ĐỀ CƯƠNG PHÂN HÓA VÀ BÌNH ĐẲNG TRONG GIÁO DỤC
Câu 1. Phân tích khái niệm phân hóa xã hội. Phân hóa xã hội và phân tầng xã
hội ?
1. Phân hóa xã hội
- Phân hóa xã hội là quá trình hình thành các nhóm xã hội khác nhau về một
hoặc một số đặc điểm, tính chất xã hội nhất định
- Sự phân hóa xã hội có thể dẫn đến sự hình thành các nhóm xã hội khác
nhau, mâu thuẫn nhau thậm chí đối lập nhau. Khi sự phân hóa xã hội tạo thành
hai nhóm xã hội đối lập nhau thì được gọi là sự phân cực xã hội
Ví dụ:
Về kinh tế: Sự phân hóa xã hội tạo ra 2 nhóm đối lập nhau là nhóm giàu và
nhóm nghèo, tương ứng là nhóm học sinh con nhà giàu và nhóm học sinh con nhà
nghèo.
Về giáo dục: sự phân hóa xã hội tạo thành nhóm học sinh giỏi và nhóm học
sinh kém.
- có những sự phân hóa xã hội tạo ra sự phong phú, đa dạng của các nhóm xã
hội. ví dụ như: sự phân hóa về nghề nghiệp.
- có sự phân hóa xã hội tạo ra sự phân tầng xã hội và thậm chí là sự bất bình
đẳng xẫ hội sâu sắc. ví dụ như: sự phân hóa về giai cấp (tư sản và vô sản), sự
phân hóa về tầng lớp (giàu, nghèo)
* cơ chế và các yếu tố tác động tới sự phân hóa xã hội
Cơ chế:
- sự phân hóa xã hội diễn ra trong những điều kiện xã hội cụ thể. Vd: trong
xã hội nông nghiệp thì mới xuất hiện giai tầng nông dân, địa chủ. Trong xã hội
hiện nay thì mới xuất hiện những người làm nghề về máy tính
- Sự phân hóa xã hội diễn ra theo quy luật: quy luật tự nhiên và quy luật xã
hội.
1
VD: theo quy luật tự nhiên, con người lớn lên và tham gia vào các nhóm xã
hội khác nhau tùy theo đặc điểm về lứa tuổi, tâm sinh lí. (hội người cao tuổi, đoàn
thanh niên )
nhân mà người đó có cơ hội thăng tiến nhiều hay ít…
- giáo dục và đào tạo: giúp cá nhân hình thành và phát triển những phẩm
chất, năng lực cần thiết. đây là con đường nhanh nhất và hiệu quả nhất để mỗi cá
nhân lĩnh hội được các kinh nghiệm và tri thức nghề nghiệp để thăng tiến
- cơ may xã hội: VD: Sinh viên tốt nghiệp đúng ngành nghề mà xã hội đang
cần thì cơ hội việc làm rất cao.
Câu 2: Phân hoá XH trong GD là gì ?
Trả lời:
Phân hoá XH trong GD là: quá trình hình thành các nhóm học sinh (sinh
viên, học viên…), các nhóm nghề nghiệp, trình độ khác nhau trong giáo dục.
Ví dụ như: phân hoá XH trong GD tạo thành các nhóm học sinh:
- Nhóm học sinh con nhà giàu và nhóm học sinh con nhà nghèo.
- Nhóm học sinh học giỏi, học khá và nhóm học sinh học yếu.
- Nhóm học sinh có sở trường, năng khiếu về các môn khoa học TN, XH,
VH, VN - TD - TT
- Nhóm học sinh theo độ tuổi.
- Nhóm học sinh học nghề và nhóm học sinh học văn hoá….
Hay phân hoá XH trong GD còn tạo ra các nhóm nghề nghiệp khác nhau như:
- Các nhà thơ, nhà văn.
