ĐỀ CƯƠNG PHÂN hóa và BÌNH ĐẲNG xã hội TRONG GIÁO dục - Pdf 23

ĐỀ CƯƠNG PHÂN HÓA VÀ BÌNH ĐẲNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC
Dành cho lớp cao học Quản lý giáo dục, năm 2014
Câu 1. Phân hóa xã hội là gì? Phân hóa xã hội trong giáo dục được hiểu như thế nào? Hãy nêu
một số chỉ báo hay đơn vị đo lường, đánh giá sự phân hóa xã hội trong giáo dục.
Phân hóa xã hội
- Phân hóa xã hội là quá trình hình thành các nhóm xã hội khác nhau về một hoặc một số
đặc điểm, tính chất xã hội nhất định
Phân hóa xã hội còn được hiểu là quá trình tạo ra sự khác biệt xã hội mà căn cứ vào đó
có thể phân hóa phân tầng và phân hóa phân loại.
Phân hóa phân tầng là sự phân hóa tạo ra sự khác biệt định lượng để từ đó hình thành
các tầng lớp xã hội khác nhau về kinh tế, trình độ học vấn và các đặc điểm khác. Ví dụ phân
hóa – phân tầng giàu nghèo, giỏi kém, tầng cao tầng thấp.
Phân hóa - phân loại xã hội là sự phân hóa tạo ra sự khác biệt định tính để từ đó hình
thành các loại nhóm xã hội khác nhau ví dụ nhóm giáo viên dạy toán, nhóm giáo viên dạy lý,
nhóm giáo viên dạy văn, hoặc nhóm bác sỹ răng hàm mặt, nhóm bác sỹ phụ sản, nhóm bác sỹ
tai mũi họng.v.v.
- Sự phân hóa xã hội có thể dẫn đến sự hình thành các nhóm xã hội khác nhau, mâu thuẫn
nhau thậm chí đối lập nhau. Khi sự phân hóa xã hội tạo thành hai nhóm xã hội đối lập nhau thì
được gọi là sự phân cực xã hội
Ví dụ:
Về kinh tế: Sự phân hóa xã hội tạo ra 2 nhóm đối lập nhau là nhóm giàu và nhóm nghèo,
tương ứng là nhóm học sinh con nhà giàu và nhóm học sinh con nhà nghèo.
Về giáo dục: sự phân hóa xã hội tạo thành nhóm học sinh giỏi và nhóm học sinh kém.
Phân hoá XH trong GD được hiểu như thế nào
Phân hoá XH trong GD là: quá trình hình thành các nhóm học sinh (sinh viên, học
viên…), các nhóm nghề nghiệp, trình độ khác nhau trong giáo dục.
Ví dụ như: phân hoá XH trong GD tạo thành các nhóm học sinh:
• Nhóm học sinh con nhà giàu và nhóm học sinh con nhà nghèo.
1
• Nhóm học sinh học giỏi, học khá và nhóm học sinh học yếu.
• Nhóm học sinh có sở trường, năng khiếu về các môn khoa học TN, XH, VH, VN - TD -

4. Phân hóa giữa các địa phương (các tỉnh, thành phố)
5. Phân hóa giữa các dân tộc
6. Phân hóa giữa nhóm giàu và nhóm nghèo (phân hóa giàu nghèo)
7. Phân hóa giữa nhóm di cư và nhóm không di cư…
Lưu ý không nhầm lẫn hình thức phân hóa nêu trên với chỉ báo, thước đo phân hóa.
Ví dụ phân hóa giáo dục giữa thành thị và nông thôn có thể được xác định thông qua chỉ báo
/đo lường là tỉ lệ % đi học đúng tuổi trung học phổ thông của thành thị và của nông thôn. So
sánh hai tỉ lệ % này nếu bằng nhau thì bình đẳng không phân hóa, nếu càng khác nhau thì càng
phân hóa, càng bất bình đẳng. Tương tự như đối với các hình thức khác.
Sự phân hoá XH trong giáo dục vừa là hệ quả của sự phân hoá giàu nghèo trong XH song đồng
thời nó cũng là tiền đề, là một trong 2 nguyên nhân (cùng với phân công lao động) tác động tới
phân hoá xã hội.
