Chi nhánh Cần Thơ có ít khách hàng là đối tượng
này. Thành phố Cần Thơ là nơi tập trung nhiều ngân hàng nên sự cạnh tranh là hết
sức gay gắt, mà NHTMCP Kiên Long chi nhánh Cần Thơ chỉ mới bắt đầu hoạt động
chưa tròn 4 năm nên việc cạnh tranh với ngân hàng khác còn hạn chế.
− Công tác tiếp thị có được quan tâm nhưng chưa có chiến lược cụ thể,
nhất là khâu tiếp cận các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh lớn để tìm kiếm khách
21
hàng vay vốn. Trong thời gian tới, Ngân hàng nên tăng cường hơn nữa công tác tiếp
cận doanh nghiệp nhằm nâng cao tỉ trọng cho vay đối tượng này.
− Trong những năm qua, nguồn vốn huy động của Ngân hàng vẫn chưa đủ
đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của khách hàng nhất là khối doanh nghiệp có nhu
cầu vay vốn cao. Mặc dù Ngân hàng đã tranh thủ giải ngân ngay khi có nguồn vốn
nhưng thời gian khá lâu. Điều này cũng phần nào ảnh hưởng đến doanh số cho vay
khối doanh nghiệp không tăng cao trong thời gian qua.
− Một yếu tố vĩ mô là do tình hình kinh tế các năm qua khó khăn, lạm
phát, lãi suất đều tăng, các hoạt động kinh tế ở mức độ cầm cự và phục hồi chứ chưa
thực sự có những bước phát triển mạnh, các doanh nghiệp đều e dè và cẩn trọng
trong việc huy động vốn của mình.
 Nhìn chung, về cơ cấu đầu tư vốn ngắn hạn qua 3 năm 2008 – 2010 tại
Ngân hàng TMCP Kiên Long chuyển biến theo chiều hướng tốt. Nhưng trong thực
tế các doanh nghiệp còn hạn chế về vấn đề tài chính, thiếu điều kiện vay vốn theo

nghiệp
Tổng
58,430.00
123,768.0
0
165,024.00 65,338.00 111.82 41,256.00 33.33
(Nguồn: Phòng tín dụng NHTMCP Kiên Long chi nhánh Cần Thơ 2008-2010)
23
Hình 4: Biểu đồ thể hiện doanh số thu nợ ngắn hạn qua 3 năm (2008 –
2010) của KienLong Bank Cần Thơ
Doanh số thu nợ qua các năm đều tăng. Đây là tín hiệu tốt trong hoạt động
tín dụng tại Ngân hàng trong 3 năm qua. Điều đó chứng tỏ trong 3 năm từ 2008 đến
2010 các thành phần kinh tế trong địa bàn Thành phố làm ăn có hiệu quả cũng như
thể hiện sự nỗ lực của CVQHKH trong công tác thu hồi nợ đến hạn và nợ quá hạn
đạt được kết quả khả quan. Năm 2009, doanh số thu nợ đạt 123,768.00 triệu tăng
65,338.00 triệu (111.82%) so năm 2008. Năm 2010 doanh số thu nợ đạt 165,025.00
triệu tăng về tuyệt đối là 41,257.00 triệu hay tăng về tương đối là 33.33%. Cụ thể
như sau:
Hộ gia đình, cá nhân:
Doanh số thu nợ qua 3 năm tăng. Năm 2009 doanh số thu nợ là 97,777.00
triệu tăng 53,370.14 triệu (120.18%) so năm 2008. Năm 2010 doanh số thu nợ đạt
133,669.63 triệu tăng về số tuyệt đối là 35,892.63 triệu hay tăng về số tương đối là
36.71% được thể hiện ở bảng trên.
Doanh nghiệp:
Nhìn vào biểu đồ ta thấy: doanh số thu nợ qua 3 năm đều tăng. Năm 2008
là 14,406.86 triệu đồng, đến năm 2009 là 25,991.00 triệu tăng 11,967.86 triệu tương
đương tăng 85.34% so với năm 2008. Năm 2010 doanh số thu nợ là 31,354.37 triệu
tăng 5,363.37 triệu, tốc độ tăng trưởng là 20.64% so với năm 2009. Nguyên nhân
doanh số thu nợ năm 2010 tăng chậm hơn so với năm 2009 là do tình hình thị
trường từ năm 2008 đến năm 2010 luôn có những biến chuyển liên tục, đến năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status