- Các nhà khoa học (TN hoặc XH)
- Gíáo viên, bác sĩ, kĩ sư, doanh nhân…
Rồi sự phân hoá này còn hình thành các nhóm với trình độ học vân khác nhau
như trung cấp, cao đẳng, đại học…
Sự phân hoá XH trong giáo dục vừa là hệ quả của sự phân hoá giàu nghèo
trong XH song đồng thời nó cũng là tiền đề, là một trong 2 nguyên nhân (cùng
với phân công lao động) tác động tới phân hoá xã hội.
3
Giáo dục là một trog những phương thức phân hóa XH sâu sắc.Những
người học ở trường ĐH Bách Khoa thường tham gia vào các nhóm khoa học công
nghệ, người tham gia vào trường ĐH xây dựng sẽ tham gia vào các nhóm nghề
hoàn cảnh khó khăn.
- Hai là, bình đẳng về cơ hội đầu ra của giáo dục: bình đẳng về cơ hội sử dụng
bằng cấp, bình đẳng về cơ hội tìm việc làm phù hợp với trình độ đào tạo.
- Ba là, cần thực hiện nguyên tắc công bằng xã hội để từng bước tiến tới bình
đẳng xã hội trong giáo dục (phải hành động trên nền tảng công lý, pháp luật).
3. Từ góc độ xã hội học, vấn đề về bình dẳng xã hội trong giáo dục được nhìn
nhận:
- Thứ nhất, vấn đề công bằng, bình đẳng và hiệu quả giáo dục không phải là vấn
đề nội bộ của ngành giáo dục mà là của xã hội.
- Thứ hai, sự công bằng và bình đẳng trong giáo dục phụ thuộc vào cách phân bổ
ngân sách của nhà nước và quy mô, cơ cấu phát triển giáo dục tiểu học, trung học
và đại học.
- Thứ ba, là trình độ phát triển kinh tế xã hội: cần thực hiện công bằng ngay cả
khi kinh tế chậm phát triển. Bởi vì bình đẳng xã hội trong giáo dục vừa là mục
tiêu vừa là con đường phát triển con người , phát triển xã hội.
→ Nếu muốn trình bày cụ thể hơn, các bạn đọc tại Tài liệu Xã hội học giáo dục –
Trang 185 đến 218
Câu 4: Công bằng xã hội là gì? Cần hiểu công bằng xã hội trong giáo
dục như thế nào?
Trả lời:
. Công bằng xã hội là sự tiếp cận và xử lí đúng đắn, không thiên vị các mối
quan hệ cơ bản giữa các cá nhân, tổ chức trong xã hội.
Công bằng xã hội theo pháp luật không phải là mục đích tự thân mà là
phương thức, là cơ chế để thực hiện bình đẳng xã hội thực chất.
. Công bằng xã hội trong giáo dục:
5
Mọi công dân đều có quyền tiếp cận các cơ hội học tập theo quy định của
Luật giáo dục.
Công bằng giáo dục mà mục tiêu cuối cùng là thực hiện nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, phát triển kinh tế xã hội, bảo tồn sự đa dạng của nền văn hóa
GD2005)
Câu 5:
Phân tích mối quan hệ giữa công bằng xã hội và bình đẳng xã hội trong giáo
dục.
Công bằng xã hội (Tr.194-195)
− là sự tiếp cận và xử lý đúng đắn ,
không thiên vị các mối quan hệ cơ
bản (nhu cầu & hưởng thụ, nghĩa vụ
& quyền lợi, chi phí & lợi ích, đóng
góp & phần thưởng) giữa các cá
nhân, tổ chức trong xã hội.
− được cụ thể hóa thành các nguyên
tắc ứng xử và được thể chế hóa
thành các quy định pháp luật hoặc
thành quy tắc bất thành văn.
− Công bằng xã hội theo pháp luật là
phương thức, là cơ chế để thực hiện
bình đẳng xã hội thực chất.