Giáo dục là một trog những phương thức phân hóa XH sâu sắc.Những người học ở
trường ĐH Bách Khoa thường tham gia vào các nhóm khoa học công nghệ, người tham gia
vào trường ĐH xây dựng sẽ tham gia vào các nhóm nghề xây dựng. Trình độ học vấn khác
nhau tạo những vị thế XH khác nhau như: học trường ĐH Y sẽ trở thành bác sĩ… Học sinh
(HS) trong cùng độ tuổi vừa có sự giống nhau lại vừa có sự khác nhau về khả năng tư duy,
nhân cách và hoàn cảnh gia đình, nề nếp gia đình, khả năng kinh tế, nhận thức của cha mẹ về
giáo dục, ).
Câu 2 Phân tầng xã hội là gì? Hãy vẽ một vài kiểu/mô hình phân tầng xã hội. Phân tầng
xã hội trong giáo dục được hiểu như thế nào? Hãy nêu một số chỉ báo hay đơn vị đo
lường và đánh giá sự phân tầng xã hội trong giáo dục.
Phân tầng xã hội
Phân tầng xã hội là sự phân hóa xã hội tạo thành các tầng xã hội khác nhau về vị thế xã
hội trong cấu trúc xã hội.
- Sự phân tầng xh là quá trình phân hóa xã hội với đặc trưng là tạo ra các nhóm xã hội có
vị thế trên dưới, cao thấp khác nhau về mổ hoặc một số đặc điểm, tính chất cơ bản, trong đó
3
quan trọng nhất là về kinh tế, quyền lực và uy tín xã hội ví dụ sự phân tầng xã hội tạo ra tầng
lớp thượng lưu giàu có, nắm giữ quyền lực và tầng lớp hạ lưu nghèo khổ không có quyền lực.

 Số năm đi học trung bình
 Số chi phí (chi tiêu) tính bằng tiền cho việc đến trường (chi phí giáo dục). Căn cứ vào
chi phí giáo dục có thể tính hệ số GINI để đánh giá mức độ phân hóa (mức độ bất bình
đẳng, hệ số GINI có giá trị dao động từ 0 đến 1 càng tiến đến 0 càng bình đẳng và càng
tiến đến 1 càng bất bình đẳng, càng phân hóa.
 Chỉ số phân hóa tuyệt đối = Chênh lệch tuyệt đối giữa các chỉ báo/đơn vị nêu trên: ví dụ
tỉ lệ % đi học đúng tuổi của nam – tỉ lệ % đi học đúng tuổi của nữ = phân hóa giáo dục
tuyệt đối giữa nam
 Chỉ số phân hóa tương đối = Chênh lệch tương đối được tính bằng số lần chênh lệch ví
dụ lấy tỉ lệ % đi học của nam chia cho tỉ lệ % đi học của nữ.
Câu 3 Phân loại xã hội là gì? Hãy vẽ một vài kiểu/mô hình phân loại xã hội. Phân loại xã hội
trong giáo dục được hiểu như thế nào? Hãy nêu một số chỉ báo hay đơn vị đo lường và đánh
giá sự phân loại xã hội trong giáo dục.
Phân loại xã hội là sự phân hóa xã hội tạo thành các nhóm xã hội, các loại nhóm xã hội hay các
loại xã hội khác nhau về những đặc điểm, tính chất xã hội nhất định. Ví dụ sự phân loại xã hôi
căn cứ vào sức khác nhau về loại nghề nghiệp, loại sở thích, nguyện vọng v.v. Phân loại xã hội
về mặt nghề nghiệp tạo ra các nhóm nghề nghiệp khác nhau.
Trong giáo dục, phân loại xã hội biểu hiện ở việc hình thành các nhóm học sinh sinh viên với
các nguồn gốc gia đình khác nhau, định hướng nghề nghiệp khác nhau. Chỉ báo đo lường về
phân loại là các khác biệt định tính và chỉ báo về sự phong phú đa dạng của các loại nhóm. Ví
dụ. Một lớp học có thể chỉ có hai nhóm là nhóm gia đình giàu và nhóm gia đình không giàu.
Nhưng một lớp học khác có thể có nhiều loại nhóm: nhóm nhà giàu, nhóm nhà nghèo, nhóm
công nhân, nhóm nông dân, nhóm tri thức mà mỗi nhóm này lại phân hóa thành nhiều loại
nhóm khác.
5
Câu 4:
Công bằng xã hội là gì? Công bằng xã hội trong giáo dục được hiểu như thế nào
Trả lời:
. Công bằng xã hội là sự tiếp cận và xử lí đúng đắn, không thiên vị các mối quan hệ cơ
bản giữa các cá nhân, tổ chức trong xã hội.

tàn tật, khuyết tật và đối tượng được hưởng chính sách xã hội khác thực hiện quyền và nghĩa
vụ học tập của mình.)( Điều 10 Luật GD2005)
Câu 5:
Bình đẳng xã hội là gì? Bình đẳng xã hội trong giáo dục được hiểu như thế nào? Nêu một
số chỉ báo hay đơn vị đo lường sự bình đẳng xã hội trong giáo dục.
1. Khái niệm
- Công bằng xã hội: Là sự tiếp cận và xử lý đúng đắn, không thiên vị các mối quan hệ cơ bản
giữa các cá nhân, tổ chức trong xã hội.
- Bình đẳng xã hội: Nói tới bình đẳng xã hội là nói tới sự thừa nhận và sự thiết lập các điều
kiện, các cơ hội và các quyền lợi ngang nhau cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân, các
nhóm xã hội.
→ Công bằng, bình đẳng và tự do gắn liền với quyền cơ bản của của con người.
- Bình đẳng giáo dục: Là sự bình đẳng giữa các cá nhân, các nhóm người về điều kiện, cơ hội
và quyền lợi trong giáo dục.
- Bình đẳng xã hội trong giáo dục được hiểu một cách cụ thể, rõ ràng là sự bình đẳng giáo
dục, bình đẳng về cơ hội giáo dục, bình đẳng về cơ hội học tập, bình đẳng về cơ hội đến
trường.
Yêu cầu về bình đẳng xã hội trong giáo dục
- Một là, cơ hội đầu vào giáo dục: bình đẳng về cơ hội đến trường, bình đẳng về cơ hội đầu tư
cho giáo dục. Cần tạo ra sự bình đẳng về cơ hội đến trường cho mọi nhóm xã hội từ miền xuôi
đến miền ngược, từ trẻ em bình thường đến trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.
7
- Hai là, bình đẳng về cơ hội đầu ra của giáo dục: bình đẳng về cơ hội sử dụng bằng cấp, bình
đẳng về cơ hội tìm việc làm phù hợp với trình độ đào tạo.
- Ba là, cần thực hiện nguyên tắc công bằng xã hội để từng bước tiến tới bình đẳng xã hội trong
giáo dục (phải hành động trên nền tảng công lý, pháp luật).
3. Từ góc độ xã hội học, vấn đề về bình dẳng xã hội trong giáo dục được nhìn nhận:
- Thứ nhất, vấn đề công bằng, bình đẳng và hiệu quả giáo dục không phải là vấn đề nội bộ của
ngành giáo dục mà là của xã hội.
- Thứ hai, sự công bằng và bình đẳng trong giáo dục phụ thuộc vào cách phân bổ ngân sách

không thiên vị các mối quan hệ cơ
bản (nhu cầu & hưởng thụ, nghĩa vụ
& quyền lợi, chi phí & lợi ích, đóng
góp & phần thưởng) giữa các cá
nhân, tổ chức trong xã hội.
• Được cụ thể hóa thành các nguyên
tắc ứng xử và được thể chế hóa
thành các quy định pháp luật hoặc
thành quy tắc bất thành văn.
• Công bằng xã hội theo pháp luật là
phương thức, là cơ chế để thực hiện
bình đẳng xã hội thực chất.
Bình đẳng xã hội
• Là sự thừa nhận và thiết lập các điều
kiện, các cơ hội và các quyền lợi ngang
nhau cho sự tồn tại và phát triển của các
cá nhân, các nhóm xã hội.
• Nói tới hành vi ứng xử cụ thể giữa người
với người trên từng phương diện của
cuộc sống.
Công bằng xã hội trong giáo dục
- là tạo ra sự bình đẳng về cơ hội học
tập của mọi công dân không phân biệt
tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính v.v
được nhà nước quy định trong Điều 10,
Luật Giáo dục 2005
Bình đẳng xã hội trong giáo dục
• là sự bình đẳng giữa các cá nhân, các
nhóm người về điều kiện, cơ hội và
quyền lợi trong giáo dục

ghép bằng những cây tre, mùa đông đến gió rừng làm cho lũ trẻ co ro trong lớp học, trời mưa
hoặc lúc chiều tà, lớp học tối om. Cũng là học tiểu học, nhưng chất lượng trường lớp như thế
làm sao mà bảo đảm việc học tập ở hai nơi là công bằng?