Bình đẳng xã hội (Tr. 195 - 196)
− là sự thừa nhận và thiết lập các điều
kiện, các cơ hội và các quyền lợi ngang
nhau cho sự tồn tại và phát triển của các
cá nhân, các nhóm xã hội.
− nói tới hành vi ứng xử cụ thể giữa người
với người trên từng phương diện của
cuộc sống.
Bình đẳng giáo dục (Tr.199-200, 267-268)
Công bằng xã hội trong giáo dục
(Tr.199-200)
- là tạo ra sự bình đẳng về cơ hội học
cho mọi người. Thông qua cơ hội công bằng, giáo dục kích thích nỗ lực vươn lên
của mọi cá nhân, thúc đẩy sự ưu tú, tài năng, sự sáng tạo, nhờ đó tạo ra tiến bộ và
phát triển xã hội.
Ví dụ sự bình đẳng về cơ hội đến trường: trẻ em ở miền núi, miền xuôi khi đủ 6
tuổi đều có thể đi học tiểu học. Công bằng về giáo dục luôn đòi hỏi sự công bằng
về điều kiện học tập. Một phường trong thành phố lớn có ít nhất một trường tiểu
học; một xã vùng cao hiện nay cũng có trường tiểu học. Nếu nhìn vào con số
thống kê này, người ta có thể cho rằng, giữa miền núi với vùng đô thị đã có sự
8
công bằng về giáo dục tiểu học. Thực ra vẫn rất bất công bằng khi trường tiểu học
ở thành phố được xây dựng kiên cố, có đủ điện chiếu sáng trong từng lớp học, có
bàn ghế học sinh đóng đúng quy cách, có máy tính cho học sinh sử dụng ngay khi
vào lớp 1, v.v. còn trường ở vùng cao được bao bọc bằng những tấm phên đan
bằng tre hoặc nứa, ghế học sinh ghép bằng những cây tre, mùa đông đến gió rừng
làm cho lũ trẻ co ro trong lớp học, trời mưa hoặc lúc chiều tà, lớp học tối om.
Cũng là học tiểu học, nhưng chất lượng trường lớp như thế làm sao mà bảo đảm
việc học tập ở hai nơi là công bằng?
Câu hỏi 6: Căn cứ vào “tỉ lệ đi học đúng tuổi” tiểu học, trung học cơ sở, trung
học phổ thông, cao đẳng, đại học của Việt Nam trong thời gian vừa qua, hãy phân
tích thực trạng phân hóa xã hội và bất bình đẳng xã hội trong giáo dục?
Bài làm:
Phân hóa xã hội: Phân hóa xã hội là quá trình hình thành các nhóm xã hội khác
nhau về một hoặc một số đặc điểm, tính chất xã hội nhất định.
Thực trạng phân hóa xã hội
Ở Việt Nam thời gian qua “tỉ lệ đi học đúng tuổi” tiểu học, trung học cơ sở,
trung học phổ thông, cao đẳng, đại học đã hình thành các nhóm xã hội khác nhau,
mâu thuẫn nhau, thậm chí đối lập nhau. Từ đó có thể tạo ra những nhóm xã hội
khác nhau về trình độ, về nghề nghiệp. Với các trình độ và khả năng khác nhau sẽ
có hàng trăm ngành nghề khác nhau, trong trường hợp này sự phân hóa xã hội
dẫn đến sự phong phú, đa dạng của các nhóm xã hội, các cộng đồng xã hội.
kinh tế - xã hội và thành thị/nông thôn vẫn còn khoảng cách kha lớn giữa nam và
nữ, đặc biệt ở hai vung Trung du và miền núi pháa Bắc và Tây Nguyên, tỷ lệ nữ
giới từ 15 tuổi trở lên chưa biết đọc biết viết của nông thôn năm 2009 còn tương
đương (thậm chí còn cao hơn) so với tỷ lệ này ở nam giới nông thôn 20 năm
trước. Các tỉnh phía Nam có tỷ lệ dân số bỏ học trong độ tuổi 5-18 cao hơn nhiều
so với các tỉnh phía Bắc, cao nhất là ở các tỉnh Bình Dương (30,8%), Bạc Liêu
(26,2%), An Giang (25,9%) và Sóc Trăng (25,8%). Bên cạnh đó, Đồng bằng sông
Cửu Long là nơi có các tỷ lệ như: tỷ lệ tốt nghiệp THPT trở lên, tỷ lệ được đào
10
tạo nghề, tỷ lệ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng trở lên ở mức thấp nhất cả nước. (Tổng
điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009).