Câu 7
10
Phân tích thực trạng phân hóa xã hội và bình đẳng xã hội trong giáo dục từ tiểu học đến
đại học ở Việt Nam Việt Nam
Tiểu học phân hóa xã hội ít, tức là rất gần đến bình đẳng vì tỉ lệ đi học đúng tuổi của tiểu học là
gần 100%, chính xác là 95.5% năm 2009.
Nhưng càng lên bậc học cao thì phân hóa càng lớn tức là càng bất bình đẳng (lấy các tỉ lệ đi
học đúng tuổi để làm ví dụ).
Có thể sử dụng tỉ lệ đi học đúng tuổi của nhóm giàu và nhóm nghèo của từng cấp bậc học học
để chứng minh rằng càng lên bậc học cao càng phân hóa, càng bất bình đẳng
Phân hóa xã hội trong giáo dục là quá trình hình thành các nhóm xã hội khác nhau về
một hoặc 1 số đặc điểm, tính chất giáo dục.
Cơ chế và các yếu tố tác động tới sự phân hóa xã hội:
• Sự phân hóa xã hội diễn ra trong những điều kiện xã hội cụ thể:
Ví dụ: Ở thời kỳ những năm 90 của TK 20, chưa xuất hiện mạng internet và máy tính tại
Việt Nam, vì vậy mà ở các lớp học chủ yếu là học chay. Tuy nhiên, khi internet được truyền
vào VN thì tại các lớp học xuất hiện nhiều phương tiện công nghệ hiện đại: như máy chiếu,
máy tính…hỗ trợ cho công việc học tập.
- Sự phân hóa xã hội diễn ra một cách tất yếu theo quy luật. Quy luật tự nhiên và quy
luật xã hội.
Ví dụ: Theo quy luật tự nhiên, các cá nhân sinh ra, lớn lên và tham gia vào các nhóm xã
hội khác nhau tương ứng với đặc điểm dân tộc, tuổi, giới tính. Theo quy luật xã hội, trẻ
em 6 tuổi thì vào lớp 1, mỗi năm lên một lớp…
- Sự phân hóa xã hội chịu tác động của sự phân công lao động trong xã hội: Do làm
những công việc khác nhau, chuyên môn hóa khác nhau nên xuất hiện các nhóm nghề khác
nhau. Trình độ học vấn khác nhau cũng tạo ra những nhóm xã hội khác nhau như nhóm những
người lao động chân tay, nhóm những người lao động trí óc…

Nữ 95.4 83.9 60.6 7.4 10.1
Khoảng cách bất bình đẳng trong giáo dục giữa thành thị và nông thôn, giữa nhóm giàu
và nhóm nghèo cũng được thu hẹp đặc biết ở những cấp học phổ thông.
Nhóm Tiểu học THCS THPT Cao đẳng Đại học
Giàu 97.5 89.6 64.6 8.6 10.6
Nghèo 95.3 78.7 44.2 1.8 1.0
Thành thị 97.22 88.8 68.4 12.9 23.3
Nông thôn 94.9 80.6 52.8 3.7 3.0
Số liệu (màu đỏ) có chính xác không?
Luật Phổ cập giáo dục tiểu học ở VN ban hành đáp ứng nhu cầu học tập của đại đa số
các thành viên trong xã hội. Hiện nay khoảng trên 95,5% trẻ em qua tuổi tiểu học đã hoàn
thành CT tiểu học.
Mới đây nhất, Luật Người khuyết tật (được Quốc hội nước CHXHCN VN thông qua
ngày 17/6/2010 - Chương IV Điều 27, 28, 29, 30) cũng đem lại bình đẳng trong giáo dục cho
những con người không được lành lặn (về thể xác, trí tuệ, tinh thần). Họ được học tập với
phương thức giáo dục chuyên biệt, được hướng nghiệp để hòa nhập cộng đồng.
Một số thiết chế giáo dục mang tính pháp luật, một số quy tắc bất thành văn thể hiện
dưới hình thức những hệ giá trị, chuẩn mực truyền thống đề cao việc học tập, coi trọng người
học, tạo cho họ có ý thức hứng thú học tập, thực hiện nghiêm túc việc học, từ đó thúc đẩy sự
phát triển bình đẳng trong giáo dục ở các nhà trường.
Câu 8
Kể tên các hình thức Bất bình đẳng xã hội trong giáo dục. Phân tích một hình thức biểu
hiện rõ nhất tình trạng bất bình đẳng xã hội trong giáo dục Việt Nam hiện nay.
Cần sử dụng các số liệu năm 2009 (đã nêu trong 2 bảng số liệu ở trên) để chỉ ra rằng phân hóa
xã hội hay bất bình đảng xã hội giữa nhóm giàu và nhóm nghèo ở bậc đại học là rõ nhất,
nghiêm trọng nhất.
Các hình thức bất bình đẳng xã hội trong giáo dục và phân tích
• Bất bình đẳng giới trong giáo dục: Tỉ lệ nhập học ở các nước nghèo đang tăng, nhưng
13
tỉ lệ nam đi học vẫn cao hơn nữ. Ví dụ theo kết quả điều tra chọn mẫu 1997-1998 tỉ lệ

từ nhóm 20% gia đình giàu nhất.(Nguồn: Ngân hàng thế giới .Những ưu tiên và chiến lược cho
giáo dục. Hà nội. 1997. Tr. 49)
• Bất bình đẳng giữa các dân tộc:
Ví dụ:
1/ Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 13% tổng số dân Việt Nam, nhưng sinh viên người dân tộc
thiểu số chỉ chiếm khoảng 4 % trong tổng số hơn một triệu sinh viên đại hoc.
2/ Báo cáo của các Sở giáo dục của 5 tỉnh miền núi là Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên
và Sơn La cho biết tỉ lệ học sinh người dân tộc chiếm gần 54% trong tổng số học sinh THPT
của 5 tỉnh này, nhưng đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 80% tổng số dân ( Nguồn: Ban khoa
giáo trung ương. Công tác khoa giáo vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hà Nội. 2006. Tr. 38.).
Ngoài tỉ lệ đi học, bất bình đẳng xã hội trong giáo dục nhà trường còn thể hiện:
- Đầu tư, quan niệm của xã hội ( vùng, miền ).
- Chất lượng đội ngũ giáo viên.
- Các hoạt động ngoại khóa, TDTT…
Phân tích một hình thức biểu hiện rõ nhất tình trạng bất bình đẳng xã hội trong giáo dục
Việt Nam hiện nay.
Lưu ý: đó là bất bình đẳng giữa nhóm giàu và nhóm nghèo về cơ hội/tỉ lệ đi học
đúng tuổi bậc đại học ở Việt Nam.
Quan niệm phân biệt “trò giỏi – trò dốt”, “thông minh – tối dạ” đã trở thành một nếp nghĩ hằn
sâu trong tư duy mọi người, từ các nhà giáo, nhà quản lý giáo dục cho đến phụ huynh học sinh.
Từ nếp nghĩ này mới sinh ra những mô hình như trường chuyên, lớp chọn, lớp “chất
lượng cao” …Những học sinh lớp chọn, trường chuyên, lớp chất lượng cao được học chương
trình nâng cao với những nhà giáo giỏi nhất, trong điều kiện cơ sở vật chất tốt hơn nhiều so với
các trường, lớp “đại trà”. Vì vậy, các bậc phụ huynh thường tìm mọi cách (kể cả “chạy chọt”)
để con em mình được vào trường chuyên, lớp chọn.
Ngay trong một lớp “đại trà”, các giáo viên cũng có sự phân biệt, đánh giá học sinh theo
mức độ “giỏi – dốt”. Không ít giáo viên chỉ chú ý đến những học sinh giỏi, chú trọng kèm cặp,
bồi dưỡng những học sinh này để đi thi học sinh giỏi, thi đại học…mà ít quan tâm đến những
15
học sinh mà họ cho là “dốt”.

2.Quan điểm thứ 2: Giáo dục là công cụ sàng lọc của xã hội nên nó góp phần củng cố, duy
trì cấu trúc phân tầng bất bình đẳng trong xã hội.
- Thông qua thi tuyển sinh, các trường phân loại trình độ học sinh và thường xếp các em
có kết quả cao vào các lớp có nội dung và phương pháp dạy học tốt hơn so với các em học sinh
còn lại, việc làm này tạo nên sự bất bình đẳng xã hội ngay trong quá trình các em học tại
trường; sự sàng lọc, phân biệt đối xử này theo đuổi suốt quá trình giáo dục từ tiểu học lên đến
đại học, sau đại học và nó dẫn tới sự phân tầng bất bình đẳng xã hội về nghề nghiệp, thu nhập,
vị thế xã hội của học sinh sau khi ra trường.