- Bất bình đẳng giữa nhóm giàu và nhóm nghèo
Tỉ lệ đi học ở trẻ em xuất thân từ nhóm gia đình nhà nghèo luôn thấp hơn tỉ
lệ đi học ở trẻ em xuất thân từ nhóm gia đình nhà giàu, thể hiện rõ nhất ở giáo
dục đại học.
- Bất bình đẳng giữa các dân tộc
+ Tỷ lệ đi học của người Kinh luôn cao hơn các dân tộc thiểu số.
+ Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 13% tổng dân số Việt Nam nhưng sinh
viên người dân tộc thiểu số chỉ chiếm khoảng 4% trong tổng số hơn một triệu
sinh viên đại học. [3. Tr.205]
+ Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với tình trạng học vấn của các dân tộc ít
người vẫn còn ở mức thấp. Các chương trình can thiệp ưu tien cao cho nhóm dân
số này sẽ giúp cải thiện được tình hình. Trước mắt, những nỗ lực giáo dục cần
hướng tới việc tăng tỷ lệ nhập học đúng tuổi va phổ cập tiểu học cho các nhóm
dân tộc ít người, đặc biệt chú trọng đến nhóm dân tộc Thái, Khmer va Mông là
những nhóm có tỷ lệ nhập học bậc tiểu học ở mức thấp
11
Bảng Tỉ lệ đi học đúng tuổi
Tỷ lệ đi học đúng tuổi các cấp (%)
Tỷ lệ đi học đúng tuổi các cấp (%) năm 2008 theo vùng
Năm
sinh
1998-
2004
Dân số
từ
12-15
tuổi
Năm
sinh
1994-
1997
Dân số
từ
16-18
tuổi
Năm
sinh
1991-
1993
Cả nước 6626642
627545
5
634383
1
496751
9
543688
0 2909938
1. Trung du miền núi phía
đúng tuổi
Thành
thị
Nông
thôn
Thành
thị
Nông
thôn
Tiểu học: 6-10 tuổi 89.7 89.1 89.2 88.1
Trung học cơ sở: 11-14
tuổi 82.9 77.8 82.6 77.1
Trung học phổ thông:
15-17 tuổi 66.5 50.6 66.4 50.6
2006 2008
Cấp học phổ thông
đúng tuổi Nam Nữ Nam Nữ
Tiểu học: 6-10 tuổi 89.3 89.2 88.7 87.9
Trung học cơ sở: 11-
14 tuổi 78.4 79.3 77.3 79.5
Trung học phổ
thông: 15-17 tuổi 51.6 56.6 50.3
58.
5
Dân số trong độ tuổi 15 - 21 đang đi học của các vùng kinh tế - xã hội
chia theo bậc học dạy nghề/chuyên nghiệp cao nhất đạt được năm 2009 Đơn vị: người
14
Dân số 15-21 tuổi Trình độ
Tổng số Đang đi học Sơ cấp Trung cấp Cao đẳng Đại học
Cả nước 12378716 1628930 14087 375466 501023 738354
4. Tây Nguyên 5282000 49929 94.5
5. Đông Nam Bộ
1489080
0 606786 407.5
6. Đồng bằng sông Cửu Long
1733090
0 144017 83.1
17
18
Câu 7
PHÂN HÓA XÃ HỘI VÀ BÌNH ĐẲNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC
1. Phân biệt tỉ lệ bỏ học của học sinh với tỉ lệ không đến trường đúng độ tuổi.
Phân tích tầm quan trọng của việc phải làm rõ hai khái niệm này?