- Với chức năng sàng lọc của giáo dục, tạo ra các trường chất lượng cao, các lớp chất
lượng cao trong các nhà trường, học sinh trong các trường này, các lớp này được hết sức quan
tâm và được tạo điều kiện học tập tốt nhất có thể; do đó nhiều gia đình giàu có hoặc có địa vị
xã hội đã tìm mọi cách cho con cái họ được vào học trong các trường này, lớp này, gây nên các
tiêu cực và sự bất bình đẳng xã hội trong giáo dục.
3. Liên hệ thực tế ở Việt Nam ( vấn đề Phân ban, Phân luồng trong giáo dục của nước ta
hiện nay).
- Nước ta trong giai đoạn vừa qua đã tiến hành thí điểm và thực hiện mô hình Phân ban
trung học phổ thông:
+ Năm 1992 đến 1998 tiến hành thí điểm Phân ban THPT với 3 ban: Ban Khoa học tự
nhiên (ban A), Ban Khoa học tự nhiên – kỹ thuật (ban B), Ban Khoa học xã hội (ban C) (Năm
1998 Thủ Tướng CP ra chỉ số 30 thị dừng CTTĐPB, quay lại CTCCGD)
+ Năm 2003 – 2004 tiến hành thí điểm Phân ban THPT mới với 2 ban: KHTN(ban A),
KHXH (ban C). Năm 2005 Bộ GD&ĐT đề nghị điều chỉnh mô hình PB, bổ sung thêm ban cơ
bản.
+ Từ năm 2006 đến nay tiếp tục thực hiện mô hình THPT Phân ban với 3 ban: ban cơ
bản, ban khoa học tự nhiên, ban khoa học xã hội và nhân văn (thực tế hiện nay đa số học sinh
chọn học ban cơ bản).
- Sự phân ban, phân luồng trong giáo dục sẽ không tạo ra sự bất bình đẳng xã hội nếu
17
như nền giáo dục đại học đã được phổ cập, ai có nhu cầu được đi học đại học đều được đáp
ứng và có nhiều hình thức học đại học khác nhau để mọi người lựa chọn phù hợp với điều kiện

- Quan hệ:
+ Thúc đẩy:
- Xóa đói giảm nghèo tạo cơ hội cho giáo dục
- Chính sách cho tổ chức, cá nhân phát triển, đầu tư vào GD
- Nhà nước đầu tư vốn cho GD
- Doanh nghiệp đầu tư đào tạo nghề cho chính doanh nghiệp
+ Kìm hãm:
- Người nghèo không đủ chi cho các chi phí học tập
- Người thu nhập khá muốn con học trường công để đỡ tốm kém
- Người giàu muốn con đi du học.
- Các trường chỉ đầu tư đào tạo các ngành có lãi cao.
- Vốn đầu tư dàn trải, không đạt được mục tiêu.
* Liên hệ thực tế VN:
- Doanh nghiệp bỏ tiền đầu tư cho những chương trình đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn với cán bộ
và nhân viên của mình: Nhiều doanh nghiệp đầu tư tiền, liên kết với các trường đại học đào tạo
nghiệp vụ cho cán bộ nhân viên của mình, tuy nhiên sự đầu tư này mới chỉ dừng lại ở việc thuê
các giảng viên, chuyên gia ở các trường về doanh nghiệp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
chứ chưa có sự liên kết sâu sắc với các trường.
- Sự phát triển nền kinh tế dẫn đến nhiều ngành mới ra đời, dần trở nên hot, các trường đua
nhau đào tạo những ngành đó, mở ra nhiều cơ hội học tập và việc làm hơn cho mọi người: ví
dụ vài năm trước các trường đua nhau đào tạo ngành công nghệ thông tin rồi kế toán… và xu
hướng hiện nay là các ngành về tài nguyên và môi trường.
Câu 11.
Thiết chế văn hoá có ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng phân hóa và bình đẳng
xã hội trong giáo dục. Liên hệ thực tế ở Việt Nam?
Trả lời:
19
Thiết chế văn hóa là gì?
Thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong ngành VH Việt nam từ những năm bẩy mươi TK 20.
TCVH là chỉnh thể Vh hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vc,bộ máy tổ chức, nhân sự, qui chế hoạt

bốn cột trụ của giáo dục đó là: học để biết, học để làm, học để tồn tại và học để cùng
chung sống. Chỉ cần vận dụng tốt bốn trụ cột này, cho mọi nội dung giáo dục trong cả
quá trình giáo dục đều có thể đạt chất lượng khả quan, tạo cơ hội cho công tác giáo dục
phụ nữ nhằm nâng cao địa vị và cơ hội phát triển của họ.
• - Cần vận dụng linh hoạt các chính sách hỗ trợ giáo dục cho học sinh, sinh viên đặc biệt
là sinh viên nghèo học giỏi giúp họ phát triển năng lực cá nhân, tạo cơ hội về việc làm
để họ có thể cống hiến cho XH.Thực hiện tốt công tác GD giới và bình đẳng giới trong
XH.
• - Áp dụng qui luật kinh tế thị trường vào việc giải quyết những vấn đề chi phí và lợi ích
giáo dục, tùy theo các bậc giáo dục mà nhà trường cung cấp các loại hình giáo dục: dịch
vụ học tập, dịch vụ nghiên cứu, dịch vụ phát triển trí tuệ phù hợp với các nhóm XH và
đặc điểm kinh tế, VH vùng miền.
• Để triển khai tốt việc xây dựng và phát triển hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở cần có sự
quan tâm sâu sắc của lãnh đạo các cấp ở địa phương, có thể coi đó là yếu tố quyết định.
Hiện nay còn một số địa phương chưa nghiêm túc triển khai tổ chức thực hiện Quy
hoạch thiết chế văn hóa cơ sở, chưa nhận thức đúng về vị trí, vai trò của văn hóa, mối
quan hệ gắn bó giữa kinh tế, văn hóa và chính trị, chưa coi phát triển văn hóa là trách
nhiệm của hệ thống chính trị và toàn xã hội. Sự quan tâm ấy phải được thể hiện bằng
chương trình hành động cụ thể như quy hoạch đất đai, đầu tư kinh phí để xây dựng thiết
chế văn hóa. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa ra giải pháp về nguồn kinh phí xây
dựng hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở trước hết sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư
của Nhà nước thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia. Bên cạnh đó, thực hiện tốt
công tác xã hội hóa văn hóa, thực hiện cơ chế "Nhà nước và nhân dân cùng làm" đối với
thiết chế văn hóa,
• Tất cả những giải pháp nêu trên đều nhằm phát huy hiệu quả hoạt động của thiết chế văn
hóa. Đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở có trình độ chuyên môn nghiệp vụ lại năng động,
21
sáng tạo chắc chắn sẽ sử dụng tốt cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động thu hút đông đảo
mọi tầng lớp nhân dân sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đưa đời sống văn hóa ở các địa
phương không ngừng phát triển.

Luật Giáo dục (có hiệu lực 1/1/2006 và hiện còn đang sửa đổi), Luật Chăm sóc, bảo vệ và
giáo dục trẻ em (có hiệu lực 1/1/2005) mang lại quyền bình đẳng trong giáo dục cho toàn bộ
mọi người dù ở bất kì hoàn cảnh nào, lứa tuổi nào, giới tính nào, địa phương nào.
Tỉ lệ nhập học đúng tuổi (theo Nguồn Tổng cục thống kê. Giáo dục Việt Nam: Phân tích
các chỉ số chủ yếu.2011. Biểu 4.2) cho thấy Luật Giáo dục đã thúc đẩy một cách mạnh mẽ sự
bình đẳng giới trong giáo dục. Tỉ lệ nữ giới nhập học đúng độ tuổi ở các cấp học luôn cao hơn
so với nam giới (mặc dù xu thế trọng nam khinh nữ trong xã hội hiện nay đang có nguy cơ
quay trở lại, tỉ lệ sinh nữ/nam là 100/105)
Đặc điểm Tiểu học THCS THPT Cao đẳng Đại học
Nam 95.5 81.4 53.1 6.0 9.1
Nữ 95.4 83.9 60.6 7.4 10.1
Khoảng cách bất bình đẳng trong giáo dục giữa thành thị và nông thôn, giữa nhóm giàu
và nhóm nghèo cũng được thu hẹp đặc biết ở những cấp học phổ thông.