1.1. Phân biệt các khái niệm
• Tỷ lệ bỏ học của học sinh là tỷ số giữa : số lượng học sinh được đi học
nhưng vì lý do nào đó không đi học nữa trên tổng số học sinh đang đi học
• Tỷ lệ học sinh không đến trường đúng độ tuổi là tỷ số giữa: số học sinh
đúng độ tuổi không được đến trường trên tổng số học sinh đúng độ tuổi
được đến trường
1.2. Phải làm rõ hai khái niệm nhằm:
- Tìm ra các nguyên nhân gây ra tỷ lệ bỏ học của học sinh và Tỷ lệ học sinh
không đến trường đúng độ tuổi .
+Bất bình đẳng giới trong giáo dục: Với định kiến của cha mẹ cho
rằng các em nữ không cần phải học nhiều mà cần học nội trợ trong gia đình là
đủ. Điều này dẫn đến các em gái đúng độ tuổi đi học phải ở nhà không được đi
học.Gắn liền với nguyên nhân này là tình trạng đói nghèo của gia đình và trình
độ học vấn thấp của cha mẹ ( phổ biến ở các vùng dân tộc)
+Bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn
` +Bất bình đẳng giữa nhóm giàu và nhóm nghèo
+ Bất bình đẳng giữa các dân tộc.)
như tuổi, giới tính, dân tộc.
2.Bình đẳng xã hội
2.1Khái niệm bình đẳng xã hội
Bình đẳng xã hội là nói tới sự thừa nhận và sự thiết lập các điều kiện, các cơ hội
và các quyền lợi ngang nhaucho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân các nhóm
xã hội.
2.1Khái niệm bình đẳng xã hội trong giáo dục
20
Bình đẳng giáo dục là sự bình đẳng giữa các cá nhân, các nhóm người về điều
kiện, cơ hội và quyền lợi trong giáo dục.
2.3 Một số hình thức bất bình đẳng xã hội trong giáo dục và nguyên nhân.
2.3.1 Một số hình thức bất bình đẳng xã hội trong giáo dục
* Bất bình đẳng giới trong giáo dục.
Nguyên nhân:- Định kiến của cha mẹ biểu hiện ở quan niệm cho rằng các em gái
không cần phải đi học nhiều.( Tư tưởng trọng nam khinh nữ)
- Tình trạng đói nghèo
- Trình độ học vấn của cha mẹ thấp.
* Bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn
* Bất bình đẳng giữa nhóm giàu và nhóm nghèo
* Bất bình đẳng giữa các dân tộc
2.3.2 Nguyên nhân của bất bình đẳng xã hội trong giáo dục
- Điều kiện tự nhiên ( vị trí địa lý)và cơ sở hạ tầng
- Bất bình đẳng về kinh tế và nhận thức không đồng đều giữa các nhóm xã hội.
- Bất bình đẳng giữa các vùng miền, giữa các gia đình và môi trường sinh
sống
- Sự phân bổ giữa các nguồn đầu tư cho giáo dục.
Câu 9. Chức năng sàng lọc của giáo dục là gì? Liên hệ với vấn đề bất bình đẳng
giáo dục? Liên hệ với phân ban, phân luồng trong giáo dục?
Trả lời
1.Chức năng sàng lọc của giáo dục
lớp này được hết sức quan tâm và được tạo điều kiện học tập tốt nhất có thể; do
đó nhiều gia đình giàu có hoặc có địa vị xã hội đã tìm mọi cách cho con cái họ
được vào học trong các trường này, lớp này, gây nên các tiêu cực và sự bất bình
đẳng xã hội trong giáo dục.
22
3.Liên hệ tới vấn đề Phân ban, Phân luồng trong giáo dục của nước ta hiện
nay.
- Nước ta trong giai đoạn vừa qua đã tiến hành thí điểm và thực hiện mô hình
Phân ban trung học phổ thông:
+ Năm 1992 đến 1998 tiến hành thí điểm Phân ban THPT với 3 ban: Ban
Khoa học tự nhiên (ban A), Ban Khoa học tự nhiên – kỹ thuật (ban B), Ban Khoa
học xã hội (ban C) (Năm 1998 Thủ Tướng CP ra chỉ số 30 thị dừng CTTĐPB,
quay lại CTCCGD)
+ Năm 2003 – 2004 tiến hành thí điểm Phân ban THPT mới với 2 ban:
KHTN(ban A), KHXH (ban C). Năm 2005 Bộ GD&ĐT đề nghị điều chỉnh mô
hình PB, bổ sung thêm ban cơ bản.
+ Từ năm 2006 đến nay tiếp tục thực hiện mô hình THPT Phân ban với 3
ban: ban cơ bản, ban khoa học tự nhiên, ban khoa học xã hội và nhân văn (thực tế
hiện nay đa số học sinh chọn học ban cơ bản).
- Sự phân ban, phân luồng trong giáo dục sẽ không tạo ra sự bất bình đẳng
xã hội nếu như nền giáo dục đại học đã được phổ cập, ai có nhu cầu được đi học
đại học đều được đáp ứng và có nhiều hình thức học đại học khác nhau để mọi
người lựa chọn phù hợp với điều kiện từng người, đồng thời việc tuyển chọn nhân
lực lao động trong xã hội không chỉ dựa trên bằng cấp mà còn căn cứ chủ yếu vào
kết quả khảo sát năng lực nghề nghiệp thực tế của từng người. Khi đó sự phân
ban, phân luồng trong giáo dục sẽ giúp cho các cá nhân lựa chọn được những
môn học, ngành học phù hợp với năng lực – sở trường của bản thân, từ đó phát
huy hết được năng lực bản thân, đồng thời có nhiều cơ hội thành công hơn trong
nghề nghiệp sau này.
- Tuy nhiên với đặc điểm xã hội nước ta hiện nay với hệ thống giáo dục có
+ Chức năng cung cấp tri thức và hình thành nhân cách con người.
+ Chức năng kinh tế - sản xuất (rèn luyện kỹ năng kỹ xảo về nghề nghiệp).
24
+ Chức năng chính trị, tư tưởng và văn hoá.
- Quan hệ:
+ Thúc đẩy:
- Thiết chế giáo dục quy định mọi trẻ em từ 6 tuổi đều có quyền được đến
trường.
- Quy định về phổ cập tiểu học, phổ cập THSC.
- Một số quy tắc ứng xử trong giáo dục : Tôn sư trọng đạo…
+ Kìm hãm:
- Quy định chưa nhất quán, khó thực thi.
- Hành lang pháp lý chưa đồng bộ
- Từ sự khác biệt kinh tế vùng miền dẫn đến bất bình đẳng trong gd
- Mắc bệnh thành tích áp lực học hành, thi cử, tình trạng dạy thêm học
thêm…
1.2. Thiết chế kinh tế
- Khái niệm: Kinh tế là TCXH liên quan tới sự quản lý sản xuất và phân phối sản
phẩm.
- Chức năng của thiết chế kinh tế thể hiện trong việc tổ chức sản xuất và kiểm
soát, điều hoà các mối quan hệ sau đây:
+ Quan hệ với tư liệu sản xuất
+ Quan hệ trong tổ chức, quản lý sản xuất
+ Quan hệ trong phân phối lợi ích
- Quan hệ:
+ Thúc đẩy:
- Xóa đói giảm nghèo tạo cơ hội cho giáo dục
- Chính sách cho tổ chức, cá nhân phát triển, đầu tư vào gd
- Nhà nước đầu tư vốn cho gd
- Doanh nghiệp đầu tư đào tạo nghề cho chính doanh nghiệp