Nhóm Tiểu học THCS THPT Cao đẳng Đại học
Giàu 97.5 89.6 64.6 8.6 10.6
Nghèo 95.3 78.7 44.2 1.8 1.0
Thành thị 97.22 88.8 68.4 12.9 23.3
Nông thôn 94.9 80.6 52.8 3.7 3.0
Luật Phổ cập giáo dục tiểu học ở VN ban hành đáp ứng nhu cầu học tập của đại đa số
các thành viên trong xã hội. Hiện nay khoảng trên 95,5% trẻ em qua tuổi tiểu học đã hoàn
thành CT tiểu học.
Mới đây nhất, Luật Người khuyết tật (được Quốc hội nước CHXHCN VN thông qua
ngày 17/6/2010 - Chương IV Điều 27, 28, 29, 30) cũng đem lại bình đẳng trong giáo dục cho
những con người không được lành lặn (về thể xác, trí tuệ, tinh thần). Họ được học tập với
phương thức giáo dục chuyên biệt, được hướng nghiệp để hòa nhập cộng đồng.
Một số thiết chế giáo dục mang tính pháp luật, một số quy tắc bất thành văn thể hiện
dưới hình thức những hệ giá trị, chuẩn mực truyền thống đề cao việc học tập, coi trọng người
học, tạo cho họ có ý thức hứng thú học tập, thực hiện nghiêm túc việc học, từ đó thúc đẩy sự
phát triển bình đẳng trong giáo dục ở các nhà trường.
23

về cơ hội học tập.
Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học
hành.” (Luật giáo dục 2005)
Bình đẳng giáo dục: là sự bình đẳng giữa các cá nhân, các nhóm người về điều kiện, cơ
hội và quyền lợi trong giáo dục.
Việt nam là một quốc gia có quy mô dân số lớn, tốc độ phát triển dân số ngày càng nhanh.
* Về Cơ cấu dân số ở nước ta không hợp lí cả về giới tính, nhóm tuổi, giữa thành thị và
nông thôn. Nhu cầu học tập của nhóm dân cư cao nên mất cân bằng cung cầu ở bậc giáo dục
cao.
+ Về Cơ cấu giới tính : Cân bằng, ổn định, là điều kiện thuận lợi có các biện pháp nâng
cao bình đẳng giới trong giáo dục. Như nâng cao tỷ lệ nữ tiếp tục học THPT, các trường CĐ,
ĐH, GDCN
* Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi cũng có những khác biệt lớn. Cơ cấu dân số trẻ, viên nhu
cầu giáo dục nước ta là lớn, gây tình trạng lớp có quá nhiều học sinh và thiếu giáo viên.Do
mức sinh cao nên cơ cấu dân số trẻ, tháp tuổi dân số có đáy mở rộng. Do đó quy mô của nền
giáo dục tương ứng với dân số này có số học sinh cấp 1 lớn hơn cấp 2, lớn hơn cấp 3.
Phân bố địa lý dân số : Phân bố không đồng đều giữa thành thị và nông thôn. Thành thị
và các vùng đông dân kinh tế thường phát triển hơn, nên trẻ em có nhiều cơ hội được đến
trường hơn những vùng kém phát triển dân cư thưa thớt. Ngoài ra do điều kiện kinh tế chưa có
nên nước ta chưa quan tâm đúng mức đến sự phát triển giáo dục ở các vùng hẻo lánh và nhiều
giáo viên không muốn làm việc ở vùng này. Mật độ dân số ở các khu vực thành thị quá lớn nên
ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng giáo dục. Mật độ dân số quá lớn, số trẻ em đến tuổi đi
học cao gây quá tải đến hệ thống giáo dục.
* Cơ cấu dân sô nhiều thành phần dân tộc
Có 54 dân tộc khác nhau (Kinh : 87%, còn lai : 13%). Bất bình đẳng về cơ hội giáo dục giữa
các dân tộc : Làm sao thu hút được học sinh người dân tộc thiểu số vào các trường phổ thông
mà vẫ đảm bảo trình độ và chất lượng dạy học ?
* Sinh và Tử : Là 2 quá trình trái ngược nhau nhưng liên quan mật thiết tới giáo dục
Trình độ học vấn của cha mẹ thấp , sinh con nhiều , Trình độ học vấn cao, sinh con ít,
